Thứ Năm, 23 tháng 1, 2014

Giải pháp mở rộng xuất khẩu rau quả của Việt nam vào thị trường Mỹ

Khoá lu

n t

t nghi

p
II. GI I PHÁP M R NG XU T KH U RAU QU VÀO TH TR NG MẢ Ở Ộ Ấ Ẩ Ả Ị ƯỜ Ỹ
76
1. NH NG GI I PHÁP VI MÔỮ Ả 76
1.1 Đ y m nh các ho t đ ng Marketing và nghiên c u th tr ngẩ ạ ạ ộ ứ ị ườ 76
1.2. Nâng cao kh năng c nh tranh c a xu t kh u rau quả ạ ủ ấ ẩ ả 81
1.3. Gi i pháp v v n và tài chínhả ề ố 85
1.4. Chú tr ng đào t o đ i ng cán bọ ạ ộ ũ ộ 86
1.5. Gi i pháp v công ngh và thông tinả ề ệ 87
2. NH NG GI I PHÁP V MÔỮ Ả Ĩ 89
2.1. Chính sách đ t đaiấ 89
2.2. Chính sách phát tri n th tr ng xu t kh u rau quể ị ườ ấ ẩ ả 91
2.3. Chính sách đ u tầ ư 92
2.4. Chính sách v n, tín d ngố ụ 93
2.5. Chính sách b o hi m kinh doanh xu t kh u rau quả ể ấ ẩ ả 94
2.6. Chính sách h tr , khuy n khích xu t kh u rau quỗ ợ ế ấ ẩ ả 95
K T LU NẾ Ậ 100
TÀI LI U THAM KH O:Ệ Ả 1
Đặng Thị Lan Phương - Pháp 1 - K38

Khoá lu

n t

t nghi

p
LỜI MỞ ĐẦU
Sau hơn 15 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành công
rất đáng kể. Từ một nước nông nghiệp phải nhập khẩu lớn lương thực triền
miên, giờ đây chúng ta đã trở thành một nước xuất khẩu gạo và nhiều nông
sản khác có vị thế trên thế giới. Từ khi Nghị Quyết Đại Hội Đảng lần thứ
VIII hướng dẫn thực hiện đa dạng hoá cây trồng, hướng về xuất khẩu,
ngành rau quả Việt Nam đã có những bước phát triển, và thích ứng kịp trước
những biến động đột ngột của thị trường nước ngoài, trước hết là thị trường
Mỹ.
Quá trình bình thường hoá quan hệ Việt Mỹ, đặc biệt là hiệp định
thương mại song phương được ký kết và có hiệu lực tháng 12/2001 là động
lực mở cánh cửa thị trường Mỹ, một thị trường hấp dẫn và lớn nhất thế giới,
để cho các doanh nghiệp Việt Nam vào cuộc và cạnh tranh một cách bình
đẳng với các nước khác. Các doanh nghiệp Việt Nam đang đứng trước cơ
hội lớn để đẩy mạnh xuất khẩu và đa phương hoá thị trường.
Trong bối cảnh đó, em đã chọn đề tài “Giải pháp mở rộng xuất
khẩu rau quả của Việt nam vào thị trường Mỹ” cho khoá luận tốt nghiệp
của mình. Với sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo Nguyễn Trung Vãn cùng
với sự nỗ lực của bản thân, em mong muốn được nghiên cứu sâu hơn về các
giải pháp nhằm mở rộng xuất khẩu rau quả Việt Nam.
Nội dung đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát thị trường rau quả Mỹ
Chương 2: Thực trạng xuất khẩu của rau quả Việt Nam vào thị trường
Mỹ trong những năm gần đây
Chương 3: Định hướng và giải pháp mở rộng xuất khẩu của rau quả
Việt Nam vào thị trường Mỹ.
Tuy đã có nhiều cố gắng và nỗ lực, nhưng do những hạn chế về thời
gian, kinh nghiệm và khả năng của người viết, nên đề tài này khó tránh khỏi
Đặng Thị Lan Phương - Pháp 1 - K38
1
Khoá lu

n t

t nghi

p
những sai sót. Vì vậy em mong được sự chỉ dẫn tận tình của các thầy cô
trong Trường và ý kiến của đông đảo độc giả.
Em xin chân thành c

m
ơ
n!
Sinh viên th

c hi

n:
Đặ
ng Th

Lan Ph
ươ
ng
Đặng Thị Lan Phương - Pháp 1 - K38
2
Khoá lu

n t

t nghi

p
CHƯƠNG I
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG RAU QUẢ MỸ
I. TÌNH HÌNH TIÊU THỤ
1. ĐẶC ĐIỂM CỦA THỊ TRƯỜNG RAU QUẢ MỸ
Hợp chủng quốc Hoa kỳ là một trong những nước có diện tích lớn
nhất thế giới (9,4 triệu km
2
), dân số đông với thành phần số rất phức tạp.
Đây là một quốc gia trẻ với nhiều người nhập cư từ khắp các châu lục trên
thế giới, thực sự là một thị trường khổng lồ và rất lý tưởng đối với những
nước muốn đẩy mạnh xuất khẩu. Thị trường rau quả Hoa Kỳ là một thị
trường với mức tiêu dùng cao, nhu cầu rau và trái cây các loại và luôn có xu
hướng tăng. Do lượng dân nhập cư ngày càng đông và mang đến những sở
thích thị hiếu tiêu dùng khác nhau, lượng giao dịch rau quả trên thị trường
ngày càng đa dạng với đủ các chủng loại quả và rau đến từ khắp các miền
khí hậu của mọi khu vực trên thế giới. Không chỉ loại quả có múi như cam,
bưởi, quýt trên thị trường Mỹ mà nhiều chủng loại khác, đặc biệt là quả
nhiệt đới và chuối cũng tham gia không kém phần sôi động trên thị trường
rau quả khổng lồ này. Mỹ là một trong những nước vừa xuất khẩu vừa nhập
khẩu trái cây và rau lớn nhất thế giới. Phần lớn rau quả được phân phối qua
hệ thống kênh phân phối là các siêu thị bán lẻ và các cửa hàng thực phẩm,
cung cấp hàng hoá cho người tiêu dùng cuối cùng khắp nước Mỹ. Vai trò
của các nhà trung gian phân phối như người chuyên nhập khẩu, người bán
buôn ngày càng giảm, còn vai trò của các nhà sản xuất, những nhà bán lẻ
ngày càng tăng. Họ đặt trực tiếp các đơn đặt hàng từ những nhà xuất khẩu
nước ngoài vừa giảm được phí trung gian, vừa đảm bảo chất lượng hàng
hoá. Trong những năm gần đây, xu hướng sát nhập các tập đoàn phân phối
thực phẩm của Mỹ diễn ra mạnh mẽ. Quá trình này dẫn đến một số tập
Đặng Thị Lan Phương - Pháp 1 - K38
3
Khoá lu

n t

t nghi

p
đoàn lớn thao túng và chi phối thị trường. Các doanh nghiệp nước ngoài
muốn thâm nhập vào thị trường Mỹ trở nên khó khăn hơn và phải thông qua
các tập đoàn trên. Một đặc trưng nữa rất riêng của thị trường Mỹ, đó là một
phần lớn khối lượng rau quả tiêu thị trên thị trường là những rau quả nhập
khẩu. Nhưng dù là thị trường nhập khẩu rau quả lớn của thế giới nhưng đây
lại là thị trường khắt khe, không phải rau quả nào cũng “chen chân” được
vào thị trường này mà đó phải là những loại đáp ứng được các tiêu chuẩn
vệ sinh kiểm dịch thực phẩm phức tạp của Hoa Kỳ. Vấn đề nhãn hiệu cũng
rất được chú ý, hầu hết các rau quả tham gia trên thị trường đều có nhãn
hiệu của các công ty hay tư nhân để đảm bảo chất lượng tiêu dùng. Hiện
nay, xu hướng của thị trường Hoa Kỳ là tăng cường các biện pháp bảo hộ
và tăng lượng giao dịch rau quả tươi trong tổng lượng giao dịch các sản
phẩm rau quả.
2. NÉT CHUNG VỀ TÌNH HÌNH TIÊU THỤ RAU QUẢ CỦA THỊ TRƯỜNG
MỸ
Thị trường Mỹ được coi là thị trường tiêu dùng lớn nhất thế giới, xã
hội Mỹ được coi là xã hội tiêu thụ. Người ta ước tính rằng hàng năm nước
Mỹ tiêu gấp nhiều lần các nước khác. Ngày nay nhận thức được về vai trò
của rau và quả đối với sức khoẻ được nâng lên, nên rất nhiều người tiêu
dùng Mỹ tăng cầu đối với mặt hàng này. Nhìn chung mức tiêu thụ bình quân
đầu người về rau quả của Mỹ luôn cao hơn so với mức trung bình của thế
giới. Mức tiêu thụ bình quân đầu người về rau trên thế giới là 90 kg/năm,
Việt Nam là 60kg/năm. Trong khi đó mức bình quân của Mỹ rất cao, lên tới
187 kg một người/năm, tức là gấp đôi mức bình quân của thế giới. Còn mức
tiêu thụ trái cây bình quân đầu người của Mỹ cũng đạt mức gần 130kg/
năm. Cầu lớn kéo theo cung cao, lượng rau quả tham gia trên thị trường này
hết sức sôi động, đa dạng các chủng loại, trong đó một phần lớn là rau quả
Đặng Thị Lan Phương - Pháp 1 - K38
4
Khoá lu

n t

t nghi

p
được nhập khẩu từ các nước khác. Nhưng nguồn cung trong nước vẫn chưa
thể đáp ứng nhu cầu khổng lồ đó, nên hàng năm Mỹ phải nhập khẩu một
khối lượng đáng kể để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng đa dạng của người
dân. Rau quả tươi chiếm tỷ trọng hơn một nửa trong cơ cấu tiêu dùng sản
phẩm rau quả nói chung. Các loại quả tươi phổ biến trên thị trường nước
này là chuối, táo, cam, xoài, lê, quýt, đu đủ, dâu tây… Nước quả cũng là
loại sản phẩm chế biến được yêu thích và tiêu dùng nhiều thứ hai sau hoa
quả tươi. Đặc biệt người Mỹ thích sử dụng các loại nước ép thay cho nước
uống và thường xuyên trong bữa ăn hàng ngày, chiếm tỷ trọng hơn 1/3 cơ
cấu tiêu dùng hoa quả. Ngoài ra còn có các dạng chế biến khác như: đóng
hộp, đông lạnh, sấy khô…
2.1. Mức tiêu thụ rau
Mức tiêu dùng bình quân mỗi người năm 2001 là 200,4 kg rau (kể cả
khoai tây, nấm đậu đỗ, khoai lang), giảm 2% so với năm 2000, trong đó
lượng rau tươi được tiêu thụ không thay đổi, vẫn giữ ở mức 78kg; nhưng
cầu đối với rau hộp và rau bảo quản lạnh lại giảm, đạt 52 kg/người so với
55,2kg của năm 2000. Năm 2002, tổng lượng rau được tiêu thụ giảm nhẹ so
với năm trước, chủ yếu là do rau tươi giảm, còn rau lạnh và đóng hộp tăng
với số lượng nhỏ. Khoai tây là loại rau được tiêu dùng nhiều nhất ở Mỹ,
khối lượng tiêu thụ hàng năm luôn ở mức cao, gấp nhiều lần các loại rau
khác. Mức tiêu thụ bình quân là 62,3 kg mỗi người từ năm 1998 đến nay.
Dấu hiệu giảm bắt đầu từ năm 2001, nguyên nhân do ảnh hưởng của giá
cao vì nguồn cung trên thị trường giảm.
Bảng 1: Tiêu thụ rau bình quân đầu người ở Mỹ ( Đơn vị: kg)
Năm 1998 1999 2000 2001 2002
Đặng Thị Lan Phương - Pháp 1 - K38
5
Khoá lu

n t

t nghi

p
Cải xanh 3.3 3.9 3.8 3.5 3.2
Cải bắp 4.5 4.0 4.7 4.7 4.4
Cà rốt 7.7 6.7 6.5 6.3 5.7
Cần tây 3.0 3.0 2.9 3.0 3.0
Dưa chuột 4.8 5.0 5.1 4.6 5.2
Rau diếp 12.8 14.3 14.5 14.4 13.9
Hành 8.8 9.3 9.1 8.6 9.0
Cà chua 41.5 40.4 39.8 37.6 39.6
Khoai tây 62.7 62.0 63.0 62.6 61.2
Nấm 1.8 1.9 1.9 1.8 1.9
Rau khác 49.2 51.1 54.0 53.3 52.2
TỔNG 200.0 201.5 205.3 200.4 199.4
Ngu

n :USDA- 2002/ Vegetables and melon yearbook 2002.
Qua bảng số liệu trên cho thấy rõ tình hình tiêu thụ rau ở Mỹ trong
những năm qua vẫn được duy trì khá ổn định và ở mức cao (trên
200kg/người/năm), trong đó cao nhất là năm 2000 với mức 205,3kg/người.
2.2. Mức tiêu thụ quả cụ thể
Mức tiêu thụ bình quân đầu người năm 2000 ở Mỹ là 139 kg, tăng
3% so với năm 1999 và các năm về trước, đạt mức cao thứ hai trong lịch sử
từ trước đến nay ( mức cao nhất là năm 1998). Trong đó, tiêu thụ quả có
múi tăng 8%, bằng 59kg/người, chủ yếu là do cung trong nước tăng vì đây
là một năm được mùa của Mỹ. Tuy vậy tiêu dùng các loại quả khác lại
giảm 1% so với năm trước, ở mức 80kg/người. Trong 3% tăng so với năm
trước đó, chủ yếu là do lượng tiêu dùng quả tươi tăng, đặc biệt là quả có
múi tươi. Cam tươi, quýt tươi, bưởi lai quýt được tiêu thụ nhanh với khối
lượng lớn, nhưng chanh và bưởi lại giảm nhẹ so với năm trước. Việc tiêu
dùng cam tươi tăng, loại quả tươi chiếm tỷ trọng 1/2 trong toàn bộ tiêu dùng
quả có múi tươi, tác động mạnh đến mức tăng tiêu dùng chủng loại quả này
nói chung. Tuy nhiên mức tiêu thụ các loại quả khác ngoài quả có múi lại
giảm, chủ yếu vẫn là giảm tiêu dùng chuối tươi, táo tươi, nho, lê, mận.
Đặng Thị Lan Phương - Pháp 1 - K38
6
Khoá lu

n t

t nghi

p
Trong khi đó các loại quả nhiệt đới khác được nhập khẩu lại tăng tiêu
dùng, đạt mức tiêu dùng kỷ lục. Quả đóng hộp năm 2000 đạt bình quân
đầu người là 7kg, chủ yếu là tăng lượng cung nội địa, cùng với xuất khẩu
giảm kéo theo đầu vào để sản xuất quả đóng hộp tăng. Mức tăng lượng
đào đóng hộp tiêu thụ bình quân mỗi người trong năm, và các loại quả
đóng hộp như: táo, đào ngọt, mận không thay đổi. Sản phẩm quả đông lạnh
cũng tăng trong năm này, bình quân mỗi người là 1,5kg. Bên cạnh đó tiêu
thụ quả sấy khô và nước quả lại giảm, bình quân mỗi người dùng hơn 1 kg
sản phẩm quả khô và 4 kg sản phẩm nước quả. Nguyên nhân chủ yếu làm
tiêu dùng nước quả giảm là do nguyên liệu làm nước ép ít, thất thu sản
lượng cộng với nhập khẩu ít.
Năm 2002, người Mỹ tiêu dùng nhiều hoa quả tươi, sấy khô, đông
lạnh và nước ép nhiều hơn so với năm 2001, trung bình mỗi người là 129
kg, trong đó có 45 kg hoa quả tươi, 84 kg hoa quả chế biến dưới các dạng
khác nhau. Tiêu thụ các loại quả không có múi tươi và chế biến đều tăng so
với năm 2001, nhưng tiêu thụ các quả có múi lại giảm. Mùa cam cho mức
sản lượng thấp hơn ở Florida đã làm giảm đáng kể mức cung cấp các loại
cam tươi cho thị trường trong nước cũng như nguyên liệu làm nước trái cây.
Bảng 2- Tiêu thụ bình quân đầu người một số loại rau quả chính ở Mỹ
(Đơn vị: kg)
Năm 1998 1999 2000 2001
Táo 45.9 48.4 48.3 47.0
Nho 53.1 45.4 46.9 51.0
Chuối tươi 27.6 28.6 31.4 29.2
Cam 85.8 97.5 86.9 91.5
Bởi 16.5 15.2 15.6 15.4
Đào 10.2 8.9 9.7 10.0
Đặng Thị Lan Phương - Pháp 1 - K38
7
Khoá lu

n t

t nghi

p
Lê 7.0 6.7 6.9 6.2
Dứa 12.4 11.2 13.3 12.9
Xoài tươi 1.8 1.6 2.0 2.2
Ngu

n: USDA-2002/Fruit and Tree Nuts yearbook
Qua bảng trên ta thấy cam, chuối, táo, nho, là những loại quả được
tiêu dùng phổ biến ở Mỹ. Chuối tươi vẫn là trái cây được ưa thích nhất với
con số bình quân đầu người trong những năm qua là 13kg, trong đó mức
cao nhất là 14,3kg năm 1999. Hiện nay, lượng chuối tiêu thụ có giảm nhẹ,
nhưng đây vẫn là loại quả tươi xếp thứ nhất trong sản lượng tiêu dùng hàng
năm ở Mỹ. Tiếp theo là táo tươi với khối lượng trung bình là hơn
8kg/người. Cam tươi đạt mức tiêu thụ lớn nhất vào những năm 50-60 (bình
quân 8,5 kg mỗi người, bởi lẽ lượng xuất khẩu ít, lại được mùa liên tiếp nên
cung cấp trong nước dồi dào; những năm sau đó mức tiêu thụ giảm dần, đạt
thấp nhất là 5,4kg. Tuy vậy gần đây có xu hướng tiêu dùng dưới dạng tươi
tăng trở lại do giống cam được cải thiện và giá lại rẻ hơn. Nước cam luôn
là loại nước quả được ưa thích nhất ở Mỹ, dẫn đầu trong các loại nước hoa
quả có mặt trên thị trường, người tiêu dùng Mỹ thích sử dụng nước cam thay
cho các loại nước uống hàng ngày và thay cho cam tươi. Nhận thức được
vai trò của cam đối với sức khoẻ, cung cấp nhiều Vitamin C và các loai axit
tốt, vì vậy tiêu dùng nước cam vẫn giữ được mức ổn định trong suốt hàng
chục năm.
Xoài, đu đủ là những loại quả nhiệt đới chủ yếu được nhập khẩu để
đảm bảo cho cầu trong nước, tuy bình quân tiêu dùng loại quả này còn chưa
cao nhưng có xu hướng tăng tiêu dùng trong những năm gần đây và sắp tới.
Xoài nhập khẩu chiếm tỷ trọng 75% trong cơ cấu tiêu dùng, so với mức
3,4% thời kỳ những năm 80. Tốc độ tăng tiêu dùng của đu đủ nhập khẩu ở
Mỹ là 10%/năm.
Đặng Thị Lan Phương - Pháp 1 - K38
8

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét