Thứ Hai, 20 tháng 1, 2014

Lợi nhuận và những biện pháp cơ bản góp phần nâng cao lợi nhuận ở công ty XD - 17.doc.DOC

Là khoản chênh lệch giữa doanh thu thuần với giá vốn hàng bán, chi phí
bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp. Trong đó:
+ Doanh thu thuần hoạt động sản xuất kinh doanh là chênh lệch giữa
doanh thu bán hàng với các khoản giảm trừ( chiết khấu, giảm giá, giá trị hàng
hoá bị trả lại, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu phải nộp).
+ Chi phí bán hàng là những chi phí thực tế phát sinh trong quá trình tiêu
thụ sản phẩm hàng hoá, lao vụ, dịch vụ nh: Chi phí vận chuyển, bốc dỡ, bao gói,
quảng cáo
+ Chi phí quản lý là các chi phí liên quan đến quản lý chung của doanh
nghiệp bao gồm các khoản nh: Chi phí kinh doanh, chi phí hành chính.
- Lợi nhuận hoạt động tài chính:
Là khoản chênh lệch giữa thu nhập của hoạt động tài chính với chi phí
hoạt động tài chính.
+ Thu nhập hoạt động tài chính là khoản thu hoạt động đầu t tài chính
hoặc kinh doanh về vốn mang lại, bao gồm thu về hoạt động góp vốn liên
doanh, hoạt động đầu t mua bán chứng khoán ngắn hạn, dài hạn, thu từ tài sản
cố định
+ Chi phí hoạt động tài chính là những chi phí có liên quan đến các hoạt
động tài chính nh: chi phí liên doanh, lỗ liên doanh, giảm giá đầu t chứng khoán
và các khoản khác.
- Lợi nhuận bất thờng:
Là khoản chênh lệch giữa các khoản thu nhập bất thờng và chi phí bất th-
ờng.
+ Thu nhập bất thờng là khoản thu mà doanh nghiệp không dự tính đợc
không mang tính thờng xuyên nh: Thu và thanh lý tài sản cố định, thu về vi
phạm hợp đồng kinh tế, các khoản nợ khó đòi đã đợc sử lý
+ Chi phí bất thờng là những chi phí liên quan đến hoạt động bất thờng
bao gồm chi phí thanh lá nhợng bán tài sản cố định, tiến bán do vi phạm hợp
đồng kinh tế, bị phạt thuế, các khoản chi do kế toán bị nhầm hay bỏ sót khi vào
sổ, truy nộp thuế
5
Tổng cộng ba khoản lợi nhuận trên cho ta tổng lợi nhuận trớc thuế của
doanh nghiệp.
2. Phân tích chỉ tiêu lợi nhuận.
Qua kết cấu mà nguồn hình thành lợi nhuận của doanh nghiệp, ta thấy lợi
nhuận là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp nói nên kết quả của toàn bộ hoạt động
sản xuất kinh doanh, nó phản ánh một cách tổng hợp các mặt: cung cấp, sản
xuất và tiêu thụ của doanh nghiệp.
Tuy nhiên lợi nhuận không phải là chỉ tiêu duy nhất để đánh giá chất lợng
hoạt động sản xuất kinh doanh cũng nh để so sánh chất lợng hoạt động sản xuất
kinh doanh giữa các doanh nghiệp khác nhau hay trong cùng doanh nghiệp giữa
các thời kỳ khác nhau. Bởi chỉ tiêu này cha cho ta thấy đợc mối quan hệ giữa
lợi nhuận thu đợc với số vốn doanh nghiệp đã sử dụng, cũng nh giá thành sản
phẩm nh thế nào và mối quan hệ với doanh nghiệp ra sao. Mặt khác lợi nhuận là
kết quả ài chính cuối cùng do đó chịu ảnh hởng của nhiều nhân tố, có nhân tố
chủ quan, có nhân tố khách quan và đôi khi có bù trừ lẫn nhau.
Để đánh giá, so sánh chất lợng hoạt động của các doanh nghiệp, ngoài việc
sử dụng chỉ tiêu lợi nhuận tuyệt đối còn dùng chỉ tiêu tơng đối, đó là các tỉ suất
lợi nhuận hay hệ số sinh lời.
Tỉ suất lợi nhuận là chỉ tiêu tơng đối cho phép so sánh hiệu quả sản xuất
kinh doanh giữa các thời kỳ khác nhau trong một doanh nghiệp hay giữa các
doanh nghiệp. Mức tỷ xuất lợi nhuận (doanh lợi) càng cao thì sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp càng có hiệu quả.
a. Tỉ suất lợi nhuận vốn:
Là quan hệ tỉ lệ giữa lợi nhuận đạt đợc với số vốn sử dụng bảo quản trong
kỳ (vốn cố định và vốn lu động).
T
SV
= 100
T
SV
: Tỷ suất lợi nhuận vốn
P: Lợi nhuân vốn trong kỳ
V
bq
: tổng vốn sản xuất sử dụng bình quân trong kỳ
6
Chỉ tiêu này phản ánh cứ 100đ vốn kinh doanh trong kỳ thì tạo ra bao
nhiêu đồng lợi nhuận.
Việc sử dụng chỉ tiêu sử dụng lợi nhuận vốn nói lên trình độ tài sản vật t,
tiền tệ của doanh nghiệp, thông qua đó kích thích doanh nghiệp tìm ra khả năng
tiềm tàng quản lý và dùng vốn đạt hiệu quả cao.
b. Tỷ suất lợi nhuận giá thành.
Là quan hệ tỷ lệ giữa lợi nhuận tiêu thụ so với giá thành của toàn bộ sản
phẩm tiêu thụ.
T
s2
= 100
T
s2
: Tỷ suất lợi nhuận giá thành
P: Lợi nhuận tiêu thụ trong kỳ
Zt: giá thành toàn bộ sản phẩm hàng hoá tiêu thụ trong kỳ.
Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả của việc quản lý giá thành cụ thể: cứ 100đ
chỉ phải bỏ ra đợc sử dụng để sản xuất và tiêu thụ một đơn vị sản phẩm đem lại
đợc bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Khi xác định chỉ tiêu này cần tính tỷ suất lợi nhuận giá thành riêng cho
từng loại sản phẩm và tính chung cho toàn bộ sản phẩm tiêu thụ của doanh
nghiệp.
c. Tỷ suất lợi nhuận doanh thu bán hàng
Là quan hệ tỉ lệ giữa lợi nhuận tiêu thụ và doanh thu bán hàng trong kỳ.
T
st
= 100
T
st
: Tỉ suất lợi nhuận doanh thu bán hàng
Pt: Lợi nhuận tiêu thụ trong kỳ
T: Doanh thu tiêu thụ trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh kêt quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Qua chỉ tiêu này cho thấy trong 100đ doanh thu có bao nhiêu đồng lợi
nhuận.
7
Nếu tỉ suất này thấp hơn tỉ suất của ngành chứng tỏ doanh nghiệp bán
hàng với giá thấp hoặc do gía thành của doanh nghiệp cao hơn so với các doanh
nghiệp cùng ngành. Ngơc lại tỷ suất nâng cao hơn tỷ suất của ngành chứng tỏ
doanh nghiệp bán hàng với giá thấp hoặc do giá thành của doanh nghiệp thấp
hơn so với giá thành của doanh nghiệp cùng ngành.
d. Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu.
So với ngời cho vay, thì việc bỏ vốn vào hoạt động sản xuất kinh doanh
của chủ sở hữu mang tính mạo hiểm nhng lại có cơ hội mang lại lợi nhuận lớn.
Chỉ tiêu tỷ xuất lợi nhuận vốn chủ sở hữu đợc dùng làm thớc đo mức doanh lợi
trên mức đầu t của chủ sở hữu. Đó là quan hệ tỷ lệ giữa lợi nhuận ròng với vốn
tự có của doanh nghiệp:
T
svc
= 100
T
svc
: Tỉ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu
Pr: Lợi nhuận ròng trong kỳ
V
sh
: Vốn chủ sở hữu bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này cho thấy có bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng trong 100đ vốn
chủ sở hữu.
Tóm lại thông qua các chỉ tiêu về tỉ suất lợi nhuận có thể đánh giá một
cách tơng đối đầy đủvà chính xác tình hình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Từ đó có thể so sánh, đánh giá một cách hoàn chỉnh hơn giữa các doanh
nghiệp. Để thực hiện tốt và có hiệu quả cao đòi hỏi các doanh nghiệp phải biết
kết hợp chặt chẽ hai chỉ tiêu lợi nhuận tuyệt đối và lợi nhuận tơng đối.
II. Phấn đấu tăng lợi nhuận vấn đề tất yếu đối với mỗi doanh nghiệp.
Tối đa hoá lợi nhuận là mục tiêu của bất cứ doanh nghiệp nào trong nền
kinh tế thị trờng. Sự quan tâm chú ý của doanh nghiệp tới vấn đề lợi nhuận và
tối đa hoá lợi nhuận là tất yếu khách quan, xuất phát từ những lý do chủ yếu
sau:
1. Do vai trò của lợi nhuận đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp.
8
Lợi nhuận là chỉ tiêu quan trọng trong phân tích hoạt động kinh tế. Lợi
nhuận giữ vị trí trọng yếu trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Trong điều kiện hạch toán kinh doanh theo cơ chế thị trờng, lấy thu bù
chi và có lãi, doanh nghiệp có tồn tại và phát triển đợc hay không đều dựa vào
điều kiện doanh nghiệp có tạo ra lợi nhuận hay không. Do vậy lợi nhuận đợc coi
là chỉ tiêu cơ bản đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp.
Lợi nhuận là đòn bẩy kinh tế thúc đẩy sản xuất phát triển. Lợi nhuận tác
động đến tất cả các mặt hoạt động của doanh nghiệp. Tất cả mọi hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp đều nhằm tăng doanh thu giảm chi phí tăng
lợi nhuận. Ngợc lại lợi nhuận cũng thúc đẩy các hoạt động sản xuất kinh doanh
phát triển, tạo ra động lực phát triển trên cơ sở tận dụng khả năng và tiềm lực
hiện có.
Lợi nhuận góp phần tăng đầu t tích luỹ tái mở rộng sản xuất cho doanh
nghiệp. Trong cơ chế phân phối lợi nhuận hiện nay có tới 80% lợi nhuận còn lại
đợc đầu t vào quỹ đầu t phát triển. Từ quỹ này doanh nghiệp có điều kiện bổ
sung vốn cho qúa trình tái sản xuất kinh doanh, đầu t máy móc thiết bị mở rộng
quy mô phát triển chiều sâu trong sản xuất kinh doanh.
Lợi nhuận góp phần tăng thu cho ngân sách nhà nớc. ở tầm vĩ mô trong
nền kinh tế quốc dân, tăng lợi nhuận tạo điều kiện cho nền sản xuất xã hội phát
triển ngày càng mạnh mẽ, đồng thời tạo thêm nguồn thu cho ngân sách nhà nớc,
thể hiện ở các khoản nộp thuế cho nhà nớc, cũng nh các nghĩa vụ khác của
doanh nghiệp. Trên cơ sở các khoản thu này, ngân sách có điều kiện tập trung
vốn mở rộng đầu t, thành lập đơn vị sản xuất kinh doanh mới cũng nh đầu t
phát triển các công trình phúc lợi xã hội.
2. Xuất phát từ yêu cầu quản lý tài chính doanh nghiệp của nhà nớc.
Do yêu cầu của nguyên tắc hạch toán kinh doanh. Trớc đây, trong thời ỳ
bao cấp các vấn đề sản xuất của doanh nghiệp đều do nhà nớc quyết định, bao
cấp về vốn. Doanh nghiệp không phải tính đến hiệu quả kinh tế, lãi nộp nhà n-
ớc, lỗ nhà nớc bù. Do đó lợi nhuận cha trở thành thiết thực đối với doanh
nghiệp. Song hiện nay khi nền kinh tế chuyển sang nền kinh tế thị trờng thì các
doanh nghiệp thực sự trở thành chủ thể trong kinh doanh tự chịu trách nhiệm về
hiệu quả sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp phải giải quyết các vấn đề sản xuất
9
kinh doanh qua thị trờng và tự cấp phát tài chính cho mọi nhu cầu sản xuất kinh
doanh của mình. Doanh nghiệp sản xuất kinh doanh những thứ mà thị trờng cần
thiết chứ không phải những thứ doanh nghiệp có, sao cho đạt doanh thu cao
nhất, giảm chi phí, nhằm thu lợi nhuận cao nhất. Vì vậy lợi nhuận của doanh
nghiệp trong nền kinh tế thị trờng vừa là mục tiêu, vừa là động lực trực tiếp của
mỗi doanh nghiệp.
Do yêu cầu của việc bảo toàn và phát triển vốn. Để tiến hành sản xuất kinh
doanh, các doanh nghiệp phải đầu t tiền vốn và các yếu tố đầu vào khác. Để
thực hiện quá trình tái sản xuất mở rộng doanh nghiệp phải thu hồi vốn đầu t có
lợi nhuận bổ sung vốn đầu t cho phép tăng nguồn vốn và sản xuất kinh doanh.
Xuất phát từ những lý do trên mà trong thời kỳ hiện nay việc phấn đấu
tăng lợi nhuận là một tất yêú khách quan đối với doanh nghiệp.
III. Các nhân tố ảnh hởng và các biện pháp cơ bản làm tăng lợi nhuận.
1. Các nhân tố ảnh hởng.
Trong tổng số lợi nhuận của doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm là bộ phận
chủ yếu chiếm tỉ trọng lớn nhất do đó việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hởng đến
lợi nhuận về cơ bản là nghiên cứu các nhân tố đến lợi nhuận tiêu thụ sản phẩm.
Xuất phát từ công thức xác định lợi nhuận:
P
t
= D - Z
t
- T
h
P
t
: Lợi nhuận tiêu thụ trong kỳ
D: doanh thu tiêu thụ trong kỳ
Z
t
: Là giá thành toàn bộ sản phẩm tiêu thụ trong kỳ
T
h
: Thuế gián thu trong kỳ
Từ công thức ta thấy lợi nhuận của doanh nghiệp chịu ảnh hởng bởi doanh
thu tiêu thụ, giá thành sản phẩm hàng hoá, dịch vụ và các khoản thuế gián thu
phải nộp trong kỳ.
Doanh thu tiêu thụ là nhân tố ảnh hởng tỉ lệ thuận với lợi nhuận. Doanh
thu càng lớn thì lợi nhuận càng lớn và ngợc lại doanh thu càng nhỏ thì lợi
nhuận càng ít. Giá thành và thuế là nhân tố ảnh hởng tỷ lệ nghịch với lợi nhuận.
10
Giá thành và thuế cành cao thì lợi nhuận càng thấp và ngợc lại. Doanh thu tiêu
thụ và giá thành sản phẩm là các nhân tố có cấu thành phức tạp do đó biến động
cuả các nhân tố này phụ thuộc vào các bộ phận cấu thành nên chúng.
a. Nhóm nhân tố ảnh hởng đến giá thành
Giá thành toàn bộ sản phẩm hàng hoá đợc cấu thành theo công thức:
Z
t
= Z
cx
+ QL + B
Z
t
: giá thành toàn bộ sản phẩm hàng hoá, dịch vụ tiêu thụ trong kỳ
QL: Chi phí quan hệ doanh nghiệp
B: Chi phí tiêu thụ sản phẩm
Z
cx
: Giá thành công xởng sản phẩm tiêu thụ.
Công thức này cho thấy ảnh hởng để giá thành toàn bộ sản phẩm hàng hoá
tiêu thụ gồm có ba nhân tố:
- Giá thành công xởng sản phẩm tiêu thụ: Là biểu hiện bằng tiền của
những khoản chi phí sản xuất đợc tính vào giá thành của từng mặt hàng bao
gồm:
+ Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Là các chi phí về nguyên vật liệu,
nhiên liệu và động lực dùng trực tiếp cho sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp.
+ Chi phí nhân công trực tiếp: Là tiền lơng thù lao phải trả cho số lao
động trực tiếp chế tạo sản phẩm cùng các khoản trích cho các quỹ BHXH,
BHYT, chi phí công đoàn theo tỷ lệ quy định phân tích vào chi phí kinh doanh.
+ Chi phí sản xuất chung: Là các chi phí phát sinh trong phạm vi phân x-
ởng, bộ phận sản xuất trừ chi phí vật liệu và chi phí nhân công trực tiếp. Bao
gồm: điện cho phân xởng, khấu hao máy móc
- Chi phí tiêu thụ sản phẩm: Là các khoản chi phí phát sinh liên quan đến
việc tiêu thụ sản phẩm hàng hoá bao gồm: tiền lơng nhân viên bán hàng, chi
phí vật liệu bao gói, dụng cụ bán hàng.
- Chi phí quản lý doanh nghiệp: Là các chi phí quản lý kinh doanh, quản lý
hành chính và các chi phí chung khác có liên quan đến hoạt động của toàn
11
doanh nghiệp nh: tiền lơng và phụ cấp cho nhân viên quản lý các phòng ban, lãi
vay vốn kinh doanh, chi phí tiếp tân
b. Nhóm nhân tố ảnh hởng đến doanh thu tiêu thụ.
Doanh thu tiêu thụ sản phẩm hàng hoá trong kỳ đợc xác định theo công
thức:
D = (S
ti
g
i
)
D: Là doanh thu tiêu thụ sản phẩm hàng hoá trong kỳ
S
ti
: Khối lợng hàng hoá tiêu thụ trong kỳ
g
i
: Giá bán đơn vị sản phẩm hàng hoá
i: Loại sản phẩm hàng hoá tiêu thụ thứ i
Công thức trên cho thấy nhân tố ảnh hởng trực tiếp đến doanh thu tiêu thụ
sản phẩm hàng hoá do đó ảnh hởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp bao gồm:
- Khối lợng sản phẩm và tiêu thụ.
Trong điều kiện nhân tố khác không thay đổi, nếu khối lợng sản phẩm và
tiêu thụ tăng lên và sẽ làm tăng doanh thu tiêu thụ dẫn tới trực tiếp làm tăng lợi
nhuận tiêu thụ và ngợc lại nếu khối lợng sản phẩm sản xuất và tiêu thụ giảm
xuống sẽ làm giảm doanh thu tiêu thụ dẫn đến giảm lợi nhuận tiêu thụ. Khối l-
ợng sản phẩm sản xuất và tiêu thụ phụ thuộc vào các yếu tố: quy mô sản xuất,
dây truyền công nghệ, thị trờng tiêu thụ đây đợc coi là nhân tố ảnh hởng chủ
quan phản ánh sự cố gắng của doanh nghiệp trong công tác quản lý kinh doanh
nói chung và quản lý lợi nhuận nói riêng.
- Chất lợng sản phẩm và tiêu thụ.
Đây là yếu tốt rất quan trọng ảnh hởng tới doanh thu nên tiêu thụ thể hiện
ở chỗ có thể thúc đẩy hay kìm hãm công tác tiêu thụ chất lợng sản phẩm tốt
không chỉ làm tăng khả năng tiêu thụ mà còn có thể nâng cao giá bán, ngợc lại
chất lợng sản phẩm sấu thì chất lợng tiêu thụ thấp thì giá bán không cao. Ngoài
việc là phơng tiện hỗ trợ bán hàng thì chất lợng sản phẩm còn là một vũ khí
cạnh tranh sát bén giữa các đối thủ trong nền kinh tế thị trờng. Việc đảm bảo
12
r
i = 1
chất lợng sản phẩm ở mức cao sẽ tạo uy tín cho doanh nghiệp đối với khách
hàng, đây là điều kiện cơ bản bảm đảm cho sự tồn tại và phát triển của doanh
nghiệp.
+ Giá tiêu thụ sản phẩm:
Trong điều kiện các nhân tố khác thay đổi, giá bán đơn vị sản phẩm tăng
lên làm doanh thu và do đó tăng lợi nhuận, ngợc lại giá bán đơn vị sản phẩm
làm giảm doanh thu và dẫn đến lợi nhuận giảm. Tuy nhiên trong cơ chế thị tr-
ờng giá bán của sản phẩm thờng đợc hình thành khách quan do quan hệ cung
cầu trên thị trờng quy định. Điều này có nghĩa là doanh nghiệp không thể tự
tăng giá cao hơn các mặt hàng cùng loại trên trị trờng, cũng nh giảm giá hơn
các đối thủ. Đối với các doanh nghiệp Nhà nớc đợc Nhà nớc ra chỉ tiêu sản xuất
tiêu thụ một số mặt hàng nào đó thì giá bán này do Nhà nớc quy định. Trong tr-
ờng hợp này thì giá bán biến đổi dẫn đến lợi nhuận tiêu thụ biến đổi, nó đợc
đánh giá là tác động khách quan đối với doanh nghiệp.
+ Kết cấu sản phẩm tiêu thụ:
Đối với các doanh nghiệp sản xuất nhiều loại sản phẩm, chi phí để sản
xuất ra mỗi loại sản phẩm là khác nhau, mỗi loại sản phẩm tiêu thụ trong kỳ có
mức lãi, lỗ khác nhau. Do đó trong điều kiện nhân tố khác không đổi việc biến
đổi cơ cấu mặt hàng có thể làm tăng tỷ trọng của hàng hoá có mức lãi cao và
làm giảm tỷ trọng hàng hoá có mức lãi thấp làm tổng lợi nhuận tiêu thụ tăng
hoặc có thểlàm giảm tỉ trọng hàng hoá có mức lợi nhuận cao và làm tăng tỷ
trọng có mức lợi nhuận thấp kết quả là làm giảm tổng lợi nhuận tiêu thụ.
Sự biến đổi kết cấu mặt hàng có thể do yếu tố chủ quan của doanh nghiệp
tạo ra, song cũng có dựa vào sự biến động nhu cầu của thị trờng. Trong trờng
hợp này doanh nghiệp phải điều chỉnh cho phù hợp với nhu cầu đó.
2. Các biện pháp cơ bản làm tăng lợi nhuận
Tăng lợi nhuận là tất yếu khách quan đối với sự tồn tại và phát triển của
doanh nghiệp. Tuy nhiên ở các doanh nghiệp khác nhau trong các thời kỳ khác
nhau có các biện pháp khác nhau để đạt đợc mục đích này. Nói chung để tăng
lợi nhuận trong các đơn vị sản xuất kinh doanh hiện nay, có một số biện pháp
cơ bản sau:
13
a. Nâng cao số lợng và chất lợng sản phẩm
Tiêu thụ là khâu cuối cùng của quá trình sản xuất. Hoàn thành việc tiêu
thụ sản phẩm là điều kiện để đảm bảo cho quá trình tái sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp. Kết quả của việc tiêu thụ sản phẩm phụ thuộc chủ yếu vào
khối lợng và chất lợng sản phẩm tiêu thụ. Trong đó khối lợng và chất lợng sản
phẩm sản xuất, tiêu thụ lại phụ thuộc rất nhiều vào các nhân tố nh trình độ trang
bị kỹ thuật
Do đó để thực hiện tốt biện pháp này doanh nghiệp cần phải tiến hành các
nội dung sau:
- Tăng cờng đầu t chiều sâu, hiện đại hoá máy móc thiết bị.
- Tổ chức quản lý và sử dụng hiệu quả lao động, đào tạo bồi dỡng nâng
cao trình độ nghiệp vụ cho công nhân viên nhằm nâng cao năng suất lao động.
- Mở rộng mặt hàng sản xuất và đa dạng hoá sản phẩm
- Thúc đẩy qúa trình tiêu thu bằng các chính sách xúc tiến bán hàng, phát
triển mạng lới cung ứng sản phẩm và thực hiện dịch vụ.
b. Hạ giá thành sản phẩm
Hạ giá thành sản phẩm chính là giảm chi phí sản xuất và tiêu thụ các sản
phẩm đó. Nếu nh giá bán và mức thuế đã xác định thì lợi nhuận đơn vị sản
phẩm sẽ do giá thành sản phẩm quyết định. Để hạ giá thành sản phẩm cần thực
hiện các nội dung sau:
- Tăng năng suất lao động: Là thực hiện tiết kiệm thời gian lao động hao
phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm hay tăng số lợng sản phẩm trong một
đơn vị thời gian.
Do năng suất lao động phụ thuộc nhiều yếu tố nh: Trình độ trang bị máy
móc thiết bị, trình độ tay nghề của lao động do đó việc tăng năng suất lao
động là cần phải:
+ Cải tiến máy móc thiết bị cho phù hợp với điều kiện sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp, tạo tiền đề cho việc sản xuất sử dụng triệt để công suất máy
móc thiết bị.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét