Thứ Năm, 23 tháng 1, 2014

Nhận thức người tiêu dùng và một số yếu tố tác động đến hành vi tiêu dùng thảo dược TPHCM 3

36
CHƯƠNG IV
THIẾT KẾ
NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp sau khi thực hiện ISO 9000
37
Chỉ trong khoảng thời gian ngắn, ISO 9000 đã và đang phát triển rất nhanh
chóng tại Việt Nam. Những triết lý của nó từng bước được áp dụng mạnh mẽ ở các
loại hình tổ chức và mang đến những thành công nhất đònh. Thực tế cho thấy tổ chức
nào càng nhanh chóng áp dụng hệ thống quản lý chất lượng hợp lý vào quản lý, sản
xuất, kinh doanh… thì họ ngày càng thành công và vượt lên trên các đối thủ cạnh
tranh. Thế nhưng cũng không ít các tổ chức ở Việt Nam và cả trên thế giới đã không
thành công, thậm chí thất bại và có những tổn thất nặng nề trong hoạt động của
mình. Tại sao lại có hai kết quả trái ngược nhau như vậy? Ứng dụng hệ thống quản
lý chất lượng và các công cụ, kỹ thuật, hệ thống khác như thế nào cho hiệu quả?…
và còn rất nhiều câu hỏi nữa dành cho các nhà quản trò, các nhà nghiên cứu.
Nội dung chính của chương IV là từ mục tiêu, phạm vi, đối tượng nghiên cứu
tiến hành xác đònh phương pháp nghiên cứu, xác đònh nhu cầu thông tin, nguồn cung
cấp thông tin, phương pháp đo và thu thập thông tin, nghiên cứu sơ bộ các nghiên
cứu trước đây sử dụng làm nguồn cung cấp thông tin thứ cấp, thiết kế bảng
Questionaire, thiết kế mẫu, kế hoạch phân tích dữ liệu dùng trong nghiên cứu này.
I/ MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Ngày nay quản lý chất lượng là vấn đề toàn cầu, là một trào lưu mà tất cả
các tổ chức lớn đều theo đuổi, vì nó có vai trò quan trọng trong việc nâng cao vò
thế của các tổ chức trong môi trường cạnh tranh gay gắt hiện nay, ảnh hưởng đến
vấn đề sống còn của mỗi tổ chức. Ngoài ra khách hàng cũng ngày càng đòi hỏi
chất lượng sản phẩm/dòch vụ phải cao hơn, do đó áp lực ngày càng gia tăng đòi hỏi
các tổ chức cũng phải ngày càng cải tiến với tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm/dòch
vụ cao hơn và chi phí thấp hơn. Các nhà quản lý đã nhận ra vấn đề này và giải
pháp đầu tiên họ lựa chọn là các mô hình quản lý dựa trên tiêu chuẩn với sự chứng
nhận của cơ quan có thẩm quyền mà ISO 9000 thỏa mãn được yêu cầu này của các
nhà quản lý. Tuy nhiên để ngày càng cải tiến nhằm thỏa mãn nhu cầu khách hàng
thì ISO 9000 không phải là cách làm duy nhất, thế nhưng không phải nhà quản lý
cấp cao nào cũng nhìn nhận đúng đắn cách tiếp cận này. Thực tế trong các cuộc
nghiên cứu của giáo sư Hongyi Sun – trường đại học thành phố Hồng Kông năm
1999 và 2000 cho thấy rất nhiều công ty thỏa mãn với giấy chứng nhận ISO 9000
và không có kế hoạch để tiến đến các tiêu chuẩn cao hơn như TQM, ngoài ra do sự
tuyên truyền cường điệu của các nhà tư vấn và các phương tiện truyền thông, nhiều
tổ chức tin rằng giấy chứng nhận ISO 9000 là tất cả những gì phải làm về chất
lượng và họ không cần phải làm gì khác sau khi đã đạt chứng nhận ISO 9000. Các
cuộc nghiên cứu của Brown và Wiele năm 1996 đã thấy rằng khoảng 85% các tổ
chức có chứng nhận ISO 9000 hoàn toàn không có ý đònh tiến tới thực hiện TQM.
Theo cách suy nghó này thì ISO cản trở việc mở rộng và triển khai TQM cũng như
các tiêu chuẩn khác.
Nghiên cứu thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp sau khi thực hiện ISO 9000
38
Do đó mục tiêu đầu tiên của nghiên cứu này cũng nhằm xác đònh xem sau
ISO 9000 các tổ chức ở Việt Nam đang sử dụng công cụ cải tiến chất lượng gì, và
trong tương lai họ dự đònh thực hiện thêm các chương trình khác, hay là họ cũng bò
ru ngủ bởi cho rằng ISO 9000 là tất cả những gì mà một tổ chức cần thực hiện để
cải tiến liên tục nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của khách hàng.
Một điều đã trở nên rõ ràng là cải tiến liên tục phải là một quá trình tất yếu
trong hoạt động của các tổ chức. Tuy nhiên thật không may là không có một công
thức thần diệu chung nào có thể đảm bảo thành công. Tuy vậy các phương pháp lý
thuyết khác đã được đào sâu, được áp dụng mạnh mẽ vào thực tiễn hoạt động sản
xuất kinh doanh của nhiều loại hình tổ chức và đã làm chuyển hướng các nhận thức
của mọi người về vấn đề chất lượng. Trong nghiên cứu này tôi chỉ xin tìm hiểu xem
ngoài hiểu biết về ISO 9000, các nhà lãnh đạo cấp cao hiểu biết đến đâu về các
chương trình, kỹ thuật, công cụ cải tiến chất lượng khác như: 5S, Kaizen, SPC, 6
Sigma, Benchmarking, QCC, ISO 14000, SA 8000, TQM, TPM; vì đây là những
chương trình cải tiến liên quan đến mọi hoạt động của tổ chức đã được các nhà
nghiên cứu xây dựng thành cơ sở lý thuyết, được nhiều loại hình tổ chức trên thế
giới áp dụng và đã mang lại cho họ những thành công vượt bậc, được đúc kết thành
những bài học kinh nghiệm nổi tiếng trên thế giới. Mặt khác chúng cũng là các nội
dung thường xuất hiện trong các khóa đào tạo, là vấn đề mà nhiều tổ chức quan
tâm theo các diễn đàn của Trung tâm năng suất Việt Nam.
Để có được sự hiểu biết kỹ lưỡng và áp dụng các chương trình khác thành
công thật không đơn giản. Để hiểu được những gì làm hạn chế sự phát triển của
các chương trình này nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm là một vấn đề cần
thiết. Do đó nghiên cứu cũng nhằm tìm hiểu xem với các tổ chức ở Việt Nam, khi
tiếp cận và áp dụng các kỹ thuật họ gặp phải những khó khăn nào cản trở họ thực
hiện các chương trình khác. Biết được những khó khăn này mới có thể giúp chính
các tổ chức, các cơ quan quản lý nhà nước cũng như các công ty tư vấn về xây
dựng hệ thống quản lý chất lượng thực hiện các chương trình đào tạo về các xu
hùng của việc áp dụng ISO 9000:2000 và các công cụ hỗ trợ nhằm nâng cao tính
hiệu quả và hiệu lực của hệ thống.
Liên Hợp Quốc đã làm rõ ý nghóa của thuật ngữ “Phát triển” trong các tổ
chức kinh tế, gồm: (1) sự tăng trưởng ổn đònh; (2) sự thay đổi cơ cấu về hình thức
trong hình thái sản xuất; (3) sự tiến bộ về công nghệ; (4) sự hiện đại hóa về mặt
quản trò tổ chức ; (5) sự cải thiện sâu rộng về khía cạnh con người (tài liệu tham
khảo Tư duy mới về phát triển cho thế kỷ XXI của Trung tâm khoa học xã hội và
nhân văn quốc gia). Rõ ràng nguồn nhân lực luôn là một trong những tiêu chuẩn
đánh giá hàng đầu. Các nghiên cứu gần đây của tổ chức xúc tiến thương mại Nhật
Bản (JETRO) cho thấy Việt Nam đang thiếu nguồn nhân lực được đào tạo thích
đáng. Vì vậy nghiên cứu này cũng nhắm đến mục tiêu tìm hiểu xem sau ISO 9000
Nghiên cứu thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp sau khi thực hiện ISO 9000
39
các tổ chức thực hiện việc đào tạo nội bộ và bên ngoài như thế nào vì đào tạo được
xem là một trong những yếu tố tiên quyết giúp tổ chức có nhận thức đúng đắn về
các hệ thống quản lý; cách tư duy mới, cách nhìn mới, cách làm việc hiệu quả hơn,
sáng tạo hơn.
Cuối cùng là qua toàn bộ quá trình nghiên cứu sẽ làm nổi bật lên nhận thức
của tổ chức đối với hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000, đây là yếu tố quyết đònh
tiêu cực hay tích cực đến việc áp dụng các chương trình khác trong tương lai.
Với xu thế phát triển của xã hội, môi trường nào cũng có những đòi hỏi ngày
càng cao hơn, nên các tổ chức sau khi có chứng nhận ISO 9000 vẫn phải tự học hỏi
bổ sung kiến thức cho công việc thực tiễn, mới có thể theo kòp những yêu cầu mới
của nền kinh tế, các yêu cầu mới của khách hàng. Trong cơ chế thò trường, khi tổ
chức đáp ứng được những yêu cầu của khách hàng đã là một minh chứng rõ nét
cho sự hài lòng của khách hàng lẫn sự hài lòng của nhà quản lý đối với các hệ
thống quản lý mà tổ chức đó đã áp dụng. Do vậy, mục tiêu đã đề ra trong nghiên
cứu này là rõ ràng và hoàn toàn có thể thực hiện được.
II/ GIỚI HẠN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Phạm vi nghiên cứu
Quá trình nghiên cứu tự nó không giải quyết được hết thảy mọi vấn đề, càng
không phải là liều thuốc đặc trò cho mọi vấn đề. Để nghiên cứu có ý nghóa, kết quả
đưa ra sát với thực tế và thực sự có ích cho những nhà nghiên cứu về sau thì vai trò
của người nghiên cứu rất nặng nề và quan trọng. Tuy nhiên với nguồn lực bò giới
hạn: chi phí, thời gian đều bò giới hạn mà yêu cầu độ chính xác cao, giá trò thông
tin đáng tin cậy thì việc người nghiên cứu phải cân đối ba yếu tố này là rất quan
trọng.
Với giới hạn về thời gian và chi phí, đối tượng được chọn để khảo sát trong
nghiên cứu này là các tổ chức đang hoạt động trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh
và các tỉnh lân cận: Đồng Nai, Sông Bé, Bình Dương, Bà Ròa – Vũng Tàu. Đây là
các trung tâm sản xuất, thương mại và dòch vụ có số lượng các tổ chức đạt được
chứng nhận ISO 9000 chiếm hơn 50% so với cả nước, đồng thời giúp việc thu thập
dữ liệu cho người nghiên cứu thuận tiện hơn.
2.2 Đối tượng nghiên cứu
Với mục tiêu thu thập được các thông tin có giá trò trên đòi hỏi đối tượng
nghiên cứu phải là những người am hiểu về hoạt động của tổ chức, biết được việc
hoạch đònh trong tương lai của tổ chức khi đề cập đến việc áp dụng các chương
trình khác. Hơn nữa đối tượng nghiên cứu khi trả lời phỏng vấn cũng cần có cái
nhìn trung thực và khách quan đối với các vấn đề được đặt ra, không bóp méo
thông tin hay hạn chế việc trả lời các câu hỏi dựa theo thành kiến hay phê phán vội
Nghiên cứu thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp sau khi thực hiện ISO 9000
40
vàng một vấn đề nào đó.
Để bảo đảm chất lượng của thông tin được thu thập, quá trình nghiên cứu
hướng vào đối tượng là lãnh đạo cấp cao (từ Trưởng phòng trở lên) của các tổ chức
đã được cấp giấy chứng nhận ISO 9001:2000 – đây là những người hiểu biết rõ về
các hoạt động của chính tổ chức mình, nắm rõ và có thẩm quyền hoạch đònh chiến
lược phát triển của các tổ chức.
III/ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu là chiếc cầu nối giữa các mục tiêu nghiên cứu đã
được đề ra ở trên với việc thực hiện các mục tiêu đó như thế nào. Nó cho phép dự
kiến trước được những yêu cầu, thời gian cũng như kết quả nghiên cứu. Nếu không
có phương pháp nghiên cứu thì người nghiên cứu chỉ có được những khái niệm mơ
hồ về công việc phải làm.
Phương pháp nghiên cứu là cần thiết khi thực hiện phân tích và giải thích
các ý nghóa của dữ liệu. Nó giúp cho việc ước đoán và suy xét trong quá trình lựa
chọn và giới thiệu dự án nghiên cứu.
Có rất nhiều loại mô hình với những đặc trưng khác nhau, nhưng để đơn giản
có thể xếp chúng thành ba loại: nghiên cứu mô tả, nghiên cứu thử nghiệm và
nghiên cứu bán thử nghiệm.
Nghiên cứu mô tả là dạng nghiên cứu chỉ dùng để mô tả mà không thiết lập
một sự liên hệ giữa các yếu tố. Ví dụ: mô tả đặc tính người tiêu dùng (tuổi, giới
tính, thu nhập, nghề nghiệp, trình độ văn hóa); thói quen tiêu dùng; nhận thức đối
với một loại sản phẩm/dòch vụ; thái độ đối với các thành phần tiếp thò… nhưng
không xác đònh rõ được là giữa những thay đổi đó có một sự liên quan nào không.
Tuy nhiên, nó cũng là cơ sở để người nghiên cứu nghó tới những mắt xích trong sợi
dây liên hệ giữa các hiện tượng đó. Nghiên cứu mô tả thường được thực hiện bằng
phương pháp nghiên cứu tại hiện trường thông qua kỹ thuật nghiên cứu đònh lượng.
Phương pháp này được áp dụng trong các cuộc nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu
chính thức, và đây cũng là mô hình được sử dụng nhiều nhất.
Nghiên cứu thử nghiệm là nhằm thử nghiệm để làm sáng tỏ tương quan nhân
quả. Khi những thử nghiệm này lượng đònh được là có hiện tượng đồng biến, điều
đó có ý nghóa rất lớn đối với việc kết luận vấn đề. Trong nghiên cứu tiếp thò một
nghiên cứu thử nghiệm chỉ đưa ra khi có thể tiến hành được và phí tổn bỏ ra phải
được trang trải bởi kết quả thu về. Nhưng đáng tiếc là những cuộc thử nghiệm như
thế thường rất khó hoặc không thể làm được khi vấp phải tính cách bất thường và
năng động của con người. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, người ta phải chấp
nhận bỏ cả việc kiểm soát các yếu tố ngoại lai, bỏ cả việc cân nhắc kỹ càng, chấp
Nghiên cứu thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp sau khi thực hiện ISO 9000
41
nhận sai lệch để tiến hành thử nghiệm.
Nghiên cứu bán thử nghiệm không có các điều kiện chặt chẽ của cuộc thử
nghiệm, đặc biệt là không có sự chứng minh cũng không phải là sự mô tả vì chúng
có một số chỉ số đònh lượng về sự kết hợp giữa hai biến số.
Với mục tiêu của nghiên cứu này, chọn phương pháp nghiên cứu mô tả là
phù hợp trên cơ sở làmrõ mối quan hệ nhân quả giữa các yếu tố.
3.2 Công cụ thu thập thông tin
Thông tin có thể thu thập bằng thực hiện các cuộc phỏng vấn trực tiếp, dùng
phiếu điều tra thăm dò, hoặc qua tìm hiểu không chính thức.
 Phỏng vấn trực tiếp giúp người phỏng vấn nắm bắt khá đầy đủ các nhu cầu,
mong muốn và thái độ của khách hàng đối với vấn đề mình quan tâm. Cho phép
tìm hiểu kỹ các nguyên nhân, thiếu sót và đề xuất các giải pháp. Đây là phương
tiện thuận lợi nhất để thu thập thông tin dồi dào, tuy nhiên nó là phương pháp
đắt tiền, tốn nhiều thời gian và đôi khi dễ có khả năng phạm sai lầm. Bản chất
của nó là một tiến trình tiếp xúc giữa hai cá nhân, trong đó người phỏng vấn cố
gắng rút ra những dữ liệu, quan điểm của đối tượng được phỏng vấn.
 Phiếu điều tra thăm dò ý kiến khách hàng có lợi thế chi phí thấp, trong thời gian
ngắn có thể thu thập được ý kiến nhiều người và có thể lượng hóa theo những
qui luật số lớn. Tuy nhiên, muốn công cụ nầy có hiệu quả, cần thiết kế nội dung
và cấu trúc bảng câu hỏi phù hợp; nếu thiết kế không thíchø hợp hoặc sử dụng
không đúng đối tượng thì thông tin thu thập được sẽ không có giá trò.
 Điều tra không chính thức là cách thu thập thông tin không qua những cuộc
phỏng vấn công khai hoặc điều tra có tổ chức. Thông tin có thể được góp nhặt
qua những cuộc chuyện trò ngẫu nhiên, những buổi họp mặt, các diễn đàn, hội
nghò, các kỳ tổng kết của ngành hoặc thùng thư góp ý…
Trong nghiên cứu này, việc thu thập dữ liệu đòi hỏi được tiến hành trên các
nhà lãnh đạo cấp cao của các tổ chức, các thông tin đòi hỏi sự hiểu biết đáng kể về
lónh vực quản lý chất lượng và các chương trình khác, hơn nữa bảng câu hỏi sử
dụng câu hỏi mở và người thực hiện nghiên cứu này có nhiều hiểu biết về hệ thống
quản lý chất lượng, hệ thống quản lý môi trường, đã qua những khóa đào tạo về
các chương trình đã được giới thiệu và trực tiếp thực hiện thành công 5S, QCC, ISO
9002:1994, ISO 9001:2000, ISO 14001:1996 tại công ty CASUMINA Đồng Nai do
đó thích hợp trong vai trò người thực hiện phỏng vấn, vì vậy thích hợp nhất là tiến
hành cuộc thăm dò bằng cách phỏng vấn trực tiếp qua bảng câu hỏi.
IV/ XÁC ĐỊNH NHU CẦU THÔNG TIN
4.1 Các thông tin cần thiết
Nghiên cứu thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp sau khi thực hiện ISO 9000
42
 Xác đònh đối tượng, thời gian đạt được chứng nhận ISO 9000:1994 (nếu có) và
ISO 9001:2000.
 Tư vấn cho tổ chức thực hiện ISO 9001:2000 là ai, kỹ năng của họ ra sao.
 Hiệu quả hoạt động của tổ chức sau khi nhận được ISO 9001:2000.
 Sự thỏa mãn của tổ chức đối với ISO 9001:2000.
 Đào tạo trong tổ chức được thực hiện như thế nào sau ISO 9001:2000.
 Hiệu quả công tác đào tạo.
 Hiểu biết của tổ chức về các chương trình, các kỹ thuật, các công cụ cải tiến
chất lượng khác, đặc biệt là về kỹ thuật thống kê.
 Các công cụ thống kê nào đang được sử dụng trong tổ chức.
 Các khó khăn khi tiếp cận và áp dụng các kỹ thuật khác.
 Ngoài ISO 9001:2000 các tổ chức sử dụng công cụ cải tiến chất lượng gì.
 Các tổ chức có dự tính thực hiện các chương trình khác trong tương lai không.
 Nhận thức của tổ chức đối với hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000.
 Thông tin về tổ chức.
4.2 Nguồn cung cấp thông tin
a/ Thông tin thứ cấp: bao gồm một số các nghiên cứu gần đây nhất theo The TQM
Magazine để xác đònh các câu hỏi dùng trong bảng Questionaire.
b/ Thông tin sơ cấp: được thu thập qua phương pháp giao tiếp thông tin: phỏng vấn
trực tiếp (Personal Interview) các đối tượng nghiên cứu.
V/ PHƯƠNG PHÁP ĐO VÀ THU THẬP THÔNG TIN
Quá trình gồm 2 giai đoạn: nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu đònh lượng.
5.1 Nghiên cứu sơ bộ
Là nghiên cứu khám phá, thông tin thu thập ở dạng đònh tính. Phương pháp
này giúp người nghiên cứu tìm hiểu về các yếu tố bên trong của đối tượng. Việc
nghiên cứu được thực hiện trên một số lượng nhỏ các đối tượng, mẫu chọn không
cần mang tính đại diện theo phương pháp chọn mẫu theo xác suất, mà nó được
chọn theo một số đặc tính nhất đònh của đám đông nghiên cứu.
Để thực hiện nghiên cứu này, nghiên cứu sơ bộ để xác đònh các câu hỏi cần
thiết được tiến hành qua khảo sát nguồn dữ liệu gốc là một số các nghiên cứu gần
đây nhất theo cđã được các nhà nghiên cứu nước ngoài khảo sát trước đó làm
nguồn cung cấp thông tin thứ cấp để thiết kế bảng Questionaire. Như vậy giảm
được phí tổn và thời gian tiến hành nghiên cứu sơ bộ để tìm hiểu về các yếu tố đònh
tính cần thiết cho cuộc nghiên cứu. Các nghiên cứu sơ bộ này được trình bày ở phụ
Nghiên cứu thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp sau khi thực hiện ISO 9000
43
lục 1.
Nghiên cứu thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp sau khi thực hiện ISO 9000
44
Sơ đồ sau đây trình bày các kết quả rút ra được từ các nghiên cứu sơ bộ làm
cơ sở thiết kế bảng Questionaire.

Nghiên cứu thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp sau khi thực hiện ISO 9000
Hiệu quả hoạt động của tổ
chức sau ISO 9000
Mức độ thỏa mãn của tổ chức
sau ISO 9000
Kỹ năng của nhà tư vấn
Hiệu quả công tác đào tạo
Sử dụng các công cụ thống kê
Hiểu biết về kỹ thuật thống kê
Sau ISO 9000 có áp dụng
chương trình nào không
Trong tương lai có áp dụng
chương trình nào không
Loại hình doanh nghiệp
Quy mô doanh nghiệp
Chức vụ người
được phỏng vấn
Khó khăn khi thực hiện các
chương trình khác
Hiểu biết về các
chương trình khác
Sau ISO 9000 thu thập dữ liệu
và phân tích cải tiến ra sao
Đòa chỉ công ty
Ai tư vấn cho tổ chức
Đào tạo trong tổ chức ra sao
Nhân viên cải tiến và hướng
tới thỏa mãn khách hàng
Nghiên
cứu 2
Nghiên
cứu 1
Đưa
thêm
vào
Thực
trạng
hoạt
động
của các
doanh
nghiệp
sau
ISO9000
45
Nghiên cứu 1/ Where next for ISO 9000 companies?
Tác giả: Shirley Coleman–Alex Douglas.
Nghiên cứu 2/ ISO 9000 certification and quality management in Spain: results of a
national survey.
Tác giả: Carmen Escanciano–Esteban Fernández–Camilo Vázquez.
5.2 Nghiên cứu đònh lượng
Là phương pháp khoa học dựa trên các phép tính toán để nghiên cứu việc
tạo ra các quyết đònh trong quản lý. Đây là một dạng nghiên cứu mô tả, bắt đầu từ
thu thập dữ liệu, sau đó xử lý dữ liệu để đưa ra kết quả là thông tin, nhằm lượng
hóa các hành vi của đối tượng nghiên cứu.
Dựa trên kết quả của nghiên cứu sơ bộ, nghiên cứu thiết kế bảng câu hỏi để
tiến hành nghiên cứu đònh lượng và thực hiện điều tra chính thức bằng công cụ
phiếu điều tra nhằm thu thập thông tin từ các đối tượng nghiên cứu. Quá trình thiết
kế các câu hỏi trong phiếu điều tra có kết hợp sử dụng các thông tin đã được xác
đònh qua nghiên cứu sơ bộ.
Hình 4.1 Quá trình thiết kế và hoàn chỉnh phiếu điều tra
* Thiết kế phiếu điều tra và thang đo được sử dụng
Sau khi xác đònh được các nhu cầu thông tin và từ các nghiên cứu sơ bộ, thực
hiện bộ câu hỏi thô gồm 22 câu hỏi dài 3 trang A4. Tiếp theo kiểm tra lại hình thức
của các câu hỏi: về cấu trúc, cách dùng từ ngữ, văn phong Việt Nam, tránh gây
nhầm lẫn hay khó hiểu cho người trả lời; kiểm tra thứ tự sắp xếp các câu hỏi đi từ
đơn giản đến phức tạp, từ tổng quát đến chi tiết; kiểm tra cách bố trí và hình thức
trình bày các câu hỏi; kiểm tra sự phù hợp của các câu hỏi so với yêu cầu, mục
tiêu, phạm vi nghiên cứu, cơ sở lý thuyết, các phương pháp phân tích dữ liệu…
Tiếp sau đó chuyển bảng câu hỏi cho ba chuyên gia góp ý: một là Thầy
hướng dẫn đề tài nghiên cứu, hai là ông Giám đốc kỹ thuật Công ty QMS Việt
Nam (công ty cung cấp các dòch vụ chứng nhận hệ thống và đào tạo về chất lượng,
môi trường, SA 8000, TQM, kỹ năng quản lý doanh nghiệp, tư vấn chiến lược kinh
doanh…), ba là ông Phó phòng tiếp thò bán hàng Công ty công nghiệp cao su miền
Nam. Đây là các chuyên gia có kiến thức chuyên môn về các lónh vực nghiên cứu,
Nghiên cứu thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp sau khi thực hiện ISO 9000
Xác
đònh
thông
tin cần
thu thập
Xác
đònh
kỹ thuật
thu thập
thông
tin
Xây dựng
nội dung,
cấu trúc,
hình thức
phiếu
điều tra
Xác
đònh
hình
thức
trả lời
Kiểm tra
và hòan
chỉnh
bảng
câu hỏi
46
đặc biệt là trong việc thiết kế bảng Questionaire. Ngoài ra còn tiến hành triển khai
thử ở năm đối tượng thật để kiểm tra lần cuối về cách sử dụng từ ngữ, hình thức
trình bày, chiều dài bảng câu hỏi, thời gian phỏng vấn…
Cuối cùng có được bảng câu hỏi dài 2 trang A4 với 18 câu hỏi, được thiết kế
đơn giản, rõ ràng, dễ hiểu để khuyến khích sự hợp tác của các đối tượng; đồng thời
vẫn thu thập đủ những thông tin cần thiết. Mất khoảng 20–25 phút để các đối tượng
trả lời hoàn chỉnh một bảng câu hỏi. Đây là thời gian thích hợp đối với người trả lời
vì họ còn giữ được sự tập trung. Bảng câu hỏi được trình bày ở phụ lục 2.
Bảng câu hỏi được thiết kế gồm 5 phần.
Phần 1: Phần mở đầu
Bao gồm lời giới thiệu lý do phỏng vấn và hướng dẫn trả lời.
Phần 2: Xác đònh đối tượng và tình hình hoạt động của tổ chức sau ISO 9001:2000.
Câu 1: xác đònh đối tượng, thời gian đã đạt được chứng nhận ISO 9000:1994
(nếu có) và ISO 9001:2000.
Câu 2: tư vấn cho tổ chức thực hiện ISO 9001:2000 là ai.
Câu 3: hiệu quả hoạt động của tổ chức sau khi nhận được ISO 9001:2000.
Câu 4: sự thỏa mãn của tổ chức đối với ISO 9001:2000.
Câu 5: đào tạo trong tổ chức được thực hiện như thế nào sau ISO 9001:2000.
Câu 6: hiệu quả công tác đào tạo và kỹ năng của nhà tư vấn ra sao.
Phần 3: Hiểu biết của tổ chức về các chương trình, các kỹ thuật, các công cụ cải
tiến chất lượng khác, đặc biệt là về kỹ thuật thống kê.
Câu 7: hiểu biết của tổ chức về các chương trình, kỹ thuật, công cụ cải tiến
chất lượng: 5S, Kaizen, SPC, 6 Sigma, Benchmarking, QCC, ISO 14000,
SA 8000, TPM, TQM.
Câu 8: ngoài ISO 9001:2000 tổ chức sử dụng công cụ cải tiến chất lượng gì.
Câu 9: các công cụ thống kê nào đang được sử dụng trong tổ chức.
Câu 10: nhận thức về kỹ thuật thống kê.
Phần 4: sau ISO 9000 tổ chức đang làm gì.
Câu 11: thu thập và phân tích dữ liệu được thực hiện ra sao.
Câu 12: các tổ chức dự tính thực hiện các chương trình gì trong tương lai.
Câu 13: các khó khăn khi tiếp cận và áp dụng các kỹ thuật khác.
Phần 5: thông tin cá nhân.
Câu 14: loại hình kinh doanh
Nghiên cứu thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp sau khi thực hiện ISO 9000
47
Câu 15: loại hình doanh nghiệp
Câu 16: quy mô doanh nghiệp qua tổng số nhân viên
Câu 17: đòa chỉ công ty
Câu 18: chức vụ người trả lời bảng câu hỏi.
Thang đo: Việc lượng hóa các trả lời của đối tượng nghiên cứu được đánh giá dựa
trên thang diểm đánh giá. Các thang điểm đánh giá đònh lượng được sử dụng trong
nghiên cứu này là:
 Sử dụng thang đo chỉ danh (Nominal Scale) cho các câu hỏi: 2, 3, 8, 9, 12,13,
14, 15, 17, 18.
 Sử dụng thang đo khoảng cách (Interval Scale) cho các câu hỏi: 1, 4, 5, 6, 7, 10,
11, 16. Chọn loại thang đo 5 điểm từ 1 đến 5, số mục chọn không quá nhiều vì
sẽ gây bối rối cho người được phỏng vấn.
5.3 THIẾT KẾ MẪU
5.3.1 Lấy mẫu: là một quá trình phổ biến trong các nghiên cứu khoa học vì thực tế
chúng ta không bao giờ có đủ điều kiện nghiên cứu toàn bộ tổng thể. Do đó, lấy
mẫu đúng phương pháp quyết đònh chính đến thành công của các nghiên cứu. Việc
xác đònh phương pháp lấy mẫu phụ thuộc vào mục tiêu và đối tượng nghiên cứu.
Có 2 phương pháp lấy mẫu, đó là lấy mẫu xác suất và lấy mẫu phi xác suất.
 Phương pháp lấy mẫu xác suất: là phương pháp lấy mẫu trong đó các phần tử
của tổng thể có cơ hội được lựa chọn để bao gồm trong một mẫu, gắn chặt với
một hệ thống chi tiết chính xác, không cho phép lựa chọn tùy tiện hay thiên
kiến. Lấy mẫu xác suất nâng cao sự hợp lý cũng như tính khách quan của kết
quả. Gồm các phương pháp: lấy mẫu ngẫu nhiên đơn giản, lấy mẫu có hệ thống,
lấy mẫu theo tầng lớp, lấy mẫu theo nhóm, lấy mẫu theo vùng lãnh thổ Tuy
nhiên phương pháp này cần có một khung mẫu hoàn chỉnh và một danh sách
đầy đủ các phần tử trong tổng thể. Do đó trong nghiên cứu này không thể sử
dụng phương pháp lấy mẫu xác suất.
 Phương pháp lấy mẫu phi xác suất: là phương pháp lựa chọn một cách ngẫu
nhiên hoặc có mục đích những thành phần đặc biệt của mẫu theo cách thức
không ngẫu nhiên. Phương pháp này không thể tránh được các yếu tố may rủi
đối với những tính chất khác của mẫu theo đó không có các xác suất lựa chọn
được thiết lập. Có ưu điểm là tiết kiệm được thời gian và chi phí. Do đó phương
pháp phi xác suất chỉ được sử dụng trong một số trường hợp đặc biệt mà nếu sử
dụng phương pháp xác suất sẽ không hiệu quả và thiết thực bằng. Gồm các
phương pháp: lấy mẫu thuận tiện, lấy mẫu tích lũy nhanh, lấy mẫu kiểm tra tỉ
lệ, lấy mẫu phán đoán.
Nghiên cứu thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp sau khi thực hiện ISO 9000
48
Với nghiên cứu này, tiến hành lấy mẫu theo phương pháp phi xác suất – đó
là lấy mẫu thuận tiện (Convenience Sample).
5.3.2 Không gian mẫu: là khoảng 500 tổ chức đạt chứng nhận ISO 9001:2000 tại
Việt Nam, với hơn 50% tổ chức nằm trong phạm vi nghiên cứu của nghiên cứu này.
5.3.3 Kích thước mẫu: như đã biết mẫu càng lớn thì càng đại diện tốt cho tập hợp
chính, tuy nhiên sẽ đòi hỏi kinh phí lớn và thời gian thu thập dữ liệu rất lâu. Do đó,
nghiên cứu này chỉ thu thập mẫu có kích thước đủ lớn để làm rõ mục tiêu nghiên
cứu, giá trò thống kê phải lớn hơn hoặc bằng 30. Để thỏa mãn điều kiện này cùng
các ràng buộc về thời gian, kinh phí thực hiện, kích thước mẫu được chọn là 61.
5.3.4 Mẫu được chọn gồm: 43 đối tượng trong hai lớp học về đào tạo Giám đốc
chất lượng của Công ty QMS Việt Nam (công ty cung cấp các dòch vụ chứng nhận
hệ thống và đào tạo về chất lượng, môi trường, SA 8000, TQM, kỹ năng quản lý
doanh nghiệp, tư vấn chiến lược kinh doanh…) và 18 đối tượng có mối quan hệ quen
biết với người thực hiện nghiên cứu.
5.3.5 Sai số do lấy mẫu: thực tế trong quá trình phỏng vấn có 5 đối tượng (chiếm
8.2% số lượng mẫu khảo sát) chưa thật sự nhiệt tình trong các câu hỏi phỏng vấn,
trả lời các câu hỏi còn miễn cưỡng và có thể cho các ý kiến sai lệch thực tế.
5.3.6 Hình thức thu thập thông tin: tiếp cận với các 43 đối tượng đầu qua các buổi
học, lồng vào trong 2 buổi thuyết trình của Giảng viên, người thực hiện nghiên cứu
đã trình bày trước lớp học một số kinh nghiệm trong việc triển khai, thực hiện và
duy trì các hệ thống ISO 9001, ISO 14001, 5S, QCC tại Công ty Công nghiệp cao
su miền Nam (CASUMINA) nơi mà người thực hiện nghiên cứu đang làm việc.
Giới thiệu với các đối tượng nghiên cứu các chương trình, kỹ thuật, các công cụ cải
tiến chất lượng khác qua một tập tài liệu như ở phần chương II (cơ sở lý thuyết).
Phỏng vấn trực tiếp các đối tượng qua bảng Questionaire cùng với một cộng sự ghi
chép lại các câu trả lời.
5.4 KẾ HOẠCH PHÂN TÍCH DỮ LIỆU
Xử lý thông tin thu thập được bằng phần mềm SPSS và phân tích dữ liệu
theo phương pháp phân tích nhân tố (Factor Analysis) với độ tin cậy của việc đánh
giá là 95%.
Kế hoạch phân tích dữ liệu được trình bày ở phụ lục 3.
Nghiên cứu thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp sau khi thực hiện ISO 9000
49
Để nghiên cứu đạt kết quả tốt, phần thiết kế nghiên cứu đã được chuẩn bò kỹ
càng. Nội dung chính của chương IV là từ mục tiêu, phạm vi, đối tượng nghiên cứu
tiến hành xác đònh phương pháp nghiên cứu, xác đònh nhu cầu thông tin, nguồn cung
cấp thông tin; phương pháp đo và thu thập thông tin; nghiên cứu sơ bộ các nghiên
cứu trước đây sử dụng làm nguồn cung cấp thông tin thứ cấp, thiết kế bảng
Questionaire; thiết kế mẫu để tiết kiệm thời gian, phí tổn mà vẫn đảm bảo tính chính
xác của kết quả nghiên cứu; thu thập dữ liệu thực đòa, khâu quan trọng nhất và cũng
dễ có khả năng mắc sai lầm nhất; kế hoạch phân tích dữ liệu dùng trong nghiên cứu
này.
Chương này đã làm nổi bật những nền tảng cần có để đảm bảo dữ liệu được đo
lường chính xác theo hướng dự đònh. Chương sau sẽ trình bày việc chuẩn bò dữ liệu
để xử lý; trình bày chi tiết kết quả, phân tích và đánh giá của nghiên cứu này.
Nghiên cứu thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp sau khi thực hiện ISO 9000

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét