Đặng Thị Lan Quản lý Kinh tế 49A
rủi ro hơn và nhanh chóng thu hồi vốn đầu tư. Vì vầy mà hầu hết các nước
đều tập trung mọi cố gắng điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư trực tiếp nước
ngoài vào hai ngành này . xuất phát từ yêu cầu phát triển một cơ cấu kinh tế
hiện đại theo hướng cnh mà chính phủ của nhiều nước đang phát triển đã
dành nhiều ưu đãi cho những nước ngoài đầu tư vào hai ngành này, điều đó
tạo ra sức mạnh hấp dẫn mạnh mẽ đầu tư trực tiếp nước ngoài.
*hiện tượng hai chiều trong đầu tư trực tiếp nước ngoài từ nhưng năm 70
và dầu những năm 80 trở lại đây , đã xuất hiện hiện tượng hai chiều , tức là
hiện tượng một nước vừa tiếp nhận đầu tư vừa đầu tư ra nước ngoài. điển hình
như mỹ, các nước thuộc nhóm G7, các nước công nghiệp mới nhận vốn đầu
tư nhiều và trực tiếp đầu tư lớn. ở các nước níc là những nước tiếp nhận đầu
tư trực tiếp nhiều nhất từ mỹ và Nhật Bản. đài loan và hồng kông là hai trong
số 10 nước đầu .
I.2. Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài
I.2.1. nguồn vốn hỗ trợ cho phát triển kinh tế
Tỷ lệ tích luỹ vốn ở nước ta còn ở mức thấp, là một trở ngại lớn cho phát
triển kinh tế xã hội. với mục tiêu “xây dựng nền kinh tế độc lập tư chủ, đưa
nước ta trở thành một nước công nghiệp , ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất
đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp với định hướng xã hội chủ
nghĩa với lượng tích luỹ vốn này việt nam sẽ gặp trở ngại. thu hút FDI là một
hình thức huy động vốn để hỗ trợ cho nhu cầu đầu tư của nền kinh tế. hơn nữa
fdi có nhiều ưu thế so với hình thức huy động khác, ví dụ như vay vốn nước
ngoài luôn đi kèm với một mức lãi suất nhất định và đôi khi trở thành gánh
nặng cho nền kinh tế, hoặc các khoản viện trợ luôn đi kèm các điều kiện về
kinh tế trong khi lien doanh với nước ngoài, việc bỏ vốn đầu tư của các doanh
nghiệp trong nước có thể giảm được rủi ro về tài chính.bởi vì :thứ nhất là họ
5
Đặng Thị Lan Quản lý Kinh tế 49A
có kinh nghiệm nên hạn chế và ngăn chặn được rủi ro. Hai là trong tình huống
xí nghiệp lien doanh giữa họ với chúng ta, có nguy cơ rủi ro thì các công ty
mẹ có biện pháp hỗ trợ về sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, trợ giúp tài chính.
Trong tình huống xấu nhất thì họ sẽ là người cùng chia sẻ rủi ro với các công
ty nước sở tại FDI vào việt nam sẽ tạo ra các tác động tích cưc với việc huy
động các nguồn vốn khác như oda ngo. Nó tạo ra hình ảnh đẹp đáng tin cậy
về việt nam trong các tổ chức và cá nhân nước ngoài.mặt khác ngay trong
quan hệ đối nội FDI còn có tác dụng kích thích đối với việc thu hút đầu tư
trong nước
Tích luỹ vốn ban đầu cho công nghiệp hoá bằng cách khai thác tối đa
nguồn vốn trong nước và tranh thủ nguồn vốn hỗ trợ từ bên ngoài là phù hợp
với thời đại hiện nay thời đại của sự hợp tác và liên kết quóc tế
I.2.2. chuyển giao công nghệ mới
Với chiến lược xây dụng nước việt nam thành nước cong nghiệp, theo
đuổi con đương CNH, HDH đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tuy
nhiên khoảng cách về phát triển khoa học công nghệ giữa các nước phát triển
nhất là việt nam với các nước cong nghiệp phát triển. vì thế một trở ngại rất
lớn trên con đường phát triển kinh tế là trình độ kỹ thuật – công nghệ lạc hậu.
tuỳ thuộc vào hoàn cảnh của mỗi nước mà có cách đi riêng giải quyết vấn đề
này. việc mà các nước đang phát triển tự nghiên cứu để phát triển khoa học kỹ
thuật cho kịp với trình độ của các nước phát triển là việc rất khó khăn và tốn
kém. Con đường nhanh nhất để phát triển kỹ thuật công nghệ và trình độ sản
xuất của các nước trong thời đại ngày nay là phải biết tận dụng những thành
tưu kỹ thuật công nghẹ của thế giới tuy nhiên mức độ hiện đại đến đâu tuỳ
thuộc vào nhiều yếu tố.trong điều kiện hiênnj nay trên thế giới có nhiều quốc
gia có nhu cầu đầu tư ra bên ngoài và thực hiện trong các nước đang phát
6
Đặng Thị Lan Quản lý Kinh tế 49A
triển trong đó có việt nam có thể tiếp thu được kỹ thuật công nghệ một cách
thuận lợi nhất. nhưng không phải các nước phát triển được đi xe miễn phí mà
họ phải trả một khoảng học phí không nhỏ cho việc tiếp nhận chuyển giao
công nghệ này. chuyển giao công nghệ cung là một yếu của sự phát triển khoa
học công nghệ. bất kì một tổ chức nào muốn thay thế kỹ thuật công nghệ mới
cung phải tìm được nơi thải kỹ thuật công nghệ cũ. việc thải những công nghệ
cũ này dễ dàng được nhiêu nơi chấp thuận. tuy nhiên các nước phát triển xem
các nước đang phát triển như một bãi rác là nơi thải các máy móc lạc hậu …vì
vậy việc tiếp nhận công nghệ thong qua kênh fdi còn nhiều vấn đề cần giải
quyết thứ nhất khi tiếp nhận máy móc vào lắp đặt xây dựng việt nam có biện
pháp kiểm tra chặt chẽ nên đã để cho nước ngoài đưa vào các công nghệ cũ và
lạc hậu . thứ hai rất ít có sự khuyếch tán công nghệ từ các ngành tiếp nhận
công nghệ sang các ngành khác của nền kinh tế . thứ ba năng lực tiếp nhận
của chúng ta còn yếu việc lựa chọn kỹ thuật còn nhiều lung túng chưa có kế
hoạch quy hoạch tổng thể đôi khi còn tuỳ tiên hoặc thiếu hiểu biết
FDI mang lại cho nước tiếp nhận đầu tư nhửng kỹ thuật công nghệ tiên
tiến yếu tố quan trọng để phát triển lực lượng sản xuất
I.2.3. thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Để hội nhập vào nền kinh tế thế giới và tham gia tích cực vào quá trình
liên kết kinh tế giữa các nước trên thế giới đòi hỏi từng quốc gia phải thay đổi
cơ cấu kinh tế trong nước cho phù hợp với phân công lao động quốc tế bởi lẽ
đầu tư nước ngoài ghóp phần thúc đẩy nhanh chóng quá trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế bởi vì 1)thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài đã làm xuất hiện
nhiều lĩnh vực và ngành kinh tế mới ở nước nhận đầu tư 2)giúp vào sự phát
triển nhanh chóng trình độ kỹ thuật công nghệ ở nhiều ngành kinh tế ghóp
phần thúc đẩy tăng năng suất lao động ở các ngành này và làm tăng tỉ trọng
7
Đặng Thị Lan Quản lý Kinh tế 49A
của nó trong nền kinh tế 3)một số ngành được kích thích phát triển bởi đầu tư
trực tiếp nước ngoài nhưng cũng có nhiều ngành bị mai một đi rồi dẫn đến
chỗ bị xoá bỏ
Về cơ cấu ngành kinh tế được thể hiện của các nghành trong gdp tỷ trọng
của việt nam trong năm1990 đến nay có sự thay đổi đáng kể các ngành kinh tế
đã có sự chuyển biến tích cực tất cả các nhóm nghành đều tăng do có sự tăng
cường đầu tư nhiều hơn nhất là trang bị công nghệ,nền sản xuất công nghiệp
trong thời gian đã đạt tốc độ nhanh và chiếm tỉ trọng ngày càng tăng trong
GDP trong 9 tháng đầu năm 1996 giá trị sản lượng trong khu vực có vốn fdi
chiếm 21,7% tổng sản lượng công nghiệp hiện nay khu vực này chiếm
100%về khai thác dầu thô,44%về sản lượng thép hầu hết lĩnh vực lắp ráp ô
tô,xe máy và sản xuất bóng hình là do các cơ sở này nắm giữ.qua đây thấy vai
trò fdi trong nền sản xuất công nghiệp của việt nam hiện nay
FDI thực sự có vai trò to lớn với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế thong qua
việc đầu tư nhiều hơn vào nghành công nghiệp vì ngành công nghiệp có năng
suất lao động cao nhất và tỉ trọng lớn trong nền kinh tế nên fdi đã đóng ghóp
phần to lớn vào tăng nhanh tốc độ phát triển kinh tế quốc dân
Để trở thành quốc gia công nghiệp hoá vào năm 2020và để nền kinh tế
việt nam có thể hội nhập với khu vực và trên thế giới một đòi hỏi bức xúc là
phải đẩy nhanh hơn nữa quá trình chuyển cơ cấu kinh tế
Hoạt động của đầu tư đã giúp việt nam mở rộng hơn thị phần nước
ngoài. Ghóp phần làm chuyển biến nền kinh tế việt nam theo hướng của nền
kinh tế hang hoá. đối với việt nam vốn fdi đóng vai trò như lực lượng khởi
động như những điều kiện đảm bảo cho sự phát triển của công nghiệp hoá
hiện đại hoá một số dự án fdi ghóp phần làm vực dậy một số doanh nghiệp
việt nam đang trong điều kiện khó khăn sản xuất đình đốn nguy cơ phá sản
8
Đặng Thị Lan Quản lý Kinh tế 49A
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở
VIỆT NAM SAU KHI MỞ CỦA (TỪ 1988 ĐẾN NAY)
II.1. Cấp phép đầu tư từ 1988 đến 2007:
Tính đến cuối năm 2007, cả nước có hơn 9.500 dự án ĐTNN được cấp
phép đầu tư với tổng vốn đăng ký khoảng 98 tỷ USD (kể cả vốn tăng thêm).
Trừ các dự án đã hết thời hạn hoạt động và giải thể trước thời hạn, hiện có
8.590 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 83,1 tỷ USD. Biểu đồ tình
hình cấp chứng nhận đầu tư tại Việt Nam có sự biến động (xem tại Phụ lục).
Trong 3 năm 1988-1990, mới thực thi Luật Đầu tư trực tiếp nước ngoài
tại Việt Nam nên kết quả thu hút vốn ĐTNN còn ít (214 dự án với tổng vốn
đăng ký cấp mới 1,6 tỷ USD), ĐTNN chưa tác động đến tình hình kinh tế-xã
hội đất nước.
Trong thời kỳ 1991-1995, vốn ĐTNN đã tăng lên (1.409 dự án với tổng
vốn đăng ký cấp mới 18,3 tỷ USD) và có tác động tích cực đến tình hình kinh
tế-xã hội đất nước. Thời kỳ 1991-1996 được xem là thời kỳ “bùng nổ” ĐTNN
tại Việt Nam (có thể coi như là “làn sóng ĐTNN” đầu tiên vào Việt Nam) với
1.781 dự án được cấp phép có tổng vốn đăng ký (gồm cả vốn cấp mới và tăng
vốn) 28,3 tỷ USD. Đây là giai đoạn mà môi trường đầu tư-kinh doanh tại Việt
Nam đã bắt đầu hấp dẫn nhà đầu tư do chi phí đầu tư-kinh doanh thấp so với
một số nước trong khu vực; sẵn lực lượng lao động với giá nhân công rẻ, thị
trường mới, vì vậy, ĐTNN tăng trưởng nhanh chóng, có tác động lan tỏa tới
các thành phần kinh tế khác và đóng góp tích cực vào thực hiện các mục tiêu
kinh tế-xã hội của đất nước. Năm 1995 thu hút được 6,6 tỷ USD vốn đăng ký,
9
Đặng Thị Lan Quản lý Kinh tế 49A
tăng gấp 5,5 lần năm 1991 (1,2 tỷ USD). Năm 1996 thu hút được 8,8 tỷ USD
vốn đăng ký, tăng 45% so với năm trước.
Trong 3 năm 1997-1999 có 961 dự án được cấp phép với tổng vốn đăng
ký hơn 13 tỷ USD; nhưng vốn đăng ký của năm sau ít hơn năm trước (năm
1998 chỉ bằng 81,8% năm 1997, năm 1999 chỉ bằng 46,8% năm 1998), chủ
yếu là các dự án có quy mô vốn vừa và nhỏ. Cũng trong thời gian này nhiều
dự án ĐTNN được cấp phép trong những năm trước đã phải tạm dừng triển
khai hoạt động do nhà đầu tư gặp khó khăn về tài chính (đa số từ Hàn Quốc,
Hồng Kông).
Từ năm 2000 đến 2003, dòng vốn ĐTNN vào Việt Nam bắt đầu có dấu
hiệu phục hồi chậm. Vốn đăng ký cấp mới năm 2000 đạt 2,7 triệu USD, tăng
21% so với năm 1999; năm 2001 tăng 18,2% so với năm 2000; năm 2002 vốn
đăng ký giảm, chỉ bằng 91,6% so với năm 2001, năm 2003 (đạt 3,1 tỷ USD),
tăng 6% so với năm 2002. Và có xu hướng tăng nhanh từ năm 2004 (đạt 4,5
tỷ USD) tăng 45,1% so với năm trước; năm 2005 tăng 50,8%; năm 2006 tăng
75,4% và năm 2007 đạt mức kỷ lục trong 20 năm qua 20,3 tỷ USD, tăng 69%
so với năm 2006, và tăng hơn gấp đôi so với năm 1996, năm cao nhất của thời
kỳ trước khủng hoảng.
Trong giai đoạn 2001-2005 thu hút vốn cấp mới (kể cả tăng vốn) đạt
20,8 tỷ USD vượt 73% so với mục tiêu tại Nghị quyết 09/2001/NQ-CP ngày
28/8/2001 của Chính phủ
1
[2]
, vốn thực hiện đạt 14,3 tỷ USD tăng 30% so với
mục tiêu. Nhìn chung trong 5 năm 2001-2005, vốn ĐTNN cấp mới đều tăng
đạt mức năm sau cao hơn năm trước (tỷ trọng tăng trung bình 59,5%), nhưng
đa phần là các dự án có quy mô vừa và nhỏ. Đặc biệt trong 2 năm 2006-2007,
dòng vốn ĐTNN vào nước ta đã tăng đáng kể (32,3 tỷ USD) với sự xuất hiện
1
10
Đặng Thị Lan Quản lý Kinh tế 49A
của nhiều dự án quy mô lớn đầu tư chủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp (sản
xuất thép, điện tử, sản phẩm công nghệ cao, ) và dịch vụ (cảng biển, bất
động sản, công nghệ thông tin, du lịch-dịch vụ cao cấp .v.v.). Điều này cho
thấy dấu hiệu của “làn sóng ĐTNN” thứ hai vào Việt Nam.
II.2. Tình hình tăng vốn đầu tư (1988-2007):
Cùng với việc thu hút các dự án đầu tư mới, nhiều dự án sau khi hoạt
động có hiệu quả đã mở rộng quy mô sản xuất-kinh doanh, tăng thêm vốn
đầu tư, nhất là từ năm 2001 trở lại đây. Tính đến hết năm 2007 có gần 4.100
lượt dự án tăng vốn đầu tư với tổng vốn tăng thêm hơn 18,9 tỷ USD, bằng
23,8% tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới.
Thời kỳ 1988-1990 việc tăng vốn đầu tư hầu như chưa có do số lượng
doanh nghiệp ĐTNN còn ít. Từ số vốn đầu tư tăng thêm đạt 2,13 tỷ USD
trong 5 năm 1991-1995 thì ở giai đoạn 1996-2000 đã tăng gần gấp đôi so với
5 năm trước (4,17 tỷ USD). Giai đoạn 2001-2005 vốn đầu tư tăng thêm đạt
7,08 tỷ USD (vượt 18% so dự kiến là 6 tỷ USD) tăng 69% so với 5 năm trước.
Trong đó, lượng vốn đầu tư tăng thêm vượt con số 1 tỷ USD bắt đầu từ năm
2002 và từ năm 2004 đến 2007 vốn tăng thêm mỗi năm đạt trên 2 tỷ USD,
mỗi năm trung bình tăng 35%.
Vốn tăng thêm chủ yếu tập trung vào các dự án thuộc lĩnh vực sản xuất
công nghiệp và xây dựng, đạt khoảng 40,6% trong giai đoạn 1991-1995 ;
65,7% trong giai đoạn 1996-2000, khoảng 77,3% trong thời kỳ 2001-2005.
Trong 2 năm 2006 và 2007 tỷ lệ tương ứng là 80,17% và 79,1% tổng vốn
tăng thêm.
Do vốn đầu tư chủ yếu từ các nhà đầu tư châu Á (59%) nên trong số vốn
tăng thêm, vốn mở rộng của các nhà đầu tư châu Á cũng chiếm tỷ trọng cao
nhất 66,8% trong giai đoạn 1991-1995, đạt 67% trong giai đoạn 1996-2000,
11
Đặng Thị Lan Quản lý Kinh tế 49A
đạt 70,3% trong thời kỳ 2001-2005. Trong 2 năm 2006 và 2007 tỷ lệ tương
ứng là 72,1% và 80%.
Việc tăng vốn đầu tư mở rộng sản xuất thực hiện chủ yếu tại các vùng
kinh tế trọng điểm nơi tập trung nhiều dự án có vốn ĐTNN: Vùng trọng điểm
phía Nam chiếm 55,5% trong giai đoạn 1991-1995 ; đạt 68,1% trong thời kỳ
1996-2000 và 71,5% trong giai đoạn 2001-2005. Trong 2 năm 2006 và 2007
tỷ lệ tương ứng là 71% và 65%. Vùng trọng điểm phía Bắc có tỷ lệ tương
ứng là 36,7%; 20,4% ; 21,1% ; 24% và 20%.
Qua khảo sát của Tổ chức Xúc tiến thương mại Nhật Bản -JETRO tại
Việt Nam có trên 70% doanh nghiệp ĐTNN được điều tra có kế hoạch tăng
vốn, mở rộng sản xuất tại Việt Nam. Điều này chứng tỏ sự tin tưởng và an
tâm của nhà ĐTNN vào môi trường đầu tư-kinh doanh tại Việt Nam.
II.3. Quy mô dự án :
Qua các thời kỳ, quy mô dự án ĐTNN có sự biến động thể hiện khả năng
tài chính cũng như sự quan tâm của các nhà ĐTNN đối với môi trường đầu tư
Việt Nam. Quy mô vốn đầu tư bình quân của một dự án ĐTNN tăng dần qua
các giai đoạn, tuy có “trầm lắng” trong vài năm sau khủng hoảng tài chính
khu vực 1997. Thời kỳ 1988-1990 quy mô vốn đầu tư đăng ký bình quân đạt
7,5 triệu USD/dự án/năm. Từ mức quy mô vốn đăng ký bình quân của một dự
án đạt 11,6 triệu USD trong giai đoạn 1991-1995 đã tăng lên 12,3 triệu USD/
dự án trong 5 năm 1996-2000. Điều này thể hiện số lượng các dự án quy mô
lớn được cấp phép trong giai đoạn 1996-2000 nhiều hơn trong 5 năm trước.
Tuy nhiên, quy mô vốn đăng ký trên giảm xuống 3,4 triệu USD/dự án trong
thời kỳ 2001-2005. Điều này cho thấy đa phần các dự án cấp mới trong giai
đoạn 2001-2005 thuộc dự án có quy mô vừa và nhỏ. Trong 2 năm 2006 và
2007, quy mô vốn đầu tư trung bình của một dự án đều ở mức 14,4 triệu
12
Đặng Thị Lan Quản lý Kinh tế 49A
USD, cho thấy số dự án có quy mô lớn đã tăng lên so với thời kỳ trước, thể
hiện qua sự quan tâm của một số tập đoàn đa quốc gia đầu tư vào một số dự
án lớn (Intel, Panasonic, Honhai, Compal, Piaggio ).
II.4. Cơ cấu vốn ĐTNN từ 1988 đến 2007:
ĐTNN phân theo ngành nghề :
- Lĩnh vực công nghiệp và xây dựng:
Từ khi ban hành Luật Đầu tư nước
ngoài năm 1987, Việt Nam đã chú trọng
thu hút ĐTNN vào lĩnh vực công nghiệp-
xây dựng. Qua mỗi giai đoạn các lĩnh vực
ưu tiên thu hút đầu tư, các sản phẩm cụ thể
được xác định tại Danh mục các lĩnh vực
khuyến khích và đặc biệt khuyến khích đầu
tư.
Trong những năm 90 thực hiện chủ trương
thu hút ĐTNN, Chính phủ ban hành chính sách ưu
đãi, khuyến khích các dự án : (i) sản xuất sản phẩm
thay thế hàng nhập khẩu, (ii) sản xuất hàng xuất
khẩu (có tỷ lệ xuất khẩu 50% hoặc 80% trở lên),
(iii) công nghiệp là lĩnh vực thu hút nhiều FDI nhất
ảnh:Hoàng Hà
sử dụng nguồn nguyên liệu trong nước và có tỷ lệ nội địa hoá cao.
Sau khi gia nhập và thực hiện cam kết với WTO (năm 2006), Việt Nam
đã bãi bỏ các quy định về ưu đãi đối với dự án có tỷ lệ xuất khẩu cao, không
yêu cầu bắt buộc thực hiện tỷ lệ nội địa hoá và sử dụng nguyên liệu trong
nước. Qua các thời kỳ, định hướng thu hút ĐTNN lĩnh vực công nghiệp- xây
dựng tuy có thay đổi về lĩnh vực, sản phẩm cụ thể nhưng cơ bản vẫn theo định
13
Đặng Thị Lan Quản lý Kinh tế 49A
hướng khuyến khích sản xuất vật liệu mới, sản phẩm công nghệ cao, công
nghệ thông tin, cơ khí chế tạo, thiết bị cơ khí chính xác, sản xuất sản phẩm và
linh kiện điện tử Đây cũng chính là các dự án có khả năng tạo giá trị gia
tăng cao và Việt Nam có lợi thế so sánh khi thu hút ĐTNN. Nhờ vậy, cho
đến nay các dự án ĐTNN thuộc các lĩnh vực nêu trên (thăm dò và khai thác
dầu khí, sản xuất các sản phẩm công nghệ cao, sản phẩm điện và điện tử, sản
xuất sắt thép, sản xuất hàng dệt may ) vẫn giữ vai trò quan trọng đóng góp
cho tăng trưởng kinh tế, xuất khẩu và tạo nhiều việc làm và nguồn thu nhập
ổn định cho hàng triệu lao động trực tiếp. Cơ cấu đầu tư có chuyển biến tích
cực theo hướng gia tăng tỷ trọng đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao, lọc dầu
và công nghệ thông tin (IT) với sự có mặt của các tập đoàn đa quốc gia nổi
tiếng thế giới: Intel, Panasonic, Canon, Robotech.v.v. Hầu hết các dự án
ĐTNN này sử dụng thiết bị hiện đại xấp xỉ 100% và tự động hoá đạt 100%
cho sản lượng, năng suất, chất lượng cao, do đó có ảnh hưởng lớn đến các chỉ
tiêu giá trị của toàn ngành.
Tính đến hết năm 2007, lĩnh vực công nghiệp và xây dựng có tỷ trọng
lớn nhất với 5.745 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký hơn 50 tỷ USD,
chiếm 66,8% về số dự án, 61% tổng vốn đăng ký và 68,5% vốn thực hiện.
STT
Chuyên
ngành
Số
dự án
Vốn đầu t ư
(USD)
Vốn thực hiện
(USD)
1 CN dầu khí 38 3,861,511,815 5,148,473,303
2 CN nhẹ 2,542 13,268,720,908 3,639,419,314
3 CN nặng 2,404 23,976,819,332 7,049,365,865
4 CN thực phẩm 310 3,621,835,550 2,058,406,260
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét