Hoàn thiện chính sách tỷ giá nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động xuất nhập khẩu của
Việt Nam
Ví dụ: Tỷ giá tiền mặt ngoại tệ tại Sở giao dịch Ngân hàng Ngoại Thơng
Việt Nam ngày 10/9/2002 là: 1 USD = 15 340 VND.
Hiện nay hầu hết các nớc còn lại (ngoại trừ các nớc đã dùng phơng pháp
biểu hiện trực tiếp tỷ giá nói trên) đều sử dụng phơng pháp biểu hiện tỷ giá gián
tiếp. Theo cách biểu hiện tỷ giá này thì một sự tăng lên của tỷ giá cho thấy một sự
tăng giá của ngoại tệ và giảm giá của nội tệ, và ngợc lại. Để việc trình bày luận văn
đợc thống nhất, từ phần này trở đi, khi nói tới sự tăng hay giảm của tỷ giá thì phải
hiểu là tỷ giá đợc biểu hiện theo phơng pháp gián tiếp.
1.2. Cơ sở hình thành tỷ giá hối đoái
1.2.1. Quy luật một giá (law of one price)
Điểm xuất phát để hiểu tỷ giá đợc xác định nh thế nào chính là một khái
niệm đơn giản gọi là Quy luật một giá.
Quy luật một giá phát biểu rằng trong những thị trờng cạnh tranh, không
tính đến chi phí vận chuyển và các hàng rào đối với thơng mại (nh là thuế quan),
thì những hàng hóa giống hệt nhau đợc bán tại các quốc gia khác nhau phải có
cùng một mức giá khi qui về cùng một đơn vị tiền tệ, không kể hàng hóa đó đợc
sản xuất ra ở nớc nào.
Giả sử chi phí sản xuất ra một tấn thép của Mỹ là 100 USD và chi phí sản
xuất ra một tấn thép của Nhật (loại thép giống hệt thép của Mỹ) là 10 000 JPY.
Quy luật một giá cho rằng tỷ giá hối đoái giữa đồng JPY và đồng USD phải là 100
JPY/USD (hay 0,01 USD/JPY) để đảm bảo cho một tấn thép của Mỹ khi bán ở
Nhật sẽ đợc bán với giá 10 000 JPY, và một tấn thép của Nhật khi bán ở Mỹ sẽ có
giá là 100 USD. Nếu tỷ giá hối đoái là 200 JPY/USD thì một tấn thép của Nhật sẽ
đợc bán với giá 50 USD tại Mỹ tức là bằng một nửa giá thép của Mỹ. Do giá thép
của Mỹ đắt hơn giá thép của Nhật ở cả hai nớc và thép của Mỹ và thép của Nhật
giống hệt nhau nên cầu đối với thép của Mỹ sẽ giảm tới không ở cả thị trờng
5
Hoàn thiện chính sách tỷ giá nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động xuất nhập khẩu của
Việt Nam
Nhật và thị trờng Mỹ. Giả định giá thép của Mỹ tính bằng USD là cố định thì số
cung vợt quá của thép Mỹ do việc đó gây ra sẽ chỉ bị triệt tiêu khi mà tỷ giá giảm
xuống còn 100 JPY/USD làm cho giá thép của Mỹ ngang bằng với giá thép của
Nhật ở cả hai nớc.
1.2.2. Thuyết ngang giá sức mua (Purchasing Power Parity PPP)
Một trong những lý thuyết nổi bật về việc tỷ giá đợc xác định nh thế nào là
thuyết ngang giá sức mua (học thuyết PPP). Thuyết PPP phát biểu rằng tỷ giá giữa
bất kỳ hai đồng tiền nào sẽ đợc điều chỉnh để phản ánh những thay đổi trong mức
giá cả của hai nớc.
Giả sử (vẫn từ ví dụ trên) giá bán bằng đồng JPY của thép Nhật tăng 10%
(lên đến 11 000 JPY) so với giá cả bằng USD của thép Mỹ (không thay đổi ở mức
100 USD/tấn). Để cho quy luật một giá có hiệu lực thì tỷ giá phải tăng lên 110
JPY/USD - một mức giảm giá 10% của đồng JPY. Ngợc lại, nếu giá bán bằng
đồng JPY của thép Nhật giảm đi 10% so với giá bán bằng USD của thép Mỹ thì tỷ
giá sẽ giảm xuống còn 90 JPY/USD - một mức tăng giá 10% của đồng JPY. Điều
này có nghĩa là khi mức giá cả hàng hóa - dịch vụ của một nớc tăng, tỷ giá hối đoái
sẽ biến động theo xu hớng làm cho đồng tiền của nớc đó giảm giá trị và ngợc lại
khi mức giá cả hàng hóa - dịch vụ của một nớc giảm, tỷ giá hối đoái sẽ biến động
theo hớng làm tăng giá trị đồng tiền của nớc đó.
Nh vậy, thực chất của thuyết PPP là sự áp dụng quy luật một giá vào sự thay
đổi trong mức giá cả hàng hóa - dịch vụ của hai nớc. Nội dung của thuyết ngang
giá sức mua yêu cầu nếu mức giá cả của một nớc tăng x% so với mức giá cả của
nớc khác thì đồng tiền của nó sẽ mất giá x% hay đồng tiền của nớc kia tăng giá
x%.
Thuyết PPP đợc thực hiện dựa trên nội dung của quy luật một giá nên nó
cũng có những hạn chế của chính quy luật một giá (phải coi thị trờng là cạnh tranh
hoàn hảo, bỏ qua tác động của chi phí vận tải và các rào cản thơng mại). Không
6
Hoàn thiện chính sách tỷ giá nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động xuất nhập khẩu của
Việt Nam
những thế, do cách phản ánh của PPP hoàn toàn căn cứ vào những thay đổi trong
mức giá, một biến số mà cách tính toán của nó dựa trên giỏ hàng hóa - dịch vụ bao
gồm nhiều thứ không thể đem ra mua bán trao đổi giữa các nớc nh đất đai, nhà
cửa, dịch vụ du lịch, cắt tóc, ; là những hàng hóa mà sự biến động của chúng có
thể có ảnh hởng rất nhiều đến mức giá cả chung của một nớc nhng lại có rất ít tác
động đến sự biến động của tỷ giá hối đoái. Vì vậy, xác định tỷ giá hối đoái theo
thuyết PPP chỉ có giá trị tuyệt đối với quy luật một giá. Khảo sát trên thực tế, nhiều
nhà kinh tế khẳng định rằng học thuyết PPP chỉ cung cấp cho ta một hớng dẫn lâu
dài về sự biến động của tỷ giá, trong ngắn hạn nó không đợc hoàn hảo, thậm chí
còn bị sai lệch nhiều. Do vậy, để có một cái nhìn toàn diện hơn về cơ chế hình
thành tỷ giá hối đoái, cần phải xem xét tới những nhân tố tác động tới tỷ giá hối
đoái.
1.3. Những nhân tố tác động tới tỷ giá hối đoái.
1.3.1. Những nhân tố tác động tới tỷ giá hối đoái trong dài hạn.
Lập luận cơ bản cho thấy tác động của các nhân tố tới tỷ giá trong dài hạn
là: bất kỳ nhân tố nào làm tăng cầu về hàng nội so với hàng ngoại đều có xu hớng
làm tăng giá trị đồng nội tệ (giảm tỷ giá hối đoái), bởi vì hàng nội sẽ tiếp tục đợc
bán tốt ngay cả khi giá trị của đồng nội tệ tăng lên cao hơn. Tơng tự nh vậy, bất kỳ
nhân tố nào làm tăng cầu về hàng ngoại so với hàng nội đều có xu hớng làm giảm
giá trị của đồng nội tệ (tăng tỷ giá hối đoái), bởi vì hàng nội chỉ tiếp tục đợc bán
tốt nếu giá trị của đồng nội tệ thấp hơn.
Xét trong dài hạn có 4 nhân tố chủ yếu tác động tới tỷ giá. Đó là: mức giá
cả tơng đối, chính sách bảo hộ, sự a thích của hàng nội so với hàng ngoại, và
năng suất lao động.
7
Hoàn thiện chính sách tỷ giá nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động xuất nhập khẩu của
Việt Nam
a. Mức giá cả tơng đối:
Theo thuyết PPP, khi giá cả hàng nội tăng (giá hàng ngoại không đổi) thì
cầu về hàng nội giảm xuống và đồng nội tệ có xu hớng giảm giá để cho hàng nội
vẫn tiếp tục đợc bán tốt. Mặt khác, nếu giá hàng ngoại tăng lên làm sao cho giá cả
tơng đối của hàng nội giảm xuống thì cầu về hàng nội sẽ tăng lên và đồng nội tệ sẽ
có xu hớng tăng giá bởi vì hàng nội sẽ vẫn tiếp tục đợc bán tốt ngay cả với giá trị
cao hơn của đồng nội tệ.
Nh vậy, trong dài hạn một sự tăng lên của mức giá cả của một nớc (tơng
đối so với nớc ngoài) làm cho đồng tiền của nớc đó giảm giá (tỷ giá tăng), trong
khi đó một sự giảm xuống của mức giá cả tơng đối của một nớc làm cho đồng
tiền nớc đó tăng giá (tỷ giá giảm).
b. Chính sách bảo hộ:
Những chính sách bảo hộ nh thuế quan (thuế đánh vào hàng nhập khẩu) và
hạn ngạch (những hạn chế về số lợng hàng ngoại có thể đợc nhập khẩu) có thể tác
động tới tỷ giá. Giả dụ, Mỹ áp đặt một loại thuế hay một loại hạn ngạch đối với
thép của Nhật. Những chính sách bảo hộ này sẽ làm tăng cầu về thép Mỹ và do đó
đồng USD có xu hớng lên giá bởi vì thép Mỹ sẽ vẫn tiếp tục đợc bán tốt ngay cả
với một giá trị cao hơn của đồng USD. Các chính sách bảo hộ về lâu dài có thể
làm cho đồng tiền của một nớc tăng giá.
c. Sự a thích của hàng nội so với hàng ngoại:
Nếu sự ham thích của ngời tiêu dùng nớc ngoài đối với hàng hóa của nớc sở
tại (xuất khẩu) tăng lên thì cầu về hàng hóa của nớc sở tại cũng sẽ tăng lên làm cho
đồng nội tệ có xu hớng tăng giá, vì hàng hóa của nớc sở tại sẽ vẫn tiếp tục đợc bán
tốt ngay cả với giá trị cao hơn của đồng nội tệ. Cũng nh vậy, nếu ngời dân nớc sở
tại quyết định rằng họ thích tiêu dùng hàng hóa nớc ngoài hơn thì cầu về hàng hóa
nớc ngoài (nhập khẩu) sẽ tăng lên làm giảm giá trị đồng nội tệ.
8
Hoàn thiện chính sách tỷ giá nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động xuất nhập khẩu của
Việt Nam
Nh vậy, tăng cầu đối với hàng hóa xuất khẩu của một quốc gia sẽ làm
cho đồng tiền của quốc gia đó lên giá trong dài hạn; và ngợc lại, tăng cầu đối
với hàng hóa nhập khẩu của một nớc sẽ làm cho đồng tiền của nớc đó giảm giá.
d. Năng suất lao động:
Nếu năng suất lao động của một nớc cao hơn so với nớc khác thì các hãng
kinh doanh trong nớc đó có khả năng bán hàng nội ở mức giá thấp hơn tơng đối so
với giá hàng ngoại mà vẫn thu đợc lãi. Kết quả là cầu về hàng nội tăng lên và đồng
nội tệ có xu hớng tăng giá vì hàng nội sẽ vẫn tiếp tục đợc bán tốt với một giá trị
cao hơn của đồng nội tệ. Mặt khác, nếu năng suất lao động của nớc đó kém hơn
các nớc khác thì hàng hóa nớc đó trở nên đắt hơn tơng đối so với các nớc khác và
đồng tiền của nớc đó có xu hớng giảm giá.
Do đó, một quốc gia có năng suất lao động cao hơn so với các quốc gia
khác sẽ làm cho đồng tiền của quốc gia đó tăng giá trong dài hạn
Bảng 1.1: Tóm tắt những nhân tố tác động đến tỷ giá trong dài hạn
Sự biến động của các nhân tố
Sự thay đổi của tỷ gá
trong dài hạn
Mức giá cả nội địa tăng tơng đối so với mức giá cả
nớc ngoài
Tăng
Tăng cờng các chính sách bảo hộ Giảm
Cầu đối với hàng nhập khẩu tăng Tăng
Cầu đối với hàng xuất khẩu tăng Giảm
Năng suất lao động tăng Giảm
* Ghi chú: Bảng này chỉ đề cập đến sự biến đổi của tỷ giá khi các nhân tố
nói trên tăng lên. Khi các nhân tố này giảm xuống, tỷ giá sẽ thay đổi theo hớng
ngợc lại.
9
Hoàn thiện chính sách tỷ giá nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động xuất nhập khẩu của
Việt Nam
1.3.2. những nhân tố tác động tới tỷ giá hối đoái trong ngắn hạn.
Cách tiếp cận tỷ giá trong dài hạn chủ yếu nhấn mạnh tới vai trò của cầu về
xuất nhập khẩu, trong khi các giao dịch ngoại hối phục vụ cho hoạt động xuất nhập
khẩu chỉ chiếm một phần nhỏ trong số các giao dịch trên thị trờng ngoại hối. Ví
dụ, các giao dịch ngoại hối tại Mỹ một năm lớn hơn 20 lần so với kim ngạch xuất
nhập khẩu của Mỹ. Do vậy, chỉ xét đến tơng quan xuất nhập khẩu không thôi là
cha đủ để phân tích những thay đổi của tỷ giá trong ngắn hạn.
Trong ngắn hạn, lợi tức dự tính của việc nắm giữ các đồng tiền khác nhau là
nguyên nhân chủ yếu gây ra sự biến động của tỷ giá. Lợi tức dự tính của việc nắm
giữ một đồng tiền lại phụ thuộc vào lãi suất của đồng tiền ấy.
Gọi i
d
và i
f
lần lợt là lãi suất tiền gửi của đồng nội tệ và ngoại tệ.
Khi đó, lợi tức dự tính của việc nắm giữ đồng nội tệ là i
d
Lợi tức dự tính của việc nắm giữ ngoại tệ khi qui ra nội tệ không chỉ phụ
thuộc và lãi suất của ngoại tệ mà còn phụ thuộc vào sự biến động của tỷ giá. Lợi
tức dự tính của việc nắm giữ ngoại tệ khi qui ra nội tệ là: i
f
+ (e
t+1
e
t
)/e
t
. Trong
đó, e
t
là tỷ giá tại thời điểm t và e
t+1
là tỷ giá dự tính tại thời điểm t+1.
Giả định rằng các đồng tiền có khả năng thay thế hoàn hảo cho nhau thì lợi
tức giữ tính của việc nắm giữ các đồng tiền khác khau khi qui về cùng một đồng
tiền phải ngang bằng. Nếu nh lợi tức dự tính của việc nắm giữ một đồng tiền, ví dụ
VND, cao hơn lợi tức dự tính của một đồng tiền khác, ví dụ USD, do các đồng tiền
là thay thế hoàn hảo cho nhau nên ngời dân sẽ chuyến hết sang nắm giữ VND do
VND có lợi tức dự tính cao hơn, nhng trên thực tế ngời ta luôn nắm giữ các đồng
tiền khác nhau do đó ta có điều kiện ngang bằng lãi suất nh sau:
i
d
= i
f
+ (e
t+1
e
t
)/e
t
(1).
Phơng trình (1) chính là phơng trình dùng để xác định tỷ giá hối đoái trong
ngắn hạn. Có thể thấy, tỷ giá hối đoái tại thời điểm t phụ thuộc vào: lãi suất của
các đồng tiền và tỷ giá tơng lai dự tính.
10
Hoàn thiện chính sách tỷ giá nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động xuất nhập khẩu của
Việt Nam
Nh vậy, trong ngắn hạn những nhân tố tác động tới tỷ giá bao gồm:
a. Thay đổi trong lãi suất tiền gửi nớc ngoài:
Lãi suất ngoại tệ tăng làm cho lợi tức dự tính của việc nắm giữ ngoại tệ so
với nội tệ tăng, do đó cầu về ngoại tệ trên thị trờng ngoại hối tăng khiến cho ngoại
tệ lên giá hay tỷ giá tăng.
b. Thay đổi trong lãi suất trong nớc:
Lãi suất trong nớc tăng làm cho lợi tức dự tính của việc nắm giữ nội tệ tăng
lên so với ngoại tệ, do đó cầu về nội tệ trên thị trờng ngoại hối tăng làm cho nội tệ
lên giá, hay tỷ giá giảm.
c. Thay đổi trong tỷ giá tơng lai dự tính:
Bất kỳ yếu tố nào làm cho tỷ giá tơng lai dự tính giảm cũng làm cho lợi tức
dự tính của việc nắm giữ ngoại tệ khi qui ra nội tệ giảm làm cho ngoại tệ giảm giá,
hay tỷ giá giảm trong ngắn hạn.
Phần trên chúng ta đã phân tích những nhân tố tác động tới tỷ giá trong dài
hạn, đó cũng là các nhân tố tác động tới tỷ giá tơng lai dự tính. Do vậy, những sự
thay đổi sau đây sẽ làm cho ngoại tệ giảm giá so với nội tệ hay làm cho tỷ giá giảm
trong ngắn hạn:
(1) dự kiến sự tăng lên của mức giá cả nớc ngoài so với trong nớc.
(2) dự kiến mức thuế quan và hạn ngạch đối với hàng nhập khẩu của nớc
mình cao hơn so với nớc khác.
(3) dự kiến cầu đối với hàng xuất khẩu tăng lên
(4) dự kiến cầu đối với hàng nhập khẩu giảm xuống
(5) dự kiến năng suất lao động trong nớc cao hơn so với nớc ngoài.
11
Hoàn thiện chính sách tỷ giá nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động xuất nhập khẩu của
Việt Nam
Bảng 1.2: Tóm tắt những nhân tố tác động đến tỷ giá trong ngắn hạn
Sự biến động của các nhân tố
Sự thay đổi của tỷ gá
trong ngắn hạn
Lãi suất ngoại tệ tăng Tăng
Lãi suất nội tệ tăng Giảm
Dự kiến sự tăng lên của mức giá cả nớc ngoài so với
trong nớc
Giảm
Dự kiến mức thuế quan và hạn ngạch đối với hàng
nhập khẩu của nớc mình cao hơn so với các nớc khác
Giảm
Dự kiến cầu đối với hàng nhập khẩu tăng Tăng
Dự kiến cầu đối với hàng xuất khẩu tăng Giảm
Dự kiến năng suất lao động trong nớc cao hơn so với
nớc ngoài
Giảm
* Ghi chú: Bảng này chỉ đề cập đến sự biến đổi của tỷ giá khi các nhân tố
nói trên tăng lên. Khi các nhân tố này giảm xuống, tỷ giá sẽ thay đổi theo hớng
ngợc lại.
1.4. các chế độ tỷ giá.
Tỷ giá có ý nghĩa quan trọng đối với mọi chủ thể tham gia vào các giao dịch
đối ngoại cho dù đó là các thơng gia hoặc các nhà đầu t. Tỷ giá cũng đóng vai trò
trung tâm trong hoạt động của chính sách tiền tệ, sự thay đổi của tỷ giá có ảnh h-
ởng đến hầu nh toàn bộ đời sống kinh tế xã hội. Mức độ can thiệp khác nhau của
các nhà nớc tới tỷ giá đã tạo nên những khác nhau về cơ chế, nguyên tắc điều hành
tỷ giá và chính sách liên quan giữa các quốc gia. Nhng tựu trung lại có hai chế độ
tỷ giá cơ bản, đó là chế độ tỷ giá thả nổi và chế độ tỷ giá cố định. Ngay mỗi quốc
12
Hoàn thiện chính sách tỷ giá nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động xuất nhập khẩu của
Việt Nam
gia, trong những thời kỳ khác nhau có sự lựa chọn khác nhau về mức độ cố định,
thả nổi hoặc sự trung hòa nào đó giữa hai chế độ này.
Theo số liệu thống kê của IMF đến tháng 06/1997, các chế độ tỷ giá đợc các
nớc áp dụng nh sau:
Bảng 1.3: Tổng hợp các chế độ tỷ giá
Tỷ giá đợc neo cố định với
USD 21 nớc
FRF 15 nớc
SDR 2 nớc
Đồng tiền khác 9 nớc
Hỗn hợp các đồng tiền 18 nớc
Thả nổi hạn chế
Từng đồng tiền 4 nớc
Thả nổi tập thể 12 nớc
Thả nổi
Tự do 51 nớc
Có điều tiết 49 nớc
Tổng cộng 181 nớc
(Nguồn:International Statistics, IMF, October, 1997)
1.4.1. chế độ tỷ giá cố định
Một quốc gia thi hành chế độ tỷ giá cố định tức là neo đồng tiền của mình
vào vàng hoặc vào một đồng tiền hay một nhóm các đồng tiền. Trong chế độ tỷ giá
cố định, Ngân hàng trung ơng buộc phải can thiệp trên thị trờng ngoại hối để duy
trì tỷ giá biến động xung quanh tỷ giá cố định (tỷ giá trung tâm) trong một biên độ
hẹp đã định trớc. Nh vậy, trong chế độ tỷ giá cố định, Ngân hàng trung ơng buộc
phải mua vào hay bán ra đồng nội tệ nhằm giới hạn sự biến động của tỷ giá trong
biên độ đã định. Để tiến hành can thiệp trên thị trờng ngoại hối đòi hỏi Ngân hàng
trung ơng phải có sẵn nguồn dự trữ ngoại hối nhất định. Do mỗi đồng tiền quốc gia
đều có tỷ giá với các đồng tiền khác nhau, do đó, tỷ giá của một đồng tiền có thể
đợc neo cố định với đồng tiền này nhng lại đợc thả nổi với đồng tiền khác. Ví dụ,
13
Hoàn thiện chính sách tỷ giá nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động xuất nhập khẩu của
Việt Nam
giá trị của đồng Peso Argentina đợc thả nổi với đồng france Pháp nhng lại đợc cố
định với đô la Mỹ.
Chế độ tỷ giá cố định có tác động cả mặt tích cực, lẫn mặt không tích cực
đến quá trình phát triển kinh tế.
Một mặt, chế độ tỷ giá cố định tạo thuận tiện cho việc tham gia kinh doanh
và các giao dịch tài chính. Tỷ giá luôn cố định trong suốt thời gian kể từ khi tính
toán bắt đầu giao dịch cho đến khi kết thúc giao dịch, do đó giảm bớt rủi ro về
kinh tế, và nh vậy thúc đẩy đầu t và thơng mại quốc tế.
Mặt khác, tỷ giá cố định trong thời gian dài thờng không thể phản ánh đúng
sức mua của đồng tiền đó tại nhiều thời điểm, từ đó kéo theo những hệ quả tiêu cực
của việc định giá kéo dài quá cao hoặc quá thấp giá trị đồng bản tệ, mà cuộc
khủng hoảng tài chính - tiền tệ khu vực vừa qua là minh chứng điển hình. Hơn nữa,
dù là chế độ tỷ giá cố định, song rủi ro tỷ giá vẫn không đợc loại trừ, do sự điều
hành chính sách tỷ giá của nhà nớc thờng diễn ra bí mật, dễ làm phát sinh nạn đầu
cơ ngoại tệ, phát triển thị trờng chợ đen, gây mất ổn định tiền tệ, buộc Ngân hàng
trung ơng phải can thiệp vào thị trờng bằng một khoản dự trữ ngoại tệ đáng kể
nhằm giữ giá đồng tiền (chính vì thế mà Ngân hàng trung ơng cần thiết phải duy trì
một mức nhất định về dự trữ ngoại hối, khiến chi phí về quản lý tài sản sẽ lớn).
Khi sức ép giảm giá nội tệ tăng, trong khi dự trữ ngoại tệ hạn chế, muốn duy
trì đợc tỷ giá cố định thì Chính phủ buộc phải làm một hay đồng thời các giải pháp
sau đây:
- Vay nợ nớc ngoài, biện pháp này có hiệu quả tức thời vì nó làm tăng cung
ngoại tệ, nhng rõ ràng về mặt dài hạn nó lại dẫn đến một luồng ngoại tệ ra lớn hơn
(cả vốn lẫn lãi) với tất cả những hệ quả tiêu cực kèm theo.
- Thực hiện chính sách ngoại hối thắt chặt, giảm chi tiêu nhà nớc, tăng thuế,
kiểm soát giá cả và tiền lơng Kết quả tất yếu của việc này là làm giảm động lực
tăng trởng của nền kinh tế.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét