nên luộm thuộm, không có kế hoặch, gặp việc nào làm việc ấy, thành thử việc
nào cũng là việc chính, lộn xộn, không có ngăn nắp
Ví dụ: Một trong những nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội
hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu là: Tiến hành cải tổ không theo một trình tự rõ
ràng, đã có sự phê phán đối với sự trì trệ nhng không xác định đợc mâu thuẫn
nào cần đợc giải quyết trớc, và chúng đợc thực hiện theo sự nhất quán nào, vào thời
gian nào,trong điều kiện nào. Từ đó dẫn đến hiện tợng luống cuống, hỗn độn, mất
ổn định của nhà nớc và xã hội.
Trong hoạt động thực tiễn, phát hiện và nhận thức mâu thuẫn là rất quan trọng,
không nên lảng tránh và che dấu mâu thuẫn. Hơn nữa, mâu thuẫn đợc giải quyết
bằng quá trình đấu tranh theo qui luật khách quan. Cho nên rong đời sống xã hội
chúng ta phải coi hành vi đấu tranh là chân chính.
II/ Tính tất yếu phải xây dựng nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam
Đại hội Đảng lần thứ VI có ý nghĩa lịch sử, đánh dấu bớc ngoặt chuyển đất nớc ta
sang thời kì mới, thay thế nền kinh tế hiện vật với cơ chế tập trung quan liêu bao
cấp, sang nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa ( KTTT ĐH XHCN ).
KTTT định hớng XHCN, thực chất là kiểu tổ chức nền kinh tế vừa dựa trên những
nguyên tắc và qui luật của KTTT, vừa dựa trên nguyên tắc và bản chất của CNXH.
Do đó, KTTT định hớng XHCN có hai nhóm nhân tố cơ bản tồn tại trong nhau, kết
hợp với nhau và bổ sung cho nhau. Đó là nhóm của KTTT đóng vai trò nh là động
lực thúc đẩy nền sản xuất xã hội phát triển nhanh và nhóm nhân tố của xã hội
XHCN, đóng vai trò hớng dẫn, chỉ định sự vân động của nền kinh tế theo những
mục tiêu đã xác định.
Vai trò quản lý của nhà nớc trong nền kinh tế thị trờng hết sức quan trọng. Sự
quản lý của nhà nớc bảo đảm cho nền kinh tế tăng trởng ổn định, đạt hiệu quả, đặc
biệt là sự đảm bảo công bằng và tiến bộ xã hội. Không có ai ngoài nhà nớc lại có
5
thể giảm bớt đợc sự chênh lệch giữa giàu và nghèo, giữa thành thị và nông thôn,
giữa công nghiệp và nông nghiệp, giữa các vùng của đất nớc Chính vì vậy mô
hình kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa là một đặc trng cơ bản của nớc
ta, nó hoàn toàn khác với mô hình kinh tế thị trờng của các nớc trên thế giới.
Mô hình kinh tế hiện vật chỉ phù hợp trong thời chiến, lúc đó chúng ta cần tập
trung toàn bộ sức ngời, sức của để phục vụ cho tiền tuyến. Nhng trong thời bình,
mô hình đó tỏ ra không phù hợp và thực chất đó là mô hình phi kinh tế. Hơn thế,
đất nớc ta sau chiến tranh rơi vào trong tình trạng trầm trọng nhất của khủng hoảng
kinh tế xã hội: sản xuất đình đốn, lạm phát tăng vọt, đất nớc bị bao vây kinh tế,
đời sống nhân dân hết sức khó khăn Duy trì mô hình hiện vật, không những
không giải quyết đợc vấn đề hiện có mà nó còn cho thấy rõ khuyết tật bên trong
kìm hãm sự phát triển : nền kinh tế không có động lực, không có sức đua cạnh
tranh, không phát huy đợc tính chủ động sáng tạo của ngời lao động, của các chủ
thể sản xuất kinh doanh, sản xuất không gắn với nhu cầu, ý chí chủ quan đã lấn áp
ý chí khách quan và triệt tiêu mọi động lực và sức mạnh nội sinh của bản thân nền
kinh tế, làm cho nền kinh tế suy thoái, thiếu hụt hiệu quả thấp, nhiếu mục tiêu của
chủ nghĩa xã hội không đợc thực hiện.
Thực tế cho thấy, sự phát triển của thị trờng tự do chen lẫn thị trờng có tổ chức, sự
lẳng lặng vi phạm các qui tắc, các chuẩn mực lúc bấy giờ là những phản ánh sự bất
lực của một cơ chế quản lý cứng nhắc. Đứng trớc tình hình đó, Đảng đã kịp thời có
những chuyển biến, bắt đầu uốn nắn những lệch lạch trong phong trào hợp tác hoá,
công nghiệp hoá đến việc thay đổi thể chế chính sách. Nghị quyết Trung ơng lần
thứ VI đợc đánh dấu nh một cái mốc trong quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý
kinh tế: cho sản xuất bung ra, thừa nhận quan hệ hàng hoá - tiền tệ, cho tự do lu
thông. Và nh thế nền kimh tế hàng hoá nhiều thành phần ra đời, tạo tiền đề cần
thiết để chuyển sang nền kinh tế thị trờng. Đó là một hệ quả tất yếu, là bớc phát
triển không thể thiếu trong nền kinh tế
6
Trên con đờng đi lên chủ ngihĩa xã hội, Đảng và Nhà nớc ta chủ trơng thực hiện
nhất quán lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận
động theo cơ chế thị trờng, có sự quản lý của Nhà nớc, đó chính là nền kinh tế thị
trờng định hớng xã hội chủ nghĩa.
Mục đích của nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa là phát triển lực l-
ợng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa
xã hội, nâng cao đời sống nhân dân. Phát triển lực lợng sản xuất hiện đại gắn liền
với xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp trên cả ba mặt sở hữu, quản lý và phân
phối.
Chủ trơng xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa
thể hiện t duy, quan niệm của Đảng ta về sự phù hợp giữa QHSX với tính chất và
trình độ của lực lợng sản xuất. Đó chính là mô hình kinh tế tổng quát của nớc ta
trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội.
III/ Những mâu thuẫn trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị
trờng định hớng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Sau đại hội Đảng lần thứ IV, đất nớc ta bắt đầu tiến hành công cuộc đổi mới toàn
diện, và cho đến nay, sau 15 năm thực hiện đã thực sự đem lại kết quả to lớn trong
mọi mặt của đời sống xã hội: đa đất nớc ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội,
tổng sản phẩm trong nớc tăng gấp ba, từ tình trạng hàng hoá khan hiếm nghiêm
trọng nay sản xuất đã đáp ứng đợc nhu cầu thiết yếu của nhân dân, kết cấu hạ tầng
kinh tế xã hội tăng nhanh. Trong GDP, tỷ trọng nông nghiệp từ 38,7% giảm xuống
24,3%, công nghiệp và xây dựng từ 22,7% tăng lên 36,6%, dịch vụ từ 38,6% tăng
lên 39,1% Bên cạnh những kết quả mà ta đạt đợc, là những khó khăn trong khi
xây dựng nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa. Trớc hết phải nói đến
điểm xuất phát của ta khi chuyển dịch cơ chế, từ nền kinh tế yếu kém, mang đậm
tính tự cung, tự cấp sang nền kinh tế hàng hoá vận hành theo cơ chế thị trờng đòi
hỏi phải có sự tích luỹ dồi dào, khoa học công nghệ phát triển và một nền kinh tế
7
vững mạnh Tiếp theo đó là cơ chế quản lý của nhà nớc, mặc dù đờng lối của
Đảng đặt ra là đúng đắn, nhng việc thực hiện nó không đồng bộ. Y thức hệ còn cha
đợc rõ ràng, tác phong cá nhân yếu kém Chính những khó khăn trong quá trình
xây dựng và phát triển kinh tế thị trờng, đã nảy sinh nhiều mâu thuẫn kìm hãm bớc
phát triển.
1. Mâu thuẫn giữa lực l ợng sản xuất và quan hệ sản xuất là mâu thuẫn cơ bản
trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị tr ờng định h ớng xã hội chủ nghĩa.
Trong công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần,
vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc, thì vấn đề lực lợng sản
xuất và quan hệ sản xuất là một vấn đề hết sức phức tạp. xét trên phơng diện triết
học, thì lực lợng sản xuất là nội dung, còn quan hệ sản xuất là ý thức, lực lợng sản
xuất là yếu tố động, luôn luôn thay đổi, và là yếu tố quyết định quan hệ sản xuất.
Khi lực lợng sản xuất phát triển đến một trình độ nhất định thì quan hệ sản xuất lúc
này tỏ ra không còn phù hợp nữa và trở thành yếu tố kìm hãm. Để mở đờng cho lực
lợng sản xuất phát triển thì cần thay đổi quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất
mới phù hợp với lực lợng sản xuất.
Lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất có mối quan hệ biện chứng với nhau, nó là
thớc đo để đánh giá sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Ơ Việt Nam, mặc dù
nhà nớc đã có rất nhiều chính sách để cân đối sao cho LLSX QHSX phát triển
song song đồng bộ. Nhng thực tế cho thấy, khi bắt tay vào xây dựng và phát triển
nền kinh tế thị trờng thì LLSX luôn tỏ ra mâu thuẫn với QHSX.
Tính cạnh tranh và năng động là một trong những đặc điểm cơ bản của nền kinh
tế thị trờng, thì ngợc lại chúng ta lại chậm tháo gỡ các vớng mắc về cơ chế, chính
sách để tạo động lực và điều kiện cho doanh nghiệp nhà nớc nâng cao hiệu quả
hoạt động, phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân. Việc thí điểm cổ
phần hoá doanh nghiệp nhà nớc còn làm chậm. Cha quan tâm tổng kết thực tiễn,
kịp thời chỉ ra phơng hớng, biện pháp đổi mới kinh tế hợp tác, để hợp tác xã nhiều
8
nơi tan rã hoặc chỉ còn là hình thức, cản trở sản xuất phát triển, cha kịp thời đúc
kết kinh nghiêm, giúp đỡ các hình thức kinh tế hợp tác mới phát triển. Cha giải
quyết tốt một số chính sách để khuyến khích kinh tế t nhân phát huy tiềm năng,
đồng thời cha quản lý tốt thành phần kimh tế này. Quản lý kinh tế hợp tác liên
doanh với nớc ngoài còn nhiều sơ hở. Kinh tế vĩ mô còn những yếu tố thiếu vững
chắc. Công tác tài chính, ngân hàng, giá cả, kế hoạch hoá, qui hoạch xây dựng,
quản lý đất đai còn yếu kém, thủ tục đổi mới hành chính chậm. Thơng nghiệp nhà
nớc bỏ trống một số trận địa quan trọng, cha phát huy tốt vai trò chủ đạo trên thị tr-
ờng. Quản lý xuất nhập khẩu còn nhiều sơ hở, tiêu cực, một số trờng hợp gây ra tác
động xấu với sản xuất. Chế độ phân phối thu nhập còn bất hợp lý, bội chi ngân
sách và nhập siêu còn lớn Đó là một số hạn chế của QHSX kìm hãm LLSX phát
triển và điều đó làm cho quá trình xây dựng đất nớc của ta gặp nhiều khó khăn.
Một trong những vấn đề bức xúc đối với chúng ta hiện nay đó là việc làm, tình
trạng thất nghiệp là một biểu hiện rõ ràng để chứng tỏ đợc rằng giữa LLSX
QHSX có sự mất cân đối.
Khi QHSX phù hợp, nó không những giải phóng đợc sức sản xuất mà còn tạo tiền
đề để thúc đẩy bớc phát triển của LLSX. Vì vậy vấn đề đặt ra cần đặt ra là làm thế
nào để giải quyết đợc mâu thuẫn này?
Cần đổi mới và hoàn thiện khung pháp lý, tháo gỡ mọi trở ngại về cơ chế, chính
sách và thủ tục hành chính để huy động tối đa mọi nguồn lực, tạo sức bật mới cho
phát triển sản xuất, kinh doanh của mọi thành phần kinh tế với các hình thức sở
hữu khác nhau. Mọi doanh nghiệp, mọi công dân đợc đầu t kinh doanh theo hình
thức do luật định và đợc pháp luật bảo vệ. Mọi tổ chức kinh doanh theo các hình
thức sở hữu khác nhau hoặc đan xen hỗn hợp đều đợc khuyến khích phát triển lâu
dài, hợp tác, cạnh tranh bình đẳng và là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh
tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa. Phát triển mạnh các doanh nghiệp nhỏ và
vừa, từng bớc hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh.
9
Tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế nhà nớc để thức hiện tốt vai trò chủ đạo
trong nền kinh tế. Phát triển doanh nghiệp nhà nớc trong những sản xuất và dịch vụ
quan trọng: Xây dựng các tổng công ty nhà nớc đủ mạnh để làm nòng cốt trong
những tập đoàn kinh tế lớn, có năng lực cạnh tranh trên thị trờng trong nớc và quốc
tế
Đổi mới cơ chế quản lý, phân biệt quyền của chủ sở hữu và quyền kinh doanh của
doanh nghiệp. Chuyển các doanh nghiệp nhà nớc kinh doanh sang hoạt động theo
cơ chế công ty trách nhiệm hũ hạn hoặc công ty cổ phần. Bảo đảm quyền tự chủ và
tự chịu trách nhiệm đầy đủ trong sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp, cạnh
tranh bình đẳng trớc pháp luật,xoá bỏ bao cấp của nhà nớc đối với doanh nghiệp.
Thực hiện chủ trơng cổ phần hoá những doanh nghiệp mà nhà nớc không nắm giữ
100% vốn để huy động thêm vốn, tạo động lực và cơ chế quản lý năng động thúc
đẩy doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả.
Phát triển kinh tế tập thể với các hình thức hợp tác đa dạng, phát triển hợp tác xã
kinh doanh tổng hợp đa ngành hoặc chuyên ngànhđể sản xuất kinh doanh, dịch vụ,
tạo điều kiện mở rộng qui mô sản xuất, kinh doanh phù hợp với nền kinh tế thị tr-
ờng
Hình thành đồng bộ và tiếp tục phát triển, hoàn thiện các loại thị trờng đi đôi với
việc xây dựng khuôn khổ pháp lý thể chế, để thị trờng hoạt động năng động, có
hiệu quả. có trật tự, kỉ cơng trong môi trờng cạnh tranh lạnh mạnh, công khai minh
bạch, hạn chế và kiểm soát độc quyền kinh doanh.
Phát triển thị trờng vốn và tiền tệ, tổ chức và vận hành an toàn, hiệu quả thị trờng
chứng khoán, thị trờng bảo hiểm, Hình thành và phát triển thị trờng bất động sản,
thị trờng lao động. Tạo điều kiện công ăn việc làm cho ngời dân, từ đó nâng cao
đời sống xã hội.
Và điều cuối cùng là việc đổi mới chế độ sở hữu, đó là mấu chốt quan trọng nhất
trong việc cân bằng mối quan hệ giữa LLSX và QHSX. . Hiện nay ở nớc ta, một số
hình thức sở hữu đã đợc hình thành, một số hình thức khác đang đợc khôi phục
10
hoặc mới bắt đầu hình thành. Chế độ nhiều hình thức sở hữu trong nền kinh tế là
hoàn toàn có cơ sở khách quan. Đó là những thay đổi diễn ra trong suốt quá trình
phát triển kinh tế. Trình độ phát triển LLSX và xã hội hoá sản xuất trong các khu
vực kinh tế quốc dân không giống nhau. Có những khoảng cách đáng kể trong phát
triển kỹ thuật ở các xí nghiệp, các ngành, các vùng khác nhau. Chính vì vậy mà
cần điều chỉnh lại cơ cấu QHSH.
Trong việc đổi mới các quan hệ sở hữu, xác lập nhiều hình thức sở hữu, cần phải
xem xét, đánh giá đúng, tăng cờng vai trò chủ đạo của các hình thức sở hữu nhà n-
ớc, bằng cách cải tổ khu vực này: những xí nghiệp nào cần đợc duy trì, những xí
nghiệp nào cần đợc giải thể và việc giải thể đó ra sao, là những vấn đề hết sức phức
tạp. Chính vì thế trong quá trình phát triển kinh tế thị trờng theo định hớng xã hội
chủ nghĩa càng đòi hỏi phải có sự điều hành hợp lý của Nhà nớc.
2. Cơ chế thị tr ờng và những mâu thuẫn xunh quanh nó
Thị trờng là điều kiện tồn tại của nền sản xuất hàng hoá, do vậy kinh tế hàng hoá
càng phát triển thì thị trờng càng đợc mở rộng, ngợc lại, thị trờng càng đợc mở
rộng thì càng thúc đẩy kinh tế hàng hoá phát triển, đó là mối quan hệ biện chứng
gắn bó hữu cơ với nhau. Và xunh quanh mối quan hệ biện chứng đó là những mâu
thuẫn khách quan, tồn tại trong cơ chế thị trờng.
Các bộ phận hợp thành cơ ché thị trờng là :
Giá cả thị trờng: là thứ giá cả hình thành trên thị trờng bởi sự tác động của các
lực thị trờng. Trên mỗi thị trờng, mỗi hàng hoá, dịch vụ đều có một giá nhất định
và toàn bộ những giá cả đó tạo thành hệ thống giá cả thị trờng
Cầu hàng hoá: là số lợng hàng hoá mà ngời mua mong muốn mua và có khả
năng mua theo mức giá nhất định. Nh vậy, để có cầu hàng hoá phải có ba điều
kiện: mong muốn mua, có khẳ năng mua và mức giá.
Cung hàng hoá: là số lợng mà ngời sản xuất hàng hoá mong muốn sản xuất và có
khả năng bán trên thị trờng với giá nhất định. Để có cung hàng hoá cũng phải có ba
11
điều kiện: mong nuốn sản xuất, có khả năng sản xuất và mức giá. Khi cung hàng
hóa nào đó trên thị trờng vừa bằng cầu về hàng hoá đó, thì mức giá cả là bình quân.
Cạnh tranh trên thị trờng: cạnh tranh giữa những ngời sản xuất hàng hoá với
nhau theo ba hớng; giá cả, chất lợng và dịch vụ tơng ứng. Cạnh trang giữa những
ngời mua với nhau. cạnh tranh giữa một bên là ngời bán và một bên là ngời mua.
Trên thị trờng không bao giừo có chuyện đơn phơng độc mã mà là buôn có bạn,
bán có phờng.
Bốn bộ phận hợp thành cơ chế thị trờng kể trên có quan hệ mật thiết với nhau, nh
là những khâu trong một guồng máy. Giá cả là cái nhân của thị trờng, cung cầu
là trung tâm và cạnh tranh là linh hồn, là sức sống của thị trờng.
Trong nền KTTT, tồn tại một số loại thị trờng sau đây:
Thị trờng độc quyền đơn phơng; là loại thị trờng chỉ có một ngời, nói đúng hơn là
một chủ thể bán ( ngời sản xuất duy nhất ) không có sản phẩm nào khác có thể
thay thế. Đó là hình thái thị trờng độc quyền của một chủ thể duy nhất bán hàng
hay còn gọi là độc quyền tự nhiên. Ơ các nớc trên thế giới cũng nh nớc ta, hình thái
thị trờng này chỉ tồn tại trong một số ngành sản xuất nhất định nh : điện nớc, bu
điện, hàng không Trong hình thái thị trờng này, nhu cầu về sản phẩm ít co dãn,
nên ngời bán có thể kiểm soát hoàn toàn khối lợng hàng hoá, dịch vụ bán trên thị
trờng và tự quyết định giá cả. Để bảo vệ lợi ích của ngời tiêu dùng, Nhà nớc phải
tham gia quản lý vĩ mô đối với loại thị trờng này bằng những biện pháp chống độc
quyền nh : thuế, kiểm soát giá cả, kiểm soát tồn kho hàng hoá, quy định luật lệ
cấm liên kết để hình thành độc quyền, bảo vệ tự do cạnh tranh.
Thị trờng độc quyền đa phơng: là loại thị trờng, trong đó số ngời bán vừa đủ để
cho những hoạt động của một ngời có ảnh hởng đến lợng cung và giá cả của những
doanh nghiệp khác ( ví dụ : sản phẩm xi măng, sắt thép ). Do tên thị trờng độc
quyền đa phơng còn có cạnh tranh, nên giá cả cũng luôn biến đổi
Thị trờng cạnh tranh độc quyền: là thị trờng, trong đó, có nhiều ngời bán hàng
cùng một sản phẩm, nhng sản phẩm của mỗi ngời có ít nhiều khác nhau về chất l-
12
ợng, mẫu mã và giá cả ( ví dụ thị trờng sản phẩm ngành dệt, thị trờng sản phẩm
ngành giày dép ).
Thực tế trong nền KTTT, thì cạnh tranh mang tính mâu thuẫn, nó vừa là động lực
thúc đẩy sự phát triển kinh tế, vừa là yếu tố kìm hãm, sự phá sản, tình trạng thất
nghiệp, sự phân hoá giàu nghèo giữa các vùng và các bộ phận dân c, và nhất là
không thể tránh khỏi những tệ nạn xã hội do mặt trái của KTTT gây ra.
Thực tế cho thấy, sản phẩm hàng ngoại tràn lan trên thị trờng Việt nam, lấn áp
hoàn toàn hàng hoá trong nớc. Nguyên nhân chủ yếu, đó là do sức cạnh tranh của
nớc ta còn yếu, tâm lý ngời dân muốn dùng hàng ngoại. Mặc dù hàng ngoại bán
trên thị trờng có thể đắt hơn so với giá trị thực của nó, song những ngời mua hàng
luôn có suy nghĩ rằng giữa hàng ngoại và hàng trong nớc luôn có sự khác nhau cả
về chất lợng lẫn mẫu mã của sản phẩm. Một số doanh nghiệp nhà nớc bị phá sản,
phải đóng cửa vì không đủ sức để có thể cạnh tranh đợc trên thị trờng. Hàng hoá
trong nớc không đợc a chuộng, do mẫu mã cũng nh chất lợng sản phẩm không thể
cạnh tranh đợc với hàng ngoại đợc sản xuất với dây truyền công nghệ hiện đại.
13
3. Mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể, lợi ích xã hội
Trong hoạt động kinh tế, lợi ích là mục tiêu hàng đầu, vì vậy để thực hiện tăng tr-
ởng kinh tế cần phải coi trọng mọi lợi ích: lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể vầ lợi ích
xã hội. Trong nền KTTT, mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội chẳng
những không bị mất đi mà còn có những diễn biến phức tạp hơn. Trớc hết là phải
nói đến u điểm của nền KTTT, nó tạo điều kiện cho mọi cá nhân phát huy năng
lực, trí tuệ, thị trờng đợc tạo ra là một thị trờng tự do, tự do giao dịch KTTT có sự
quản lý của nhà nớc, một mặt nó đảm bảo tính ổn định của thị trờng, mặt khác nó
lại tạo điều kiện tốt cho hoạt động tham nhũng, buôn lậu của một số ngời lạm
dụng chức trách của mình. Mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội nếu
không đợc giải quyết đúng đắn sẽ biểu hiện thành những hiện tợng bất công bằng
xã hội. Trong mối quan hệ này, nếu lợi ích cá nhân bị vi phạm thì xã hội sẽ mất đi
một động lực to lớn của sự phát triển xã hội. Còn ngợc lại, nếu các nhân có lợi, nh-
ng lợi ích xã hội bị vi phạm, thì nạn nhân của sự bất công lại là cộng đồng xã hội.
Ví dụ: Vì lợi ích cá nhân mà trong hoạt động sản xuất kinh doanh, ngời ta có thể
phá hoại môi trờng sống, có thể làm những việc phi pháp, phi đạo đức, phi nhân
tính, để có lợi cho bản thân, làm thất thoát tài sản của nhà nớc Trong trờng hợp
này hậu quả do cá nhân đó tạo ra làm ảnh hởng đến cộng đồng xã hội.
Chúng ta cần biệt lợi ích chính đáng với lợi ích ích kỉ cá nhân. Lợi ích chính đánh
của cá nhân là động lực phát triển của xã hội, là cái mà xã hội phải tôn trọng và
phát huy, còn lợi ích ích kỉ của cá nhân là nguồn gốc của chủ nghĩa cá nhân, là
nguyên nhân dân đến sự thoái hoá, biến chất, trộm cắp, tham nhũng của một số cá
nhân trong bộ máy của nhà nớc. Nếu xã hội không có những biện pháp tích cực và
có hiệu quả thì những tệ nạn này chẳng những không giảm đi, mà trái lại càng gia
tăng, vì cùng với sự phát triển kinh tế, của cải xã hội, phúc lợi tập thể sẽ tăng lên và
những thứ này lại đợc giao cho cá nhân trực tiếp quản lý.
Thực tế cho thấy rằng ở Việt Nam, trong quá trình xây dựng và phát triển nền
kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa thì tình trạng tham nhũng, suy thoái
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét