Thứ Năm, 23 tháng 1, 2014

Phát triển các dịch vụ ngân hàng thương mại Việt Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế

-5-
5. Phương pháp nghiên cứu luận văn
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận một cách có hệ
thống của vấn đề cần nghiên cứu:
Khi nghiên cứu luận văn, phương pháp nghiên cứu dữ liệu thứ cấp được
vận dụng để đánh giá thực trạng hoạt động dòch vụ của các ngân hàng thương
mại Việt Nam trong các năm qua cho đến hiện nay và so sánh với hệ thống ngân
hàng của các nước phát triển khác.
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, tức đưa
ra đònh hướng và đề xuất các giải pháp phát triển dòch vụ ngân hàng trên cơ sở
đã phân tích thực trạng và những nguyên nhân tồn tại của hệ thống dòch vụ ngân
hàng thương mại Việt Nam nhằm đánh giá được bản chất của vấn đề đang
nghiên cứu.
6. Ý nghóa của việc nghiên cứu đề tài
Dòch vụ ngân hàng hết sức đa dạng, với nhu cầu ngày càng cao của xã hội
thì dòch vụ ngân hàng cũng không ngừng cải tiến về chất lượng và phát triển về
số lượng, nên không thể giới hạn hay nêu cụ thể tất cả các dòch vụ mà ngân
hàng thương mại Việt Nam cần phải thực hiện bởi môi trường hoạt động, năng
Dòch vụ ngân hàng là gì và vì sao phải phát
triển dòch vụ ngân hàng khi nền kinh tế
Việt Nam hội nhập quốc tế
Thực trạng của hệ thống dòch vụ ngân hàng
Việt Nam khi so sánh với các nước phát
triển và tìm hiểu nguyên nhân của nó

Đònh hướng để phát triển dòch vụ
ngân hàng và các giải pháp cụ thể
-6-
lực hoạt động của mỗi ngân hàng là khác nhau. Đề tài nghiên cứu cần hướng
đến là làm thế nào để dòch vụ ngân hàng ngày càng trở nên đa năng và hiện đại
trong thời kỳ Việt Nam hội nhập nền kinh tế quốc tế.
7. Nội dung luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm 3 chương:
- Chương 1 – Tổng quan về dòch vụ ngân hàng thương mại Việt Nam.
- Chương 2 – Hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam một năm sau gia nhập
WTO.
- Chương 3 – Các khuynh hướng ảnh hưởng đến hoạt động ngân hàng và đề xuất
giải pháp phát triển các dòch vụ của ngân hàng thương mại Việt Nam.
-7-
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
1.1. Ngân hàng thương mại :
1.1.1 Khái niệm
Đạo luật Ngân hàng của Cộng hòa Pháp 1941 đã đònh nghóa : “ Ngân
hàng thương mại là những cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc
của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác, và sử dụng
nguồn lực đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài
chính”.
Nghò đònh của Chính phủ số 49/2000/NĐ-CP ngày 12/9/2000 đònh nghóa:
“ Ngân hàng thương mại là ngân hàng được thực hiện toàn bộ họat động ngân
hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận, góp
phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của Nhà nước ”.
1.1.2 Các lọai hình ngân hàng thương mại
1.1.2.1 Phân lọai theo hình thức sở hữu
- Ngân hàng thương mại quốc doanh
- Ngân hàng thương mại cổ phần
- Ngân hàng thương mại liên doanh
- Chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài
- Ngân hàng thương mại nước ngoài
1.1.2.2 Căn cứ vào sản phẩm ngân hàng cung cấp cho khách hàng
- Ngân hàng bán buôn
- Ngân hàng bán lẻ
- Ngân hàng vừa bán buôn vừa bán lẻ
1.1.2.3 Căn cứ vào lónh vực hoạt động
- Ngân hàng chuyên doanh
-8-
- Ngân hàng đa năng
1.2 Các dòch vụ ngân hàng :
1.2.1 Khái niệm
1.2.1.1 Nghiệp vụ ngân hàng
Nghiệp vụ ngân hàng là việc cụ thể hóa các họat động chủ yếu mà Luật
các tổ chức tín dụng cho phép ngân hàng thương mại có thể thực hiện.
Các nghiệp vụ ngân hàng gồm :
+ Các nghiệp vụ trong bảng tổng kết tài sản
+ Các nghiệp vụ ngoài bảng tổng kết tài sản
1.2.1.2 Dòch vụ ngân hàng
Cho đến nay, ở nước ta vẫn chưa có một khái niệm nào được nêu cụ thể về
dòch vụ ngân hàng. Có không ít quan niệm cho rằng dòch vụ ngân hàng không
thuộc phạm vi kinh doanh tiền tệ và các hoạt động nghiệp vụ ngân hàng theo
chức năng của một trung gian tài chính ( huy động tiền gởi, cho vay…), chỉ
những hoạt động ngân hàng không thuộc nội dung trên mới gọi là dòch vụ ngân
hàng như dòch vụ chuyển tiền, thu hộ ủy thác, mua bán hộ, môi giới kinh doanh
chứng khoán … Một số khác lại cho rằng tất cả hoạt động của ngân hàng phục
vụ cho khách hàng là cá nhân và doanh nghiệp đều gọi là dòch vụ ngân hàng.
Ngay cả Hệ thống tài khoản kế toán của ngân hàng hiện nay cũng đã có
sự phân biệt dòch vụ ngân hàng không có hoạt động từ tín dụng và các ngân
hàng thương mại khi công bố thông tin về tỷ lệ thu dòch vụ trên tổng thu nhập
cũng đã bao hàm thu dòch vụ không có thu nhập từ tín dụng. Đối với hoạt động
huy động vốn và cho vay, các ngân hàng thường tránh né sử dụng thuật ngữ
“dòch vụ” mà thay vào đó là cụm từ “sản phẩm”.
Theo Luật các tổ chức tín dụng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban
hành, dòch vụ ngân hàng cũng không được đònh nghóa và giải thích cụ thể. Tại
khoản 1 và khoản 7, điều 20 thì hoạt động kinh doanh tiền tệ và dòch vụ ngân
-9-
hàng bao hàm cả ba nội dung: nhận tiền gởi, cấp tín dụng và cung ứng dòch vụ
thanh toán, nhưng đâu là kinh doanh tiền tệ và đâu là dòch vụ ngân hàng thì vẫn
chưa được phân đònh rõ ràng.
Như vậy, dòch vụ ngân hàng sẽ được hiểu theo hai nghóa: nghóa rộng và
nghóa hẹp.
Theo nghóa rộng, lónh vực dòch vụ ngân hàng là toàn bộ hoạt động tiền tệ,
tín dụng, thanh toán, ngoại hối…của hệ thống ngân hàng đối với khách hàng là
doanh nghiệp và cá nhân ( nhưng không bao gồm hoạt động tự làm cho mình của
các tổ chức tín dụng ). Quan niệm này được sử dụng để xem xét lónh vực dòch vụ
ngân hàng trong cơ cấu của nền kinh tế quốc dân của một quốc gia. Quan niệm
này phù hợp với cách phân ngành dòch vụ ngân hàng trong dòch vụ tài chính của
WTO và của Hiệp đònh thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, cũng như của nhiều
nước phát triển trên Thế giới.
Theo nghóa hẹp, dòch vụ ngân hàng chỉ bao gồm những hoạt động ngoài
chức năng truyền thống của đònh chế tài chính trung gian ( huy động vốn và cho
vay ). Quan niệm này chỉ nên dùng trong phạm vi hẹp, khi xem xét hoạt động
của một ngân hàng cụ thể để xem các dòch vụ mới, phát triển như thế nào, cơ
cấu ra sao trong hoạt động của mình.
Khi nói lónh vực dòch vụ ngân hàng đối với nền kinh tế, các nước đều
quan niệm dòch vụ ngân hàng theo nghóa rộng. Trong thực tế, một ngân hàng bán
lẻ lớn thường có trên 300 dòch vụ khác nhau cho khách hàng cá nhân hay doanh
nghiệp. Dòch vụ ngân hàng ngày càng hiện đại và không có giới hạn khi nền
kinh tế ngày càng phát triển, xã hội ngày càng văn minh và nhu cầu của con
người ngày càng cao và đa dạng.
Theo Tổ chức thương mại Thế Giới ( WTO ): một dòch vụ tài chính là bất
kỳ dòch vụ nào có tính chất tài chính, được một nhà cung cấp dòch vụ tài chính
cung cấp. Dòch vụ tài chính bao gồm mọi dòch vụ bảo hiểm và dòch vụ liên quan
-10-
đến bảo hiểm, mọi dòch vụ ngân hàng và dòch vụ tài chính khác ( ngoại trừ bảo
hiểm). Như vậy dòch vụ ngân hàng là một bộ phận cấu thành nên dòch vụ tài
chính và cũng khó phân đònh rõ đâu là dòch vụ ngân hàng và đâu là dòch vụ tài
chính như :
- Nhận tiền gởi
- Tất cả các loại hình cho vay
- Cho thuê tài chính
- Dòch vụ thanh toán và chuyển tiền
- Bảo lãnh và cam kết
- Buôn bán cho chính tài khoản của mình hoặc cho tài khoản của người tiêu
dùng hoặc là tại sở giao dòch, tại thò trường phi tập trung hoặc ở các nơi khác các
sản phẩm sau: các công cụ của thò trường tiền tệ, ngoại tệ, các sản phẩm phái
sinh, tỷ giá và các công cụ lãi suất, các chứng khoán chuyển nhượng được, các
công cụ mua bán được khác và các tài sản chính
- Tham dự vào tất cả các vấn đề liên quan đến chứng khoán, bao gồm nhận
bảo lãnh và đầu tư như một đại lý và cung cấp các dòch vụ có liên quan
- Môi giới tiền tệ
- Quản lý tài sản
- Các dòch vụ thanh toán đối với tài sản chính
- Các dòch vụ tư vấn và phụ trợ khác
- Cung cấp và chuyển thông tin tài chính và xử lý các dữ liệu tài chính và
phần mềm liên quan được cung cấp bởi các nhà cung ứng dòch vụ tài chính khác.
Hiệp đònh thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ và Hiệp đònh khung ASEAN về
dòch vụ ( AFAS ) đã được ký kết cũng hiểu và phân loại dòch vụ tài chính ( trong
đó có dòch vụ ngân hàng ) tương tự như WTO.
Tóm lại, dòch vụ ngân hàng là một bộ phận của dòch vụ tài chính và cần
phải được hiểu theo nghóa rộng như Luận văn đã đề cập ở phần trên.
-11-
1.2.1.3 Phân biệt nghiệp vụ ngân hàng và dòch vụ ngân hàng
Nghiệp vụ ngân hàng là các công việc chuyên môn mà cán bộ, công nhân
viên chức ngành ngân hàng phải thực hiện trong quá trình tác nghiệp. Dòch vụ
ngân hàng là các công việc ngân hàng phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất
đònh của các cá nhân, tổ chức và được thu phí.
1.2.2 Các loại dòch vụ ngân hàng
Dòch vụ ngân hàng là một bộ phận của dòch vụ tài chính nên dòch vụ ngân
hàng rất đa dạng. Với nhu cầu ngày càng cao của xã hội, dòch vụ ngân hàng
ngày càng phát triển kể cả về mặt lượng và chất, nên không thể thống kê hết
toàn bộ các dòch vụ ngân hàng. Mặt khác việc áp dụng từng loại dòch vụ ngân
hàng còn tuỳ thuộc vào năng lực, quy mô… của từng ngân hàng khác nhau và tập
quán, thói quen, cách sống, thu nhập của người dân nhưng cơ bản dòch vụ ngân
hàng bao gồm những loại dòch vụ như huy động tiền gởi, cấp tín dụng, dòch vụ
thanh toán và ngân quỹ và các dòch vụ khác.
1.2.2.1 Dòch vụ truyền thống của ngân hàng
a/- Thực hiện trao đổi ngoại tệ. Lòch sử cho thấy rằng một trong những dòch
vụ ngân hàng đầu tiên được thực hiện là trao đổi ngoại tệ - một nhà ngân hàng
đứng ra mua, bán một loại tiền này, chẳng hạn USD lấy một loại tiền khác,
chẳng hạn Euro hay Pesos và hưởng phí dòch vụ. Sự trao đổi đó là rất quan trọng
đối với khách du lòch vì họ sẽ cảm thấy thuận tiện và thoải mái hơn khi có trong
tay đồng bản tệ của quốc gia hay thành phố họ đến. Trong thò trường tài chính
ngày nay, mua bán ngoại tệ thường chỉ do các ngân hàng lớn nhất thực hiện bởi
vì những giao dòch như vậy có mức độ rủi ro cao, đồng thời yêu cầu phải có trình
độ chuyên môn cao.
b/- Chiết khấu thương phiếu và cho vay thương mại. Ngay ở thời kỳ đầu, các
ngân hàng đã chiết khấu thương phiếu mà thực tế là cho vay đối với các doanh
-12-
nhân đòa phương những người bán các khoản nợ ( khoản phải thu ) của khách
hàng cho ngân hàng để lấy tiền mặt. Đó là bược chuyển tiếp từ chiết khấu
thương phiếu sang cho vay trực tiếp đối với các khách hàng, giúp họ có vốn để
mua vật tư, hàng hóa dự trữ hoặc mua sắm thiết bò sản xuất và xây dựng văn
phòng .
c/- Nhận tiền gửi. Cho vay được coi là hoạt động sinh lời cao, do đó các ngân
hàng đã tìm kiếm mọi cách để huy động nguồn vốn cho vay. Một trong những
nguồn vốn quan trọng là các khoản tiền gửi tiết kiệm của khách hàng – một quỹ
sinh lợi được gửi tại ngân hàng trong khoảng thời gian nhiều tuần, nhiều tháng,
nhiều năm, đôi khi được hưởng mức lãi suất tương đối cao. Trong lòch sử đã có
những kỷ lục về lãi suất, chẳng hạn các ngân hàng Hy Lạp đã trả lãi suất 16%
một năm để thu hút các khoản tiết kiệm nhằm mục đích cho vay đối với các chủ
tàu ở Đòa Trung Hải với lãi suất gấp đôi hay gấp ba lãi suất tiết kiệm.
d/- Bảo quản vật có giá trò: Ngay từ thời Trung Cổ, các ngân hàng đã bắt đầu
thực hiện việc lưu giữ vàng và các vật có giá khác cho khách hàng trong kho bảo
quản. Một điều hấp hẫn là các giấy chứng nhận do ngân hàng ký phát cho khách
hàng ( ghi nhận về các tài sản đang được lưu giữ ) có thể được lưu hành như tiền
– đó là hình thức đầu tiên của séc và thẻ tín dụng. Ngày nay, nghiệp vụ bảo
quản vật có giá trò cho khách hàng thường do phòng “Bảo quản” của ngân hàng
thực hiện.
e/- Tài trợ các hoạt động của Chính phủ. Trong thời kỳ Trung Cổ và vào
những năm đầu cách mạng Công nghiệp, khả năng huy động và cho vay với
khối lượng lớn của ngân hàng đã trở thành trọng tâm chú ý của các Chính phủ
Âu – Mỹ. Thông thường, ngân hàng được cấp giấy phép thành lập với điều kiện
là họ phải mua trái phiếu Chính phủ theo một tỷ lệ nhất đònh trên tổng lượng
tiền gửi mà ngân hàng huy động được. Các ngân hàng đã cam kết cho Chính phủ
Mỹ vay trong thời kỳ chiến tranh. Ngân hàng Bank of North America được Quốc
-13-
hội cho phép thành lập năm 1781, ngân hàng này được thành lập để tài trợ cho
cuộc đấu tranh xóa bỏ sự đô hộ của nước Anh và đưa Mỹ trở thành quốc gia có
chủ quyền. Cũng như vậy, trong thời kỳ nội chiến, Quốc hội đã lập ra một hệ
thống ngân hàng liên bang mới, chấp nhận các ngân hàng quốc gia ở mọi tiểu
bang miễn là các ngân hàng này phải lập Quỹ phục vụ chiến tranh.
f/- Cung cấp các tài khoản giao dòch. Cuộc cách mạng công nghiệp ở Châu
Âu và Châu Mỹ đã đánh dấu sự ra đời những hoạt động và dòch vụ ngân hàng
mới. Một dòch vụ mới, quan trong nhất được phát triển trong thời kỳ này là tài
khoản tiền gửi giao dòch ( demand deposit ) – một tài khoản tiền gửi cho phép
người gửi tiền viết séc thanh toán cho việc mua hàng hóa và dòch vụ. Việc đưa
ra loại tài khỏan tiền gửi mới này được xem là một trong những bước đi quan
trọng nhất trong công nghiệp ngân hàng bởi vì nó cải thiện đáng kể hiệu quả của
quá trình thanh toán, làm cho các giao dòch kinh doanh trở nên dễ dàng hơn,
nhanh chóng hơn và an toàn hơn.
g/- Cung cấp dòch vụ ủy thác. Từ nhiều năm nay, các ngân hàng đã thực hiện
việc quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính cho cá nhân và doanh nghiệp
thương mại. Theo đó ngân hàng sẽ thu phí trên cơ sở giá trò của tài sản hay quy
mô họ quản lý. Chức năng quản lý tài sản này được gọi là dòch vụ ủy thác ( trust
service ). Hầu hết các ngân hàng đều cung cấp cả hai loại: dòch vụ ủy thác thông
thường cho cá nhân, hộ gia đình; và ủy thác thương mại cho các doanh nghiệp.
Thông qua phòng Ủy thác cá nhân, các khách hàng có thể tiết kiệm các khoản
tiền để cho con đi học. Ngân hàng sẽ quản lý và đầu tư khoản tiền đó cho đến
khi khách hàng cần. Thậm chí phổ biến hơn, các ngân hàng đóng vai trò là người
được ủy thác trong di chúc quản lý tài sản cho khách hàng đã qua đời bằng cách
công bố tài sản, bảo quản các tài sản có giá, đầu tư có hiệu quả, và đảm bảo cho
người thừa kế hợp pháp việc nhận được khoản thừa kế. Trong phòng ủy thác
thương mại, ngân hàng quản lý danh mục đầu tư chứng khoán và kế hoạch tiền
-14-
lương cho các công ty kinh doanh. Ngân hàng đóng vai trò như những người đại
lý cho các công ty trong hoạt động phát hành cổ phiếu, trái phiếu. Điều này đòi
hỏi phòng ủy thác trả lãi hoặc cổ tức cho chứng khoán của công ty, thu hồi các
chứng khoán khi đến hạn bằng cách thanh toán toàn bộ cho người nắm giữ
chứng khoán.
1.2.2.2 Những dòch vụ ngân hàng mới phát triển gần đây
a/- Cho vay tiêu dùng. Trong lòch sử, hầu hết các ngân hàng không tích cực
cho vay đối với cá nhân và hộ gia đình bởi vì họ tin rằng các khoản cho vay tiêu
dùng nói chung có quy mô rất nhỏ với rủi ro vỡ nợ tương đối cao và do đó làm
cho chúng trở nên có mức sinh lời thấp. Đầu thế kỷ này, các ngân hàng bắt đầu
dựa nhiều hơn vào tiền gửi của khách hàng để tài trợ cho những món vay thương
mại lớn. Và rồi sự cạnh tranh khốc liệt trong việc giành giật tiền gửi và cho vay
đã buộc các ngân hàng phải hướng tới người tiêu dùng như là một khách hàng
trung thành tiềm năng. Cho tới những năm 1920 và 1930, nhiều ngân hàng lớn
do Citicorp và Bank of America dẫn đầu đã thành lập những phòng tín dụng tiêu
dùng lớn mạnh. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, tín dụng tiêu dùng đã trở thành
một trong những loại hình tín dụng có mức tăng trưởng nhanh nhất. Mặc dầu
vậy, tốc độ tăng trưởng này gần đây đã chậm lại do cạnh tranh về tín dụng tiêu
dùng ngày càng trở nên gay gắt trong khi nền kinh tế đã phát triển chậm lại. Tuy
nhiên, người tiêu dùng vẫn tiếp tục là nguồn vốn chủ yếu của ngân hàng và tạo
ra một trong số những nguồn thu quan trọng nhất.
b/- Tư vấn tài chính: Các ngân hàng từ lâu đã được khách hàng yêu cầu thực
hiện hoạt động tư vấn tài chính, đặc biệt là về tiết kiệm và đầu tư. Ngân hàng
ngày nay cung cấp nhiều dòch vụ tư vấn tài chính đa dạng, từ chuẩn bò về thuế
và kế hoạch tài chính cho các cá nhân đến tư nhân về các cơ hội thò trường trong
nước và ngoài nước cho các khách hàng kinh doanh của họ.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét