Trường đại học kinh tế quốc dân Hà nội * Khoa ngân hàng tài chính
đã khuyến khích sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu, tạo điều kiện thuận lợi
cho hàng xuất khẩu cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
+ Thuế GTGT góp phần thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế của Việt
Nam với khu vực và thế giới.
Như vậy, qua các ưu điểm trên của thuế GTGT ta có thể thấy rõ thuế
GTGT có nhiều ưu điểm. Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng, thuế GTGT đã
bộc lộ một số hạn chế, cụ thể:
+ Nhược điểm dễ thấy của thuế GTGT là tính phức tạp của sổ sách kế
toán ghi chép, lưu giữ và quản lý biên lai hoá đơn chứng từ. Nhưng, nhận
thức của người kinh doanh và tập quán kinh doanh không dùng hoá đơn
chứng từ đã ăn sâu bám rễ không thể ngày một ngày hai có thể thay đổi được.
Do đó, gây khó khăn cho công tác quản lý. Hơn nữa, để thực hiện tốt công tác
khấu trừ và hoàn thuế đòi hỏi việc kiểm tra đối chiếu hoá đơn chứng từ của
người mua và người bán phải được tiến hành kỹ lưỡng. Điều này phụ thuộc
nhiều vào cơ sở vật chất của ngành thuế cũng như trình độ của cán bộ thuế.
Đây là một vấn đề đang gặp nhiều khó khăn chưa thể giải quyết một sớm,
một chiêu được.
+ Thuế GTGT là loại thuế có tính luỹ thoái, do có ít mức thuế suất, nên
người tiêu dùng có thu nhập khác nhau đều phải nộp giống nhau, gây mất
công bằng xã hội.
Qua những ưu điểm và hạn chế cơ bản đã cho thấy những thuận lợi và
khó khăn trong công tác quản lý thuế GTGT. Trong đó, công tác quản lý thuế
GTGT tiến hành đối với hộ cá thể bao gồm quản lý hộ kê khai và quản lý hộ
khoán. Sau đây Em xin đi sâu vào nghiên cứu các nội dung cơ bản của luật
thuế GTGT áp dụng đối với hộ kinh doanh cá thể nộp thuế theo kê khai để
thấy rõ hơn vấn đề này, từ đó đưa ra các nhận xét cần thiết.
1.1.1.4. Những nội dung cơ bản của luật thuế GTGT.
Người nộp thuế
Trường đại học kinh tế quốc dân Hà nội * Khoa ngân hàng tài chính
Theo quy định tại điều 2 - Luật thuế GTGT và điều 2 - Nghị định
số 158/2003/ NĐ - CP của Chính phủ, đối tượng chịu thuế GTGT là hàng
hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam, trừ
29nhóm mặt hàng không thuộc diện chịu thuế GTGT theo quy định.
Người nộp thuế
Người nộp thuế GTGT là các cá nhân, hộ gia đình có hoạt động sản
xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT ở Việt Nam, không phân
biệt ngành nghề, hình thức tổ chức kinh doanh (gọi chung là Người nộp
thuế).
Căn cứ tính thuế
Căn cứ tính thuế GTGT đối với Người nộp thuế là giá tính thuế và thuế
suất.
+ Giá tính thuế GTGT: là giá bán của hàng hoá, dịch vụ bán ra chưa có
thuế GTGT (phương pháp khấu trừ), hoặc giá thanh toán đã có thuế GTGT
(phương pháp trực tiếp).
+ Thuế suất
Các mức thuế suất được quy định trong Luật thuế GTGT bao gồm 03
mức:
- Mức 0%: áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu.
- Mức 5%: áp dụng đối với hàng hoá dịch vụ thiết yếu, phục vụ cho sản
xuất và tiêu dùng.
- Mức 10%: áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ thông thường.
Phương pháp tính thuế
Phương pháp khấu trừ thuế
- Đối tượng áp dụng: phương pháp này áp dụng đối với các hộ cá thể
đã thực hiện đầy đủ các yêu cầu về mở và ghi sổ kế toán, chấp hành đầy đủ
các quy định của chế độ hoá đơn chứng từ, tự nguyện nộp thuế theo phương
pháp khấu trừ và đã được cơ quan thuế chấp nhận.
- Cách xác định thuế GTGT phải nộp:
Trường đại học kinh tế quốc dân Hà nội * Khoa ngân hàng tài chính
Thuế
GTGT
phải nộp
=
Thuế GTGT
đầu ra
-
Thuế GTGT đầu vào
được khấu trừ
Trong đó:
Thuế
GTGT
đầu ra
=
Giá tính thuế của
hàng hoá dịch vụ bán
ra
x
Thuế suất thuế GTGT
của hàng hoá đó
Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ là số thuế GTGT ghi trên hoá đơn
GTGT của hàng hoá dịch vụ mua vào; ghi chứng từ nộp thuế GTGT hàng hoá
nhập khẩu dùng vào sản xuất kinh doanh hàng hoá chịu thuế GTGT hoặc
chứng từ nộp thuế GTGT thay cho bên nước ngoài và trên các hóa đơn,
chứng từ đặc thù.
Phương pháp tính trực tiếp trên GTGT
- Đối tượng áp dụng: phương pháp này áp dụng đối với các hộ chưa
thực hiện đầy đủ chế độ hoá đơn, chứng từ để làm căn cứ tính thuế theo
phương pháp khấu trừ và hộ kinh doanh mua, bán vàng, bạc, đá quý, ngoại tệ
- Xác định thuế GTGT phải nộp
Số thuế
GTGT
phải nộp
=
GTGT của hàng hoá
dịch vụ chịu thuế bán
ra
x
Thuế suất thuế GTGT
hàng hoá dịch vụ đó
GTGT của hàng
hoá, dịch vụ bán ra
=
Doanh số của hàng hoá,
dịch vụ chịu thuế bán ra
-
Giá vốn của hàng
hoá chịu thuế bán ra
- Phương pháp xác định GTGT làm căn cứ tính thuế GTGT phải nộp
đối với từng cơ sở kinh doanh như sau:
+ Đối với cơ sở kinh doanh đã thực hiện đầy đủ việc mua, bán hàng
hoá, dịch vụ có hoá đơn, chứng từ ghi chép sổ sách kế toán thì GTGT được
xác định căn cứ vào giá mua, giá bán ghi trên chứng từ.
Trường đại học kinh tế quốc dân Hà nội * Khoa ngân hàng tài chính
+ Đối với cơ sở kinh doanh đã thực hiện đầy đủ hoá đơn, chứng từ bán
hàng hoá, dịch vụ, xác định được đúng doanh thu bán hàng hoá, dịch vụ theo
hoá đơn bán hàng hoá, dịch vụ nhưng không có đủ hoá đơn mua hàng hoá,
dịch vụ hoặc chưa thực hiện chế độ kế toán, không xác định được doanh số
mua vào của hàng hoá bán ra thì GTGT được xác định bằng doanh thu nhân
(x) với tỷ lệ phần trăm (%) GTGT tính trên doanh thu.
1.3. Thất thu thuế và sự cần thiết phải hạn chế thất thu thuế GTGT đối
với kinh tế cá thể trên địa bàn huyện Sơn Dươg.
1.3.1. Đặc điểm và vai trò của kinh tế cá thể.
Từ quan điểm của Đảng ta cho thấy kinh tế cá thể có đặc điểm:
- Là loại hình có số lượng lao động hơn hẳn so với với những loại hình
thức tổ chức sản xuất khác. Bản thân số lượng mày không phải là yếu tố
quyết định song lại là cơ sở hình thành tính phong phú đa dạng không đồng
nhất của hoạt động kinh tế diễn ra ở tất cả các hộ kinh doanh cá thể.
- Phạm vi hoạt động kinh tế cá thể tương đối rộng lớn và đa dạng, được
phát triển ở mọi ngành nghề, phân bổ rộng từ khắp từ thành thị đến nông
thôn, từ đồng bằng đến miến núi và diễn ra trên mọi lĩnh vực sản xuất
thương nghiệp dịch vụ. Điều này chứng tỏ Nhà nước có số thu thuế từ khu
vực kinh tế cá thể trên phạm vi rộng.
- Kinh tế cá thể có thể tồn tại độc lập hoặc cũng có thể tham gia vào
các lĩnh vực khác như: hợp tác xã, liên doanh liên kết Quy mô của các hộ
kinh tế nhin chung không lớn khoảng trung bình từ 5 đến 6 lao động.
Cùng với sự phát triển của các thành phần kinh tế khác, kinh tế cá thể
được coi là bộ phận hỗ trợ hết sức quan trọng đối với nền kinh tế. Kinh tế cá
thể tồn tại là một tất yếu khác quan xuất phát từ yêu cầu của xã hội và ngày
càng khẳng định vai trò to lớn của nó:
- Kinh tế cá thể đã và sẽ tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm cho xã hội,
đáp ứng cho nhu cầu đời sống sinh hoạt của nhân dân, cung cấp các yếu tố
đầu vào của quá trình sản xuất, làm cầu nối giữa sản xuất và lưu thông tiêu
Trường đại học kinh tế quốc dân Hà nội * Khoa ngân hàng tài chính
dùng, tạo điều kiện cho việc lưu thông hàng hóa tiền tệ trong nền kinh tế
nhanh chóng và có hiệu quả. Tham gia hỗ trợ những mặt mà kinh tế quốc
doanh và các thành phần kinh tế khác chưa giải quyết được.
- Kinh tế cá thể đã góp phần to lớn để tạo công ăn việc làm. Khu vực
quốc doanh ở nước Việt Nam tạo việc làm khoảng 11% trong tổng số lực
lượng lao động. Gần 90% lao động làm việc ở khu vực ngoài quốc doanh. Có
rất nhiều hình thức thu hút lao động ngoài quốc doanh: Donh nghiệp tư nhân,
cá nhân tự tạo việc làm, lao động làm thuế theo vụ việc, mua vụ song cho
tới nay phổ biến nhất vẫn là hộ kinh tế cá thể. Bởi vì, hiện nay ở nước Việt
Nam có khoảng 1,9 triệu hộ cá thể. Nếu cứ tính trung bình mỗi hộ sử dụng 2
lao động thì tổng cộng đã giải quyết được 3 triệu lao động mà còn có tác
động đến vấn đề an ninh xã hội và gánh nặng chi tiêu của Nhà nước, để giải
quyết vấn đề thất nghiệp và tệ nạn xã hội do không có việc làm tạo nên.
- Kinh tế cá thể ngày càng phát triển góp phần làm tăng tổng sản phẩm
xã hội và đã đóng một phần thu nhập vào ngân sách Nhà nước đáp ứng cho
nhu cầu chi tiêu ngày càng lớn của Nhà nước.
Kinh tế cá thể nắm giữ một khối lượng vốn lớn trong nền kinh tế và có
khả năng huy động được nhiều vốn. Ước tính mỗi người dân Việt Nam có
khoảng gần 2 chỉ vàng tiết kiệm. Nếu như lượng vốn này được tham gia vào
SXKD thì hiệu quả kinh tế của xã hội tăng lên, thúc đẩy mở rộng sản xuất,
kích thích tiêu dùng. Từ đó thu hút vốn đầu tư của các thành phần kinh tế
khác. Ngược lại, những thành phần kinh tế khác bị thiếu vốn để mở rộng
SXKD thì có thể cho vay giảm bớt chi phí tiền vay khi phải vay của nước
ngoài như hiện nay. Bên cạnh những mặt tích cực kinh tế cá thể có một số
hạn chế dẫn đến việc tổ chức, quản lý đối tượng này gặp rất nhiều khó khăn.
Với nguồn vốn huy động tùy thuộc vào ngành nghề và mặt hàng SXKD đã
tạo nên sự đa dạng trong nguồn vốn dẫn tới khó khăn trong công tác quản lý
thu thuế đối với hộ kinh tế cá thể và góp phần không nhỏ trong việc làm tăng
Trường đại học kinh tế quốc dân Hà nội * Khoa ngân hàng tài chính
số lượng thuế bị thất thu, vì khó xác định được một cách chính xac quy mô
vốn và quy mô kinh doanh.
1.2.2 Sự cần thiết phải hạn chê thất thu thuế GTGT đối với các hộ cá thể
1.2.2.1. Thất thu thuế và ảnh hưởng của thất thu thuế
Thất thu thuế:
Là hiện tượng số thực thu vào Ngân sách Nhà nước thấp hơn so với số
thuế lẽ ra phải thu được trong một khoảng thời gian nhất định.
Quan hệ pháp luât thuế là mối quan hệ lợi ích giữa một bên là Nhà
nước và một bên là Người nộp thuế. Việc xử lý hài hòa mối quan hệ này là
hết sức khó khăn và phức tạp đối với các nhà hoạch định chính sách thuế. Về
căn bản một chính sách thuế hợp lý thì phải đảm bảo được lới ích của Nhà
nước, vừa phải được sự đồng tình của quần chúng nhân dân. Thất thu thuế đã
nảy sinh từ việc giải quyết mối quan hệ này.
Thất thu thuế có hai dạng chính:
Thất thu thuế tiềm năng: có thể hiểu là những khoản tiền được thuộc
khả năng tiềm tàng trong nền kinh tế đáng lẽ phải được bồi dưỡng, khai thác,
động viên kịp thời vào ngân sách Nhà nước nhưng chưa được Nhà nước quy
định trong luật thuế.
Thất thu thuế thực; chính là những khoản phải thu vào Ngân sách nhà
nước đã được qui định trong luật nhưng thực tế lại chưa được thực thi hoặc
thực thi nhưng kết quả nhỏ hơn kết quả phải đạt được.
Nguyên nhân của thất thu thuế:
- Thất thu thuế do trong chính sách chế độ còn nhiều kẽ hở, chưa bao
quát hết các nguồn thu, một số quy định chưa cụ thể, rõ ràng có thể hiểu theo
nhiều nghĩa khác nhau hoặc cách xác định thuế phức tạp và thuế suất cao là
nguyên nhân thúc đẩy đối tượng nộp thuế trốn thuế hoặc liên kết với nhau tạo
ra các hoạt động kinh tế giả để được giảm số thuế phải nộp hay được hưởng
lợi từ thuế.
Trường đại học kinh tế quốc dân Hà nội * Khoa ngân hàng tài chính
- Thất thu thuế do trình độ quản lý của cơ quan thuế yếu và tổ chức bộ
máy chưa khoa học dẫn tới công việc kém. Đồng thời, còn do trình độ chuyên
môn của cán bộ thuế chưa cao dẫn đến việc vận dụng sai luật thuê hoặc
không thể phát hiện ra những mâu thuẫn.
- Thất thu do ý thức chấp hành luật thuế của người nộp thuế: trong nền
kinh tế thị trường, mục tiêu phấn đấu của các nhà kinh tế là lợi nhuận tối đa.
Do vậy, họ luôn tìm cách để tăng lợi nhuận và giảm tối thiểu chi phí trong
hoạt động SXKD của mình. Với việc cho rằng nộp thuế cho Nhà nước đã làm
giảm đi quyền lợi vật chất mà lẽ ra họ được hưởng. Cho nên vì lợi ích trước
mắt và riêng của mình họ luôn có tư tưởng và hành động không tuân thủ pháp
luật về thuế, tìm mọi cách để không phải nộp thuế hoặc nộp với mớc thấp
nhất so với nghĩa vụ phải nộp theo quy định trong các luật thuế.
ảnh hưởng của thất thu thuế
Qua tìm hiểu nguyên nhân thất thu thuế và các dạng thất thu thuế
chúng ta có thể thấy rằng thất thu thuế có ảnh hưởng rất lớn tới mọi mặt tài
chính, kinh tế, xã hội của đất nước. Nghiên cứu ảnh hưởng của thất thu thuế
đối với những lĩnh vực trên sẽ cho thấy được sự cần thiết phải tăng cường hạn
chế thất thu thuế.
+ Về mặt tài chính và kinh tế:
Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước và thường chiếm
tỷ trọng trung bình từ 85%- 90% trong cơ cấu nguồn thu của Ngân sách. Thất
thu thuế làm ảnh hưởng tới thu Ngân sách Nhà nước. Để phục vụ cho nhu cầu
phát triển kinh tế xã hội Ngân sách Nhà nước cần một lượng vốn rất lớn. Thất
thu thuế sẽ tạo gánh nặng cho Ngân sách Nhà nước đồng thời tạo ra những
tác động xấu về mặt xã hội.
+ Về mặt xã hội:
Một trong những mục tiêu quan trọng của thuế góp phần thực hiện
công bằng xã hội trong động viên đóng góp. Tình trạng thất thu thuế sẽ tạo
điều kiện cho những hoạt động SXKD trái pháp luật ảnh hưởng không tốt cho
Trường đại học kinh tế quốc dân Hà nội * Khoa ngân hàng tài chính
việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của những người kinh doanh chính đáng, gây
ra nhiều tiêu cực xã hội. Bên cạnh đó thất thu thuế còn ảnh hưởng tới tính
pháp lý của các luật thuế, các pháp lệnh thuế.
Chính vì vậy, chống thất thu thuế là một yêu cầu tất yếu khách quan
nhằm đảm bảo ổn định và tăng thu ngân sách nhà nước, giúp nhà nước thực
hiện tốt chức năng nhiệm vụ của mình. Đồng thời chống thất thu thuế hiệu
quả sẽ giúp cho mội quốc gia việc tạo môi trường kinh tế, xã hội ổn định,
thúc đẩy sản xuất phát triển.
1.2.2.2. Quy trình quản lý thuế GTGT đối với kinh doanh cá thể.
Hộ kinh doanh cá thể nộp thuế theo phương pháp trực tiếp được quản
lý theo quy trình 1201/TCT/QĐ/TCCB ngày 26/07/2004 của Tổng cục thuế.
Quy trình đăng ký thuế
Đây là khâu đầu tiên trong công tác quản lý thu thuế, việc kê khai đăng
ký thuế của Người nộp thuế tạo điều kiện cho Chi cục thuế nắm được số hộ
kinh doanh trên địa bàn từ đó lập sổ bộ thuế. Cán bộ thuế nhận tờ khai đăng
ký thuế của đối tượng nộp thuế, kiểm tra tờ khai và nếu phát hiện hộ không
có giấy phép đăng ký kinh doanh thì phải yêu cầu đăng ký ngay và có hình
thức xử phạt hành chính. Quy trình này bao gồm các bước sau:
- Hướng dẫn hộ kinh doanh kê khai đăng ký thuế.
Nhận, kiểm tra hồ sơ đăng ký thuế: Đội thuế nhận và kiểm tra hồ sơ
đăng ký thuế của hộ kinh doanh theo mẫu số 01/HKD và lập phiếu hẹn theo
mẫu số 02/HKD trong đó ghi rõ ngày nhận và hẹn thời gian trả Giấy chứng
nhận đăng ký thuế cho Hộ kinh doanh không quá 10 ngày làm việc kể từ
ngày đội thuế nhận được hồ sơ đầy đủ, hợp lệ của hộ kinh doanh.
- Nhập và xử lý hồ sơ đăng ký thuế.
In giấy chứng nhận đăng ký thuế, gửi giấy chứng nhận đăng ký thuế cho
hộ kinh doanh.
- Lập sổ danh bạ hộ kinh doanh.
Trường đại học kinh tế quốc dân Hà nội * Khoa ngân hàng tài chính
Qua sự tìm hiểu phải phân tích những vấn đề thất thu thuế GTGT đối
với hộ kinh tế cá thể cho thấy: Thất thu thuế nói chung và thất thu thuế
GTGT đối với hộ kinh tế cá thể noi riêng có ảnh hưởng nghiêm trọng đến các
vấn đề kinh tế xã hội của đất nước. Chống thất thu thuế là một yêu cầu cần
thiết khách quan xuất phát từ thực trạng thất thu thuế hiện nay, từ yêu cầu
đảm bảo công bằng xá hội và số thu cho Nhà nước.
Thực hiện tốt công tác chống thất thu thuế sẽ phát huyđược vai trò, tác
dụng của thuế và chức năng quản lý nền kinh tế của Nhà nước, thực hiện
thắng lợi mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh. Chính vì
vậy từng cấp cơ sở quản lý thu thuế cũng cần có những biện pháp quản lý
riêng phù hợp với tình trạng thất thu thuế ở khu vực đó, góp phần chống thất
thu thuế, ngăn chặn sự mất mát Ngân sách không đáng có trong mọi thành
phần kinh tế, trong đó chống thất thu thuế GTGT đối với thành phần kinh tế
cá thể là một nhiệm vụ rất quan trọng và khó khăn.
Trường đại học kinh tế quốc dân Hà nội * Khoa ngân hàng tài chính
Chương II
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HẠN CHẾ THẤT THU THUẾ GTGT
ĐỐI VỚI HỘ KINH TẾ CÁ THỂ NỘP THUẾ THEO PHƯƠNG PHÁP TRỰC
TIẾP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN SƠN DƯƠNG.
2.1. Đặc Điểm kinh tế xã hội và cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý thu thuế
trên địa bàn huyện Sơn Dương.
2.1.1. Đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội ở huyện Sơn Dương.
Sơn Dường là huyện nằm ở phía Đông nam của tỉnh Tuyên Quang, có dân cư
đông so với các huyện trong tỉnh. Địa giới hành chính huyện Sơn Dương
được chia thành 3 khu vực thượng huyện, trung huyện, hạ huyện gồm 33 xã 1
thị trấn có địa bàn khá rộng.
Trên địa bàn huyện Sơn Dương có nhiều cơ sở kinh tế, cơ quan của
Nhà nước. Trong những năm qua kinh tế ngoài quốc doanh phát triển nhanh,
chiếm tỷ trọng đáng kể trong phát triển kinh tế của huyện, là nơi giải quyết
việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống dân cư.
Một trong những đại biểu nổi bật của Sơn Dương là xã Sơn Nam có tốc
độ đô thị hóa nhanh. Một mặt phố phường ngày một đổi thay, nhiều đường
phố và khu Nhà nước được xây dựng, làm cảnh quan đô thị thêm sầm uất.
Nhiều cơ sở kinh tế cá thể mới nảy sinh và phát triển.
Trong thời gian qua, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế ngoài quốc
doanh về sản xuất, dịch vụ, thương mại đã có tác động lớn đến việc thực hiện
nhiệm vụ thu hàng năm. Chi cục thuế huyện Sơn Dương bằng sự nỗ lực phấn
đấu trong công tác quản lý thu thuế, tổ chức sắp xếp cán bộ hợp lý, biết tranh
thủ chỉ đạo của huyện uỷ, UBND huyện và Cục thuế Tuyên Quang, đồng thời
phối kết hợp tốt với các cơ quan ban ngành chức năng có liên quan. Chi Cục
thuế huyện Sơn Dương đã đạt được những thành tích nhất định.
Cơ cấu: Gồm có 33 xã và một thị trấn . dân số170.255người có dân số đông
so vơi các huỵên trong tỉnh đông. Địa ly tự nhiên 78.925ha địa bàn rộng có
tới 75% diện tích là đồi núi cao,sông, suối, giao thông đi lại khó khăn tổng
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét