Thứ Ba, 21 tháng 1, 2014

Phát triển loại hình doanh nghiệp tư nhân trong công nghiệp tại Việt Nam.pdf

5
phần mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài luận án.
Để đa nớc ta trở thành một nớc công nghiệp vào năm 2020 nh
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đề ra, đòi hỏi chúng ta phải có
đợc những cơ chế, chính sách và giải pháp thích hợp nhằm huy động mọi
nguồn lực của đất nớc tập trung cho phát triển kinh tế nói chung và phát triển
công nghiệp nói riêng.
Những năm gần đây, đờng lối đổi mới của Đảng và chính sách pháp
luật của Nhà nớc đ khai thác có hiệu quả hơn các nguồn lực của đất nớc,
động viên, khuyến khích ngời dân đầu t phát triển sản xuất kinh doanh, làm
giàu cho bản thân và cho đất nớc. Trong lĩnh vực công nghiệp, chúng ta cũng
đ đạt đợc những thành tựu nhất định và nền công nghiệp nớc ta ngày một
phát triển. Tuy nhiên, việc huy động và khai thác nguồn lực trong dân vẫn còn
nhiều hạn chế. Tiềm năng trong dân vẫn còn nhiều nhng cha thật sự mạnh
dạn đầu t vào sản xuất kinh doanh, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghiệp. Vì
vậy, việc tìm ra giải pháp để huy động, khai thác tối đa và có hiệu quả nguồn
lực trong dân cho phát triển công nghiệp là việc làm cần thiết và cấp bách, làm
sao để ngời dân mạnh dạn hơn nữa trong việc bỏ vốn, công sức và trí tuệ đầu
t vào sản xuất công nghiệp, qua đó góp phần đa nớc ta nhanh chóng trở
thành một nớc công nghiệp. Xuất phát từ lý do đó, tác giả luận án đ chọn đề
tài Phát triển loại hình doanh nghiệp t nhân trong công nghiệp Việt
Nam để tập trung nghiên cứu.

2. Khái quát lịch sử nghiên cứu.
Trong thời gian qua đ có nhiều công trình nghiên cứu về doanh nghiệp
nói chung và doanh nghiệp công nghiệp nói riêng, nhng cha có một công
trình nào nghiên cứu về việc phát triển loại hình doanh nghiệp t nhân trong
6
công nghiệp đợc công bố. ở một giác độ nhất định, liên quan đến vấn đề này
có luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Phạm Văn Hồng (2007), với đề tài
Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam trong quá trình hội nhập
quốc tế. Luận án này nghiên cứu một cách chung nhất về doanh nghiệp vừa
và nhỏ, mà chủ yếu là doanh nghiệp t nhân ở tất cả các lĩnh vực ngành nghề
và đa ra những giải pháp chung nhất cho phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Lê Xuân Trờng (2006), với đề tài Chính
sách thuế với việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp ngành
công nghiệp Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, cũng chỉ đề
cập riêng đến tác động, ảnh hởng của chính sách thuế đối với năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp công nghiệp và đề ra những giải pháp trong phạm vi
về chính sách thuế. Liên quan đến chính sách thuế đối với doanh nghiệp công
nghiệp, trớc đó có Luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Tạ Văn Lợi (2003),
với đề tài Hoàn thiện việc sử dụng công cụ thuế trong quản lý Nhà nớc đối
với doanh nghiệp công nghiệp ngoài quốc doanh ở Việt Nam, Luận án cũng
đ tập trung vào nghiên cứu về doanh nghiệp công nghiệp ngoài quốc doanh,
bao trùm cả doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài, doanh nghiệp tập thể và
cũng chỉ dới giác độ ảnh hởng, tác động của chính sách thuế và đề ra các
giải pháp để Nhà nớc sử dụng công cụ thuế trong quản lý doanh nghiệp công
nghiệp ngoài quốc doanh. Luận án Tiến sĩ Luật học của nghiên cứu sinh
Nguyễn Thanh Hoá(2002), với đề tài Đổi mới và hoàn thiện quản lý Nhà
nớc bằng pháp luật đối với các loại hình doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế
t nhân ở Việt Nam hiện nay, hớng vào nghiên cứu và đề ra giải pháp hoàn
thiện pháp luật để nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nớc đối với doanh
nghiệp t nhân nói chung. Đề tài nghiên cứu ở cấp Nhà nớc trớc đó có đề
tài Chính sách công nghiệp Việt Nam do nhóm tác giả PGS.TS Mai Ngọc
Cờng, PGS.TS Phan Đăng Tuất, PGS.TS Nguyễn Duy Bột và Th.S Phạm Thái
Hng thực hiện năm 2000. Đề tài nghiên cứu tổng quan chính sách công
7
nghiệp trên phơng diện lý thuyết và thực tiễn, làm nền tảng cho việc nghiên
cứu chính sách ở các ngành công nghiệp cụ thể, đồng thời đa ra các khuyến
nghị để xây dựng và hoàn thiện chính sách công nghiệp của Việt Nam những
năm tiếp theo. Do vậy, những vấn đề đặc thù của doanh nghiệp t nhân trong
công nghiệp cả về lý luận và thực tiễn hiện nay cha đợc đề cập đến trong
các công trình nghiên cứu trớc đó mà nghiên cứu sinh đợc biết.

3. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của luận án.
3.1. Đối tợng nghiên cứu:
Luận án tập trung nghiên cứu các doanh nghiệp t nhân trong công
nghiệp Việt Nam trên nhiều giác độ khác nhau nh quy mô, phân bố, vốn, lao
động, loại hình, kết quả và hiệu quả kinh doanh.
3.2. Phạm vi nghiêm cứu:
Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu trong ngành công nghiệp ở Việt
Nam và tập trung vào giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2007.


4. Mục đích nghiên cứu của luận án.
Luận án tập trung nghiên cứu và đa ra những giải pháp hỗ trợ tổng thể
trên phơng diện vĩ mô nhằm phát triển doanh nghiệp t nhân trong công
nghiệp Việt Nam nói riêng, cũng nh hỗ trợ phát triển doanh nghiệp t nhân
Việt Nam nói chung.

5. Phơng pháp nghiên cứu của luận án.
Trên cơ sở phơng pháp luận duy vật lịch sử và duy vật biện chứng,
Luận án sử dụng tổng hợp các phơng pháp nghiên cứu cụ thể nh phơng
pháp phân tích, thống kê và phơng pháp thực chứng thông qua các công cụ
tổng hợp, so sánh từ các dy số liệu thống kê, điều tra của Tổng cục thống kê,
phòng Thơng mại và Công nghiệp Việt Nam.
8
Trong nghiên cứu, tác giả còn tiến hành tham vấn ý kiến của các nhà
doanh nghiệp, các nhà hoạch định chính sách, các chuyên gia nghiên cứu
trong lĩnh vực phát triển doanh nghiệp và công nghiệp.

6. Đóng góp khoa học của Luận án.
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về phát triển loại hình
doanh nghiệp t nhân trong công nghiệp Việt Nam.
- Phân tích và đánh giá thực trạng phát triển loại hình doanh nghiệp t
nhân trong công nghiệp Việt Nam.
- Đánh giá thực trạng các hoạt động của Nhà nớc, hệ thống chính sách,
văn bản pháp luật của Nhà nớc hỗ trợ doanh nghiệp t nhân trong công
nghiệp phát triển và hiệu quả của nó đối với sự phát triển doanh nghiệp.
- Đề xuất các giải pháp nhằm phát triển toàn diện mạnh mẽ và có hiệu
quả hơn nữa loại hình doanh nghiệp t nhân trong công nghiệp Việt Nam.

7. Nội dung và kết cấu của luận án.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án gồm 3 chơng:

Chơng 1: Những vấn đề cơ bản về phát triển loại hình doanh
nghiệp t nhân trong công nghiệp.
Chơng 2: Thực trạng phát triển loại hình doanh nghiệp t nhân
trong công nghiệp Việt Nam.
Chơng 3: Giải pháp phát triển loại hình doanh nghiệp t nhân
trong công nghiệp Việt Nam.





9
Chơng 1

Những vấn đề cơ bản về phát triển
loại hình doanh nghiệp t nhân trong công nghiệp

1.1. Khái niệm, vai trò của doanh nghiệp t nhân trong
công nghiệp.
1.1.1. Khái niệm doanh nghiệp t nhân trong công nghiệp .
1.1.1.1. Sở hữu t nhân và kinh tế t nhân.
Sở hữu là quan hệ giữa ngời với ngời thông qua đối tợng sở hữu. Nó
là quan hệ kinh tế khách quan, là một mặt cơ bản của quan hệ sản xuất, vận
động và biến đổi cùng với hệ thống kinh tế x hội. Sở hữu khi đợc thể chế
hoá về mặt pháp lý gọi là chế độ sở hữu. Cùng với quá trình phát triển của
trình độ lực lợng sản xuất và trình độ phân công lao động x hội, sở hữu tồn
tại dới những hình thức khác nhau. Cho đến nay, loại ngời đ trải qua nhiều
hình thức sở hữu, phát triển qua các giai đoạn khác nhau từ sở hữu bộ lạc, đến
các hình thức sở hữu t nhân và sở hữu x hội chủ nghĩa. Trong x hội hiện
đại ngày nay, phần lớn các quan điểm đều cho rằng mặc dù rất phong phú, đa
dạng nhng trên thực tế chỉ tồn tại ba hình thức sở hữu cơ bản: Sở hữu nhà
nớc, sở hữu t nhân và sở hữu hỗn hợp. Đại hội Đảng X của Đảng ta xác
định, hiện nay ở nớc ta có ba hình thức sở hữu cơ bản: Sở hữu toàn dân, sở
hữu tập thể và sở hữu t nhân [11,Tr83].
Bộ Luật Dân sự năm 2005 của nớc ta chỉ rõ: Sở hữu t nhân là sở hữu
của cá nhân đối với tài sản hợp pháp của họ. Sở hữu t nhân bao gồm: Sở hữu
cá thể, sở hữu tiểu chủ và sở hữu t bản t nhân [75]. Đây là khái niệm mang
tính khái quát cao, cho thấy sở hữu t nhân bao hàm hai lĩnh vực: Thứ nhất,
lĩnh vực tiêu dùng cá nhân, mà ta thờng hiểu là sở hữu cá nhân; Thứ hai, lĩnh
10
vực sở hữu về các nguồn lực đợc đa vào sản xuất, mà ta thờng hiểu là sở
hữu t nhân.
Từ cách tiếp cận sở hữu với t cách là một quan hệ x hội về kinh tế, có
thể đa ra khái niệm về sở hữu t nhân nh sau: Sở hữu t nhân là hình thức sở
hữu của cá nhân những nhà sản xuất kinh doanh về các nguồn lực sản xuất
đợc đầu t vào các ngành, các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh trong nền kinh
tế. Cá nhân tự quyết định, tự chịu trách nhiệm trớc pháp luật về hành vi hoạt
động sản xuất kinh doanh của mình. Những nguồn lực sản xuất này thuộc
quyền sử dụng, định đoạt và hởng lợi của cá nhân ngời sở hữu.
Trên cơ sở quan niệm về sở hữu t nhân, hiện nay vẫn đang tồn tại
nhiều cách lý giải khác nhau về KTTN. Có ngời cho rằng Kinh tế t nhân
đồng nghĩa với Kinh tế t bản t nhân. Có ngời lại đồng nhất KTTN với
kinh tế ngoài quốc doanh, theo đó một doanh nghiệp hay công ty sẽ đợc
coi là ngoài quốc doanh nếu nh t nhân làm chủ trên 50% vốn của doanh
nghiệp [47]. Niên giám của Tổng cục Thống kê hiện nay vẫn thờng dùng
khái niệm Ngoài quốc doanh, theo đó các doanh nghiệp ngoài quốc doanh
bao gồm: Tập thể, t nhân, cá thể, hỗn hợp. Riêng khu vực có vốn đầu t nớc
ngoài lại đợc tách riêng. Quan điểm khác lại cho rằng kinh tế có vốn đầu t
nớc ngoài cũng nằm trong kinh tế t nhân. Theo Văn kiện Hội nghị lần thứ 5
Ban chấp hành trung ơng Đảng khoá IX, thì: Kinh tế t nhân gồm kinh tế cá
thể, tiểu chủ và kinh tế t bản t nhân, hoạt động dới hình thức hộ kinh
doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp của t nhân [13].
Nh vậy, khu vực KTTN có thể đợc hiểu và đợc đợc phân thành:
Kinh tế cá thể tiểu chủ hộ gia đình và kinh tế t bản t nhân. Đây là hai bộ
phận cấu thành KTTN giống nhau về nền tảng quan hệ sở hữu, nhng khác
nhau về trình độ phát triển lực lợng sản xuất và bản chất của quan hệ sản
xuất. Trong kinh tế cá thể, tiểu chủ, hộ gia đình việc tiến hành hoạt động sản
xuất kinh doanh, hoạt động kinh tế phần lớn đều dựa hoàn toàn vào lao động
11
của gia đình, của bản thân, nếu có thuê thêm lao động cũng chỉ có tính chất
phụ trợ trong một số khâu, một khoảng thời gian nào đó. Về cơ bản, họ đều
sản xuất kinh doanh bằng nguồn vốn tự có của gia đình là chính, nếu có vay
thêm cũng không nhiều. Quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh nhỏ, sự hợp
tác, liên doanh, liên kết giữa họ không có hoặc lỏng lẻo và về mặt pháp luật,
tính ràng buộc, quản lý về mặt pháp luật không chặt chẽ. Khác với kinh tế cá
thể tiểu chủ, hộ gia đình, kinh tế t bản t nhân hoạt động có quy mô lớn và
chủ yếu sử dụng lao động làm thuê để tạo ra lợi nhuận (giá trị thặng d). Về
mặt pháp luật, việc tổ chức hoạt động, hình thức pháp lý của kinh tế t bản t
nhân đợc pháp luật quy định chặt chẽ và đợc tổ chức dới hình thức các
doanh nghiệp (công ty cổ phần, công ty TNHH, công ty hợp danh, doanh
nghiệp t nhân). Cần phân biệt kinh tế t nhân với kinh tế tập thể, kinh tế tập
thể, tuy cũng do ngời dân hợp thành, nhng vốn, phơng thức quản lý và
phân phối lợi nhuận không còn mang tính t nhân và nền tảng của nó là sở
hữu tập thể.
1.1.1.2. Khái niệm doanh nghiệp t nhân trong công nghiệp.
Theo Luật Doanh nghiệp 2005, thì: Doanh nghiệp là một tổ chức kinh
tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, đợc đăng ký kinh
doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động
kinh doanh. Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các
công đoạn của quá trình đầu t từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung
ứng dịch vụ trên thị trờng nhằm mục đích sinh lợi [30].
Trên cơ sở khái niệm doanh nghiệp chung nhất đ đợc Luật Doanh
nghiệp 2005 đa ra, các phân tích, đánh giá về sở hữu t nhân và KTTN, có
thể đa ra một khái niệm về doanh nghiệp t nhân nh sau: Doanh nghiệp t
nhân là loại hình doanh nghiệp trong đó các cá nhân hoặc nhóm cá nhân làm
chủ trên 50% vốn điều lệ của doanh nghiệp và đợc tổ chức dới các hình
12
thức pháp lý khác nhau nh công ty hợp danh, doanh nghiệp t nhân một chủ,
công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần.
Trong hoạt động kinh tế, theo đặc thù kinh tế kỹ thuật mà hoạt động
kinh tế đợc phân thành những ngành khác nhau, nh công nghiệp, nông
nghiệp, dịch vụ, xây dựng,. Trong đó, Công nghiệp là ngành kinh tế thuộc
lĩnh vực sản xuất vật chất một bộ phận cấu thành nên sản xuất vật chất của
x hội. Công nghiệp bao gồm ba loại hoạt động chủ yếu: Khai thác tài nguyên
thiên nhiên tạo ra nguồn nguyên liệu nguyên thuỷ; sản xuất và chế biến sản
phẩm công nghiệp khai thác và của nông nghiệp thành nhiều loại sản phẩm
nhằm thoả mn các nhu cầu khác nhau của x hội; khôi phục giá trị sử dụng
của sản phẩm đợc tiêu dùng trong quá trình sản xuất và trong sinh hoạt [26,
tr5].
Trong xu thế kinh tế hội nhập ngày càng sâu, rộng, các lĩnh vực kinh tế
và hoạt động kinh tế đợc tiến hành đan xen nhau. Ngày nay, khó có một nền
kinh tế, một lĩnh vực hay một ngành kinh tế hoạt động độc lập mà không liên
quan, ràng buộc với các nền kinh tế, lĩnh vực kinh tế hay ngành kinh tế khác.
Vì vậy, hầu hết các doanh nghiệp ngày nay đều có xu hớng đa dạng hoá
ngành nghề, lĩnh vực và địa bàn kinh doanh. Việc phân ngành, lĩnh vực, địa
bàn hoạt động của doanh nghiệp hiện nay cũng chỉ mang tính tơng đối và
nhất thời. Có thể thời điểm này doanh nghiệp có hoạt động sản xuất kinh
doanh trong lĩnh vực công nghiệp là chính, nhng một vài năm sau hoạt động
sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực công nghiệp của doanh nghiệp lại xuống
thứ yếu mà hoạt động từ lĩnh vực khác mới là hoạt động chính của doanh
nghiệp. Chính vì vậy, phân loại doanh nghiệp theo ngành kinh doanh cũng chỉ
mang tính tơng đối và còn nhiều quan điểm khác nhau. Quan điểm truyền
thống cho rằng việc phân loại doanh nghiệp theo ngành kinh doanh đợc tiến
hành khi doanh nghiệp đó chỉ sản xuất kinh doanh ngành nghề đợc phân loại.
Ví nh doanh nghiệp công nghiệp là doanh nghiệp chỉ tiến hành các hoạt động
13
sản xuất sản phẩm công nghiệp; doanh nghiệp dịch vụ là doanh nghiệp chỉ
tiến hành các hoạt động dịch vụ,.Tuy nhiên, hiện nay nhóm quan điểm có
tính phổ biến hơn cả về phân loại doanh nghiệp theo ngành là lấy ngành, nghề
kinh doanh chính của doanh nghiệp làm căn cứ, cơ sở để phân loại. Ngành
kinh doanh chính của doanh nghiệp đợc hiểu là ngành mà doanh thu và lợi
nhuận từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là lớn nhất trong số các
ngành mà doanh nghiệp kinh doanh. Trên cơ sở quan điểm này và xu thế đa
dạng hoá ngành nghề kinh doanh của các doanh nghiệp hiện nay, ta có thể đa
ra khái niệm DNTN trong công nghiệp nh sau:
Doanh nghiệp t nhân trong công nghiệp là doanh nghiệp t nhân có
hoạt động sản xuất kinh doanh chính trong ngành công nghiệp. Doanh thu từ
hoạt động kinh doanh trong ngành công nghiệp của doanh nghiệp chiếm trên
50% tổng doanh thu từ tất cả các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
1.1.2. Phân loại doanh nghiệp t nhân trong công nghiệp.
1.1.2.1. Căn cứ vào hình thức pháp lý của doanh nghiệp, ngời ta chia
doanh nghiệp ra thành những loại hình doanh nghiệp cụ thể theo quy định của
pháp luật về doanh nghiệp.
Theo Luật Doanh nghiệp 2005 của Việt Nam, DNTN nói chung và
DNTN trong CN nói riêng đợc chia ra thành:
- Doanh nghiệp t nhân một chủ: Là doanh nghiệp do một cá nhân làm
chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động
của doanh nghiệp.
- Công ty hợp danh: Là doanh nghiệp có từ hai thành viên trở lên là chủ
sở hữu chung của công ty, trong đó có ít nhất 1 thành viên hợp danh (phải là
cá nhân) chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của
công ty. Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty
trong phạm vi số vốn đ góp vào công ty.
14
- Công ty trách nhiệm hữu hạn: Là doanh nghiệp do 1 hoặc một số tổ
chức, cá nhân góp vốn thành lập và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của
công ty trong phạm vi số vốn góp vào công ty. Số lợng thành viên tối đa của
công ty là 50 thành viên.
- Công ty cổ phần: Là doanh nghiệp trong đó vốn điều lệ đợc chia
thành nhiều phần bằng nhau (gọi là cổ phần) và do ít nhất 3 thành viên là tổ
chức hoặc cá nhân cùng góp vốn và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của
công ty trong phạm vi phần vốn góp [30].
1.1.2.2. Căn cứ vào quy mô của doanh nghiệp, ngời ta chia doanh nghiệp ra
thành doanh nghiệp có quy mô lớn, vừa và nhỏ. Tiêu thức để phân loại doanh
nghiệp theo quy mô chủ yếu dựa vào vốn, lao động hay doanh thu của doanh
nghiệp và tuỳ từng nền kinh tế khác nhau mà việc phân loại khác nhau. Hiện
nay ở Việt Nam, phân loại doanh nghiệp theo quy mô dựa vào vốn và lao
động, đợc chia ra thành:
- Doanh nghiệp quy mô lớn: Là doanh nghiệp có vốn đăng ký trên 10 tỷ
đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm trên 300 ngời.
- Doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ: Là doanh nghiệp có số vốn đăng ký
không quá 10 tỷ đồng và số lao động trung bình hàng năm không quá 300
ngời [8].
1.1.2.3. Căn cứ vào ngành kinh tế kỹ thuật, ngời ta chia doanh nghiệp
theo ngành sản xuất công nghiệp chính của doanh nghiệp. Tùy theo cấp độ
phân ngành công nghiệp mà việc phân loại doanh nghiệp cũng đợc tiến hành
khác nhau. ở Việt Nam, theo phân ngành công nghiệp ở cấp độ 1, DNTN
trong CN đợc phân thành:
- Doanh nghiệp công nghiệp khai thác;
- Doanh nghiệp công nghiệp chế biến;
- Doanh nghiệp sản xuất và phân phối điện, nớc, khí đốt [44].

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét