đoạn văn này có nội dung bình luận thêm một cách sơ lược về giá trị nghệ thuật của Hoàng Lê nhất thống chí.
N
goài ra những đoạn văn vừa nêu, phần khai triển còn có câu (*). Câu văn này không thuộc đoạn văn nào, mà nó chỉ
có chức năng đúc kết lại mặt chủ đề thứ nhất và dẫn dắt, giới thiệu mặt chủ đề thứ hai.
Phần Kết luận được cấu tạo bằng một đoạn văn: đoạn (i). Trong đó, câu cuối có chức năng đúc kết, khẳng
định lại chủ đề của toàn văn bản. Ðây chính là câu kết đề của văn bản.
Bên cạnh các cấp độ đơn vị dưới văn bản, cấu trúc văn bản có thể còn bao gồm một bộ phận khác, đó là tiêu
đề của nó.
3- Khái niệm về tiêu đề của văn bản.
Tiêu đề (tiếng Anh: title; tiếng Pháp: titre) hay đầu đề của văn bản là
tên gọi của văn bản và là một bộ phận
cấu thành văn bản. Tuy nhiên, một số loại văn bản có thể không có tiêu đề, tiêu biểu như tin vắn, các sáng tác dân ca
như ca dao v.v
Xét mối quan hệ giữa tiêu đề với nội dung cơ bản của văn bản, có hai loại tiêu đề: tiêu đề mang tính dự báo
và tiêu đề mang tính nghệ thuật.
3.1- Tiêu đề mang tính dự báo.
Ðây là loại tiêu đề phản ánh một phần hay toàn bộ nội dung cơ bản của văn bản. Qua tiêu đề thuộc loại này,
người đọc có thể suy đoán trước đề tài hay/và chủ đề của văn bản.
Ví dụ: Thằng Bờm (a), Cảnh rừng Việt Bắc (b), Mùa gặt ở làng
tôi (c), Hoàng Lê nhất thống chí (d), Lão
Hạc (e), Vợ nhặt (f), Ðiệp vụ Bodygard - nguyên nhân thất bại của Hitler (g), Hoa hậu Malaisia bị tước danh hiệu (h)
v.v
Tiêu đề (a) đã phản ánh được một trong hai đề tài của văn bản. Tiêu đề (b) phản ánh toàn bộ đề tài của bài thơ.
Tiêu đề (c), (d), (e) cũng tương tự. Tiêu đề (f) liên quan chặt chẽ với chủ đề. Tiêu đề (g) và (h) vừa phản ánh đề tài,
vừa gợi ra chủ đề của văn bản.
3.2- Tiêu đề mang tính nghệ thuật.
Loại tiêu đề này không gợi ra điều gì về đề tài và chủ đề của văn bản. Nó được đặt ra nhằm mục đích gây ấn
tượng, nghi binh nhằm đánh lạc hướng người đọc. Thậm chí, loại tiêu đề này có thể trở thành phản tiêu
đề. Chẳng
hạn, các tiêu đề như Oẳn tà roằn (tên một truyện ngắn
củ
a Nguyễn Công Hoan), Bến không chồng (tên một quyển
tiểu thuyết của Dương Hướng), Thân phận tình yêu (tên một quyển tiểu thuyết của Bảo Ninh) gây ấn tượng rất
mạnh đối với người đọc. Còn các tiêu đề như Báo hiếu: trả nghĩa cha, Báo hiếu: trả nghĩa mẹ, Một tấm gương sáng
(tên ba truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan) thì lại mang tính chất nghi binh nhằm đánh lạc hướng, tạo bấ
t ngờ đối
với người đọc. Bởi vì, các tiêu đề này đã dự báo trước chủ đề một cách giả tạo, hoàn toàn trái ngược với chủ đề thật
sự của truyện. Một tấm gương sáng viết về cuộc đời dâm đãng, đĩ thoã của Thị Bống, Báo hiếu: trả nghĩa cha và Báo
hiếu: trả nghĩa mẹ viết về hành vi ứng xử bất nhân, bất nghĩa, bất hiếu của vợ chồng ông chủ Hãng ô tô Con Cọp đối
với hai đấng sinh thành. Riêng các tiêu đề như Vô đề, Không đề, bài không tên thì lại mang tính chất phản tiêu đề.
Bởi vì đó chỉ là trò chơi chữ!
Xét mối quan hệ giữa hai loại tiêu đề vừa nếu với các phong cách ngôn ngữ văn bản, chúng ta thấy các loại
văn bản thuộc phong cách khoa học, hành chánh và chính luận thường có tiêu đề mang tính dự báo. Còn các loại văn
bản thuộ
c phong cách nghệ thuật thường có tiêu đề mang tính chất nghệ thuật hơn là tính chất dự báo.
Về mặt ngôn từ biểu đạt, tiêu đề có thể chia thành hai loại: tiêu đề biểu đạt bằng từ, ngữ và tiêu đề biểu đạt
bằng câu thuộc đủ kiểu loại (câu hoàn chỉnh và câu tỉnh lược, câu trần thuật, câu mệnh lệnh, câu nghi vấn ). Các tiêu
đề như Nghèo (tên một truyện ngắn của Nam Cao), Khói (tên một truyện ngắn c
ủa Anh Ðức) là tiêu đề bằng từ. Các
tiêu đề như Muối của rừng, Giấc mơ ông lão vườn chim, Vấn đề rượu ở Nga, Cảnh rừng Việt Bắc, là tiêu đề bằng
ngữ. Các tiêu đề như ta đi tới, Hãy nhớ lời tôi!, Hoa hậu Malaysia bị tước danh hiệu, Sao lại thế này? là tiêu đề
bằng câu.
Xét về m
ặ
t c
ấ
p
độ, có tiêu đề to
à
n thể và tiêu đề
b
ộ
p
h
ậ
n. Tiêu đề to
à
n thể là tiêu đề của cả v
ă
n b
ả
n. Tiêu đề
htt
p
://tieulun.ho
p
to.or
g
bộ phận là tiêu đề của từng phần, chương, mục trong văn bản.
4- Ðặc trưng của văn bản.
Ðặc trưng của văn bản thể hiện qua các tính chất: tính hoàn chỉnh,
tính thống nhất, tính liên kết và tính mạch
lạc. Trong đó tính hoàn chỉnh và
tính liên kết là hai đặc trưng cơ bản.
4.1- Tính hoàn chỉnh (Completeness).
Tính hoàn chỉnh của văn bản thể hiện ở hai mặt: nội dung biểu đạt
và cấu trúc. Trong đó, tính hoàn chỉnh về
mặt nội dung có ý nghĩa quyết định.
Xét về mặt nội dung, một văn bản được xem là hoàn chỉnh khi đề tài và chủ đề của nó được triển khai một
cách đầy đủ, chính xác và mạch lạc. Nếu đề tài, chủ đề triển khai không đầy đủ, vượt quá giới hạn hay thiếu chính
xác, mạch lạc thì văn bản sẽ vi phạm tính hoàn chỉnh.
Xem xét các văn bản dẫn chứng chúng ta sẽ thấy rõ đặc điểm vừa nêu. Trong bài Thằng Bờm, các câu văn đều
tập trung vào hai đối tượng chính là thằng Bờm và phú ông. Mặt khác, các câu còn tập trung vào việc triển khai cuộc
trao đổi giữa họ theo diễn tiến từ đầu đến khi kết thúc. Trong bài Cảnh rừng Việt Bắc, các câu văn đã tập trung vào
cảnh núi rừng Việt Bắc, đồng thời tập trung vào vi
ệc triển khai, làm sáng tỏ cái hay của nó ở mặt cảnh sắc cũng như
sản vật. Trong bài Hoàng Lê nhất thống chí, tất cả các đoạn văn đều xoay quanh tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí,
đồng thời tập trung nội dung bàn luận, đánh giá nhằm làm sáng tỏ hai mặt chủ đề của bài viết. Các đoạn văn còn lại
được phân bố từ mặt chủ đề thứ nhất sang mặt chủ
đề thứ hai một cách hợp lí, mạch lạc.
Xét về mặt cấu trúc, một văn bản được xem là hoàn chỉnh khi các phần, các đoạn, các câu trong từng đoạn
được tổ chức, sắp xếp theo một trật tự hợp lí, thể hiện một cách đầy đủ, chính xác, và mạch lạc nội dung của văn bản.
Sự hoàn chỉnh về mặt cấu trúc của văn bản còn chịu sự chi phối gián tiếp của phong cách ngôn ngữ văn bản. Tuỳ vào
p
hong cách ngôn ngữ, cấu trúc của các văn bản thuộc phong cách hành chánh phải tuân thủ khuôn mẫu rất nghiêm
ngặt. Các văn bản thuộc phong cách khoa học cũng ít nhiều mang tính khuôn mẫu, thể hiện qua bố cục của các phần.
Riêng văn bản thuộc phong cách nghệ thuật như thơ, truyện, ký thì thường có cấu trúc linh hoạt.
4.2- Tính liên kết (Cohesion).
Tính liên kết của văn bản là tính chất kết hợp, gắn bó, ràng buộc qua lại
giữa các cấp độ đơn vị dưới văn bản.
Ðó là sự kết hợp, gắn bó giữa các câu trong đoạn, giữa các đoạn, các phần, các chương với nhau, xét về mặt nội dung
cũng như hình thức biểu đạt. Trên cơ sở đó,tính liên kết của văn bản thể hiện ở hai mặt: liên kết nội dung và liên kết
hình thức.
a) Tính liên kết nội dung:
Nội dung văn bản bao gồm hai nhân tố cơ bản: đề tài và chủ đề (hay còn gọi là chủ đề và lô-gích). Do đó, tính
liên kết về mặt nội dung thể hiện tập trung qua việc tổ chức, triển khai hai nhân tố này, trên cơ sở đó hình thành 2
nhân tố liên kết: liên kết đề tài và liên kết chủ đề (còn gọi là liên
kết chủ đề và liên kết lô-gích).
Liên kết đề tài là sự kết hợp, gắn bó giữa các cấp độ đơn vị dưới văn
bản trong việc tập trung thể hiện đối
tượng mà văn bản đề cập đến. Trong bài Thằng Bờm, các câu đều tập trung vào hai đối tượng: Thằng Bờm và phú
ông. Trong bài Hoàng Lê nhất thống chí, các đoạn, các câu trong từng đoạn đều tập trung vào quyển tiểu thuyết này
hay tập trung vào các đối tượng vốn xuất hiện trong tác phẩm: vua chúa, quan lại, kiêu binh, các mối quan hệ phong
kiến. Ðó là biểu hiệ
n cụ thể của sự liên kết về đề tài.
Liên kết chủ đề là sự tương hợp mang tính lô-gích về nội dung nghĩa
giữa các cấp độ đơn vị dưới văn bản. Ðó
là sự tương hợp về nội dung miêu tả, trần thuật hay bàn luận giữa các câu, các đoạn, các phần trong văn bản. Một văn
bản được xem là có liên kết lô-gích khi nội dung miêu tả, trần thuật, bàn lu
ận giữa các câu, các đoạn, các phần không
rời rạc hay mâu thuẫn với nhau, ngoại trừ trường hợp người viết cố tình tạo ra sự mâu thuẫn nhắm vào một mục đích
biểu đạt nào đó.
Xem lại bài Thằng Bờm, chúng ta thấy, nội dung trần thuật giữa các câu thể hiện rõ qua hành động mang tính
ch
ấ
t đề n
g
hị trao đổi của
p
hú ôn
g
và th
á
i độ,
p
h
ả
n ứn
g
của th
ằ
n
g
B
ờ
m t
r
ư
ớ
c c
á
c đề n
g
hị cụ thể. Th
ằ
n
g
B
ờ
m đã l
ầ
n
htt
p
://tieulun.ho
p
to.or
g
lượt từ chối hết đề nghị này đến đề nghị khác của phú ông cho đến khi phú ông đưa ra nắm xôi, thằng Bờm
đồng ý. Ðến đó, cuộc trao đổi kết thúc. Ðó là biểu hiện cụ thể của liên kết chủ đề trong bài đồng dao này.
Trong bài Hoàng Lê nhẩt thống chí, trước hết chúng ta thấy các đoạn văn (phần Khai triển) đều tập trung vào
việc triển khai hai mặt chủ đề mà câu chủ đề đã nêu ra. Bên cạnh đó, một số đoạn văn (c, d, e, f) có nội dung bàn luận
tương hợp chặt chẽ với nhau, thể hiện qua việc cùng nên lên tính chất băng hoại, xấu xa của các thế lực như vua chúa
Lê - Trịnh, văn quan võ tướng, kiêu binh và các mối quan hệ phong kiến. Tiếp thao, đoạn (g) bàn luận về sức mạnh
của phong trào Tây Sươn - mặt chủ đề thứ hai của văn bản. Còn lại, đoạn (h) bàn luận về nghệ thuật của Hoàng Lê
nhẩt thống chí. Ði sâu vào nội dung bàn luận trong từng đoạn, tình hình cũng tương tự. Như vậy, văn bản này liên kết
rất chặt chẽ về mặt chủ đề.
b) Liên kết hình thức.
Liên kết hình thức trong văn bản là sự kết hợp, gắn bó giữa các cấp
độ đơn vị dưới văn bản xét trên bình diện
ngôn từ biểu đạt, nhằm hình thức hoá, hiện thực hoá mối quan hệ về mặt nội dung giữa chúng.
Như đã nói, liên kết nội dung với hai nhân tố đề tài và chủ đề thể hiện qua mối quan hệ giữa các câu, các
đoạn, các phần , xoay quanh đề tài và chủ đề của văn bản. Mối quan hệ này mang tính chất trừu tượng, không tường
minh. Do đó, trong quá trình tạo văn bản, người viết (ngườ
i nói) bao giờ cũng phải vận dụng các phương tiện ngôn từ
cụ thể để hình thức hoá, xác lập mối quan hệ đó. Toàn bộ các phương tiện ngôn từ có giá trị xác lập mối quan hệ về
nội dung giữa các câu, các đoạn là biểu hiện cụ thể của liên kết hình thức.
Liên kết hình thức trong văn bản được phân chia thành nhiều
phương thức liên kết. Mỗi phương thức liên k
ết
là một cách tổ chức sự
liên kết, bao gồm nhiều phương tiện liên kết khác nhau có chung đặc điểm nào đó. Nhìn
chung, liên kết hình thức bao gồm các phép liên kết: lặp ngữ âm, lặp từ vựng, thế đồng nghĩa, liên tưởng, đối nghịch,
thế đại từ, tỉnh lược cấu trúc, lặp cấu trúc và tuyến tính. Các
phép liên kết này sẽ được xem xét cụ thể trong tổ chức
của đoạn văn - đơn vị cơ sở và là đơn vị điển hình của văn bản. Các phép liên kết này cũng được vận dụng giữa các
đoạn, phần trong văn bản. Ðiều đó có nghĩa là liên kết hình thức thể hiện ở nhiều cấp độ trong văn bản. Trong văn
bản, liên kết nội dung và liên kết hình thức có mối quan hệ biện chứng với nhau, trong đó, liên kết nội dung quy định
liên kết hình thức.
1- Khái niệm về đoạn văn.
Ðoạn văn là một tập hợp câu liên kết chặt chẽ với nhau về nội dung
và hình thức, diễn đạt hoàn chỉnh hay
tương đối hoàn chỉnh một chủ đề bộ phận ở cấp độ nhỏ nhất nào đó trong chủ đề hay hệ thống chủ đề toàn thể của
văn bản.
Trong định nghĩa vừa nêu, cần lưu ý mấy điểm:
Thứ nhất là vè khái niệm tập hợp. Nếu đoạn văn là một tập hợp thì câu chính là phần tử. Do đó, về số lượng
câu, đoạn văn có ba khả năng: đoạn văn gồm nhiều câu, tức là từ hai trở lên (tập hợp nhiều phần tử), đoạn văn một
câu (tập hợp một phần tử) và đoạn văn không có câu nào (tập hợp rỗng). Ðoạn văn nhiều câu là hiện tượng phổ biến
trong văn bản. Ðoạn văn một câu chỉ xuất hiện rải rác trong văn bản. Ðoạn văn không câu nào là trường hợp đặc biệt,
chỉ xuất hiện ở các bài văn tuyển. Ðó là những đoạn văn đã bị lược bỏ, được báo hiệu bằng dấu chấm ngang dòng.
Thứ hai là tính liên kết trong đoạn văn. Trong đoạn văn, tính liên kết cũng thể hiện ở cả hai bình diện: liên kết
nội dung và liên kết hình thức như ở cấp độ văn bản.
Thứ ba là sự hoàn chỉnh tương đối của đoạn văn. Một đoạn văn được xem là hoàn chỉnh khi nội dung biểu đạt
của nó mang tính tự nghĩa và xác định. Ðoạn văn chỉ hoàn chỉnh tương đối khi nội dung biểu đạt của nó mang tính
hợp nghĩa và/hay không xác định.
Thứ tư là về khái niệm chủ đề bộ phận ở cấp độ nhỏ nhất mà đoạn văn diễn đạt. Ðiều này có nghĩa là những
chuỗi câu dưới đoạn chỉ có chức năng triển khai chủ đề của đoạn; dưới đoạn không còn chủ đề bộ phận ở cấp độ nhỏ
h
ơ
n.
II. ÐO
Ạ
N VĂN - ÐƠN V
Ị
ÐIỂN HÌNH VÀ ÐƠN V
Ị
CƠ SỞ CỦA VĂN BẢN
TOP
htt
p
://tieulun.ho
p
to.or
g
Xem xét các đoạn văn sau đây:
(a) Chị Sáu như say sưa với cảnh vật thiên nhiên. Chị hát theo một con
chim đang hót. Chị rướn đôi tay bị
còng chụp một con bướm bay qua. Chỉ chẳng để ý gì đến bọn lính tráng với súng gươm tua tủa quanh mình.
(b) Những người tù biết trời mưa khi vừa bị lùa ra khỏi hầm. Họ đón lấy
giọt mưa với nỗi sung sướng thầm
lặng. Ngót một năm rồi, họ bị nhốt kín. Sống với roi vọt và bóng tối, họ thèm ánh mặt trời, thèm mưa, thèm cỏ cây.
H
ọ khao khát mọi thứ tầm thường nhất mà xưa nay thiên nhiên vẫn rộng lòng ban phát cho một người.
(c) Chị Dậu là một người phụ nữ có nhan sắc, chị có cái đẹp của cô gái
Cầu Lim, Ðình Cẫm như tác giả nhận
x
ét. Nhưng tấm lòng của chị trăng trong như băng tuyết. Chỉ vì suất sưu mấy đồng bạc, chị đã phải khổ sở, điêu đứng
rất nhiều, nhưng chị đã khinh bỉ ném nắm bạc vào mặt tên quan phủ dâm ô. Hai lần bị cưỡng hiếp, hai lần chị đã
cương quyết chống lại và thoát ra được. Ðạo đức của chị, lòng kiên trinh của chị, tiền tài không làm hoen ố được,
s
ức mạnh và uy vũ của bọn thống trị không lung lạc được.
Ðoạn văn (a) có chủ đề: trạng thái say sưa với cảnh vật thiên nhiên (của chị Sáu). Chủ đề này được nêu trong
câu thứ nhất. Các câu còn lại triển khai, làm sáng tỏ chủ đề đó. Ðoạn văn (b) có chủ đề là trạng thái khao khát thiên
nhiên (của những người tù). Chủ đề được nêu ở câu cuối, và là kết quả của sự khái quát dự
a trên những sự việc được
nêu trong câu thứ hai, thứ ba và thứ tư. Ðoạn văn (c) có chủ đề: phẩm chất trắng trong (của chị Dậu). Chủ đề này
được nêu lên ở câu thứ hai, được làm sáng tỏ qua câu thứ ba, thứ tư và được khái quát lại ở câu cuối.
2- Cấu trúc của đoạn văn.
Nói đến cấu trúc của đoạn văn là nói đến các loại câu có chức năng khác nhau và sự phân b
ố, sắp xếp cùng
với mối quan hệ qua lại giữa chúng.
Trong đoạn văn, có tất cả năm loại câu có chức năng khác nhau, được phân bố, sắp xếp qua sơ đồ cấu trúc
tổng thể sau đây:
2.1-
C
âu chu
y
ển đo
ạ
n.
htt
p
://tieulun.ho
p
to.or
g
Câu chuyển đoạn là loại câu có chức năng liên kết đoạn văn mà nó
trực tiếp thuộc với đoạn văn hay phần văn
bản đứng trước. Về nội dung biểu đạt, loại câu này bao giờ cũng nhắc lại, hồi quy chủ đề bộ phận đã trình bày bằng
cách lặp lại từ vựng hay thế đồng nghĩa, thế đại từ.
Câu chuyển đoạn có thể xuất hiện hay vắng mặt. Nếu xuất hiện, số lượng thường gặp là một, đứng đầu đoạn.
N
ếu câu chuyển đoạn vắng mặt, chức năng liên kết đoạn sẽ do một, hai loại câu khác đồng thời đảm nhiệm.
2.2- Câu mở đoạn.
Câu mở đoạn là loại câu có chức năng đưa đẩy hay dẫn dắt ý vào
đoạn. Khác với câu chuyển đoạn, câu mở
đoạn không nhắc lại chủ đề đã đề cập đến mà nó nêu lên một thông tin nào đó có quan hệ với chủ đề của đoạn.
Câu mở đoạn có hai khả năng: xuất hiện hay vắng mặt. Khi xuất hiện, số lượng thường gặp là một, hai câu,
đứng ở đầu đoạn. Xem lại ba đoạn văn vừa dẫn trong mục 1. Câu thứ nhất trong đoạn (b) và (c) là câu mở đoạn.
Xét mối quan hệ giữa câu mở đoạn với câu chủ đoạn, chúng ta cần lưu ý: Hai loại câu này có xu hướng loại
trừ nhau trong đoạn văn. Bên cạnh đó, chức năng liên kết đoạn và dẫn dắt vào đoạn có thể được phức hợp trong một
câu văn: một bộ phận nào đó có chức năng liên kết, bộ phận còn lại dẫn ý vào đoạn.
Ví dụ:
Ông quan đã vậy, còn quan bà thì sao? Ðại diện cho quan bà đây là mụ mẹ Hoạn Thư (H.T).
2.3- Câu chủ đoạn.
Câu chủ đoạn là loại câu có chức năng nêu lên chủ đề của đoạn văn
mà các câu thuyết đoán sẽ triển khai làm
sáng tỏ. Trong trường hợp câu chủ đoạn là câu thứ nhất của đoạn thì ngoài chức năng nêu lên chủ đề, nó còn có chức
năng phụ: liên kết văn bản.
Câu chủ đoạn có khả năng xuất hiện hay vắng mặt. Nếu xuất hiện, số lượng thường gặp là một câu, đứng đầu
đoạn hay sau câu chuyển đoạn, câu mở đoạn, nếu đoạn văn có hai loại câu này. Trong trường hợp câu chủ đoạn vắng
mặt, chủ đề của đoạn có thể mang tính hàm ngôn hay do câu kết đoạn biểu đạt, nếu câu kết đoạn xuất hiện. Xem lại
ba ví dụ đã dẫn trong mục 2.1. Câu thứ nhất trong đoạn (a) và câu thứ hai trong đoạn (c) là câu chủ đoạn.
2.4- Câu thuyết đoạn.
Câu thuyết đoạn là loại câu có chức năng triển khai, làm sáng tỏ chủ
đề của đoạn, hay nêu lên sự việc, sự
kiện làm tiền đề để rút ra kế
t luận khái quát trong câu kết đoạn.
Trừ trường hợp đoạn văn một câu, câu thuyết đoạn bao giờ cũng xuất hiện, số lượng tuỳ vào quy mô của
đoạn: từ một đến chín, mười câu hay nhiều hơn nữa. Ðoạn văn càng có nhiều câu thuyết đoạn thì chủ đề càng được
triển khai cụ thể, chi tiết hơn.
Xem lại ba ví dụ đã dẫ
n ở mục 2.1. Trong đoạn (a), các câu thứ hai, thứ ba, thứ tư là câu thuyết đoạn. Trong
đoạn (b), các câu thứ hai, thứ ba, thứ tư là câu thuyết đoạn. Trong đoạn (c), các câu thứ hai, thứ ba là câu thuyết đoạn.
2.5- Câu kết đoạn.
Câu kết đoạn là loại câu có chức năng đúc kết, khái quát lại hay mở
rộng chủ đề của đoạn. Trong trường hợp
đoạn văn không có câu chủ đoạn mà có câu kết đoạn, câu kết đoạn là câu nêu lên chủ đề của đoạn.
Câu kết đoạn có thể xuất hiện hay vắng mặt. Nếu xuất hiện, số lượng có thể là một, hai câu, nằm ở cuối đoạn
văn.
3- Các kiểu kết cấu của đoạn văn.
Như vừa t
r
ình b
à
y
, c
ấ
u t
r
úc tổn
g
thể của đo
ạ
n v
ă
n bao
g
ồm n
ă
m lo
ạ
i c
â
u có chức n
ă
n
g
kh
á
c nhau. Tron
g
đó
htt
p
://tieulun.ho
p
to.or
g
câu chủ đoạn, câu thuyết đoạn và câu kết đoạn là ba loại câu cơ bản. Trong ba loại câu này, câu chủ đoạn và
câu kết đoạn có thể xuất hiện hay vắng mặt, hình thành những biến thể cụ thể của cấu trúc đoạn văn. Những biến thể
cụ thể này là các kiểu kết cấu của đoạn (còn được gọi là các cách lập luận).
Có bốn kiểu kết cấu của đoạn:
3.1- Kết cấu diễn giải.
Kiểu kết cấu này bao gồm câu chủ đoạn và câu thuyết đoạn. Trong đó câu chủ đoạn nêu lên chủ đề, câu
thuyết đoạn triển khai làm sáng tỏ chủ đề. Kiểu kết cấu này không có câu kết đoạn.
3.2- Kết cấu quy nạp.
Quy nạp là kiểu kết cấu bao gồm câu thuyết đoạn và câu kết đoạn. Trong đó, câu thuyết đoạn nêu lên sự việc,
chi tiết cụ thể làm cơ sở để rút ra kết luận khái quát trong câu kết đoạn. Kiểu kết cấu này không có câu chủ đoạn.
3.3- Kết cấu diễn giải kết hợp với quy nạp.
Ðây là kiểu kết cấu bao gồm câu chủ đoạn, câu thuyết đoạn và câu kết
đoạn. Trong đó, câu chủ đoạn nêu lên
chủ đề, câu thuyết đoạn triển
khai làm sáng tỏ chủ đề và câu kết đoạn đúc kết, khái quát lại hay mở rộng chủ đề. Ðây
là kiểu kết cấu lí tưởng của đoạn, bởi lẽ nó tạo nên sự hoàn chỉnh, cân đối nhất cho đoạn văn.
3.4- Kết cấu song hành.
Ðây là kiểu kết cấu chỉ bao gồm một số câu thuyết đoạn, câu chủ đoạn và câu kết đoạn vắng mặt. Ðiều đó có
nghĩa là chủ đề của đoạn văn mang tính chất hàm ngôn.
4. Phân loại đoạn văn.
Dựa vào đặc điểm về nội dung biểu đạt, có tất cả bốn loại đoạn văn cơ bản:
4.1- Ðoạn miêu tả.
Ðoạn miêu tả là loại đoạn văn có nội dung thể hiện sự vật, hiện tượng một cách chi tiết, cụ thể, sinh động như
nó tồn tại trong thực tại khách quan hay theo trí tưởng tượng của người viết. Ðây là đoạn văn cơ bản, xuất hiện rất
p
hổ biến trong các loại văn bản thuộc phong cách nghệ thuật như truyện, thơ trữ tình, kí sự. Các đoạn văn (a), (b) đã
dẫn trong mục 2.1 là đoạn miêu tả.
4.2- Ðoạn thuật sự.
Thuật sự là loại đoạn văn có nội dung trình bày diễn biến của sự việc, sự kiện như nó đã xảy ra hay theo trí
tưởng tượng của người viết. Loại đoạn văn này có khả năng xuất hiện trong nhiều phong cách ngôn ngữ văn bản:
hành chánh, khoa học, chính luận và nghệ thuật.
4.3- Ðoạn lập luận.
Lập luận là loại đoạn văn có nội dung trình bày suy nghĩ, ý kiến, quan điểm của người viết về một vấn đề, một
hiện tượng nào đó. Ðây là loại đoạn văn cơ bản, xuất hiện rất phổ biến trong các loại văn bản thuộc phong cách khoa
học, chính luận. Văn bản thuộc phong cách hành chánh cũng có thể vận dụng loại đoạn văn này, nhưng ít phổ biến
hơn.
4.4- Ðoạn hội thoại.
Hội thoại là loại đoạn văn có nội dung phản ánh lời nói trực tiếp của con người tham gia giao tiếp. Ðoạn văn
hội thoại xuất hiện rất phổ biến trong khẩu ngữ tự nhiên hàng ngày, trong các văn bản thuộc phong cách nghệ thuật
như tru
y
ện.
htt
p
://tieulun.ho
p
to.or
g
Những vấn đề cơ bản về văn bản và đoạn văn đã trình bày là những tri thức thông báo cơ bản. Những tri thức
đó là cơ sở để đúc kết, rút ra những tri thức về quy trình xây dựng, tạo lập văn bản.
1. Sơ lược về các giai đoạn trong quy trình tạo lập văn bản.
Nhìn chung, quá trình tạo lập văn bản bao gồm bốn giai đoạn tiếp nối nhau: định hướng, lập chương trình biểu
đạt (lập đề cương), tạo văn bản và kiểm tra, sửa chữa văn bản (bản thảo). Quy trình này được tiến hành khi người viết
tự chọn đề tài để viết hay được yêu cầu với đề văn cho sẵn như trong nhà trường.
Ðịnh hướng là giai đoạn người viết xem xét, phân tích đề tài/đề
văn, trên cơ sở
đó xác định chủ đề của bài
viết, loại văn bản và hướng sưu tập tư liệu cũng như phạm vi giới hạn của tư liệu sẽ sử dụng.
Lập chương trình biểu đạt là giai đoạn người viết động não để triển
khai, cụ thể hoá chủ đề thành các mặt chủ
đề bộ phận thuộc nhiều cấp độ, k
ết hợp với việc tập hợp tư liệu cần thiết, trên cơ sở chọn lựa, sắp xếp lại thành đề
cương (dàn ý) của bài viết với hệ thống các số mục, đề mục cụ thể.
Tạo văn bản là giai đoạn người viết vận dụng kiến thức về từ, câu,
đoạn, văn bản để lần lượt hiện thực hoá đề
cương thành văn bản dưới dạng bản thảo.
Kiểm tra sửa chữa bản thảo là giai đoạn người viết đọc lại bản thảo,
phát hiện lỗi sai và sửa chữa để bài viết
hoàn chỉnh hơn.
2- Các giai đoạn tạo lập văn bản.
2.1 Ðịnh hướng.
Trong giai đoạn này, người viết cần tiến hành các thao tác:
a) Chọn đề tài hay xem xét, phân tích đề văn cho sẵn để xác định một cách cụ thể chủ đề có liên quan.
Chẳng hạn, với đề tài Nạn phá rừng, người viết có thể từng bước thu hẹp đề tài và xác định chủ đề như sau:
- Nạn phá rừng
( Nạn phá rừng ở Việt Nam.
( Nạn phá rừng ở miền Trung và Tây Nguyên Việt Nam
( Tác hại của nạn phá rừng ở miền Trung và Tây Nguyên Việt Nam
b) Xác định loại hình văn bản.
Ở bước này, người viết phải xác định rõ văn bản sẽ viết thuộc loại gì, phong cách nào. Trình bày hay nghị
luận (biện luận)? Chẳng hạn với đề tài vừa nêu, ta có thể viết thành một bài văn trình bày.
c) Xác định hướng sưu tập tư liệu và giới hạn của phạm vi tư liệu.
Tư liệu có thể sưu tập theo nhiều nguồn: báo chí, sách v
ở, các phương tiện phát thanh, truyền hình hay thực tế
mà người viết chứng kiến, trải nghiệm.
2.2- Lập chương trình biểu đạt.
Ở giai đoạn này, người viết cần thực hiện các thao tác:
a
)
Ðộn
g
n
ã
o để triển khai chủ đề to
à
n thể từn
g
bư
ớ
c th
à
nh c
á
c chủ
đề bộ
p
hận.
III. QUY T
R
ÌNH T
Ạ
O L
Ậ
P VĂN BẢN
TOP
htt
p
://tieulun.ho
p
to.or
g
Chẳng hạn, với chủ đề và đề tài vừa xác định trên, ta có thể triển khai thành các mặt:
- Nguyên nhân của nạn phá rừng.
+ Tình trạng di dân tự do.
+ Mở rộng diện tích canh tác.
+ Khai thác củi, gỗ.
- Biểu hiện của nạn phá rừng.
+ Ðốt rừng
+ Ðốn chặt cây cối.
- Quy mô, địa điểm diễn ra nạn phá rừng.
+ Ở Tây Nguyên: bao nhiêu héc ta, thời điểm nào?
+ Ở miền Trung: bao nhiên héc ta, thời điểm nào?
- Tác hại của nạn phá rừng.
+ Nạn hạn hán, thiếu nước ở vùng hạ lưu sống ngòi vào mùa khô.
+ Nạn lũ lụt vào mùa mưa.
- Hướng ngăn chặn phá rừng:
+ Biện pháp giáo dục.
+ Biện pháp luật pháp
v.v
b) Chọn lựa, sắp xếp các chủ đề bộ phận và tư liệu có liên quan thành đề cương cụ thể.
Ở giai đoạn này cần lưu ý mấy điểm:
- Phải chọn lựa và sắp xếp các chủ đề bộ phận và tư liệu có liên quan theo một trật tự thích hợp.
- Các số mục và đề mục phải đảm bảo tính hệ thống và tính nhất
quán. Tránh hiện tượng trùng lắp, chồng
chéo giữa các chủ đề.
2.3- Tạo văn bản.
Ở giai đoạn này, người viết vận dụng tri thức về văn bản và đoạn văn để lần lượt diễn đạt hệ thống các đề mục
thành các phần, các đoạn văn cụ thể. Trong quá trình tạo văn bản cần lưu ý đến cách viết các phần, các đoạn:
a) Viết phần mở đầu:
Dẫn nhập bằng vài ba câu rồi nêu chủ đề của văn bản một cách rõ ràng xác định.
b) Viết các đoạn văn trong phần khai triển.
- C
â
u chủ đo
ạ
n của c
á
c đo
ạ
n v
ă
n
p
h
ả
i n
g
ắ
n
g
ọn, súc tích. Khi nêu xon
g
chủ đề của đo
ạ
n,
p
h
ả
i n
g
ắ
t c
â
u
htt
p
://tieulun.ho
p
to.or
g
(bằng dấu chấm).
- Các câu thuyết đoạn có thể được viết bằng câu đơn hay câu ghép, và nội dung triển khai phải bám sát chủ
đề đã nêu.
- Câu kết đoạn của các đoạn văn phải dựa trên cơ sở sự việc, chi tiết số liệu đã nêu. Cần tránh lối khái quát
gò ép, máy móc, khiên cưỡng.
c) Viết phần kết luận.
Phần kết luận không cần viết dài (đoạn văn gồm vài ba câu), trong đó nhất thiết phải có câu kết đề đúc kết,
khái quát lại chủ đề của cả bài. Các câu còn lại có thể gợi mở, liên hệ sang vấn đề khác có liên quan.
2.4- Kiểm tra, sửa chữa văn bản.
Ở giai đoạn này, người viết vừa đọc lại, vừa suy ngẫm xem xét, xác định lỗi sai và sửa chữa. Cụ thể là phát
hiện và sửa chữa các loại lỗi như:
Lỗi chính tả (xem chương bốn), lỗi từ ngữ (xem chương ba), lỗi ngữ pháp (xem chương hai) và lỗi liên kết văn
bản. Chương này chỉ tập trung
trình bày lỗi liên kết văn bản.
Tính liên kết của văn bản nói chung và trong đoạn văn nói riêng thể hiện ở hai bình diện : liên kết nội dung và liên
kết hình thức. Liên kết nội dung bao gồm hai nhân tố : liên kết chủ đề và liên kết lô-gích. Dựa trên cơ sở đó, có thể
quy các hiện tượng vi phạm tính liên kết thành ba loại lỗi : lỗi liên kết chủ đề, lỗi liên kết lô-gích và lỗi liên kết hình
thức.
1. Lỗi liên kết chủ đề.
Xem xét các đoạn văn sau đây :
(a) Ðọc tác phẩm Tắt đèn, chúng ta thấy : người nông dân
Việt Nam dưới chế độ thực dân phong kiến đã
bị áp bức, hành hạ
hết sức tàn tệ. Gia đình chị Dậu không một ai là không bị hành hung. Anh Dậu đang ốm
liệt giường liệt chiếu cũng bị trói bị đánh đập dã man. Cái Tí bé bỏng cũng bị roi đòn. Tên lí trưởng còn
bắt
dân nộp lễ vật khi đến xin con dấu vào đơn (BVHS).
(b) Bên cạnh chị Út, còn có biết bao người phụ nữ Việt Nam
anh hùng khác. Ðó là chị Sứ, người con gái
xứ Hòn bất khuất.
Chị đã tô thêm vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam với
phẩm chất anh hùng, bất khuất
trung hậu đảm đang. Ngày xưa,
nhà thơ Xuân Diệu (?) đã từng mơ ước : Ví đây đổi phận làm trai được.
Nhưng bây giờ chị Út không những thừa kế được sự bất khuất của người xưa mà còn được sự giúp đỡ của
thời đại. Chị vượt hơn người xưa về mọi mặt. Chị không cần như Xuân Diệu mơ ước đổi phận làm trai mới
nên sự nghiệp mà chị cứ làm đàn bà, người mẹ sáu con, nhưng sự nghiệp anh hùng của chị chẳng phải
chàng trai nào cũng sánh kịp. (BVHS).
(c) Bác Lê là một nông dân nghèo, đói khổ và nhiều bất hạnh. Khi gia đình lâm vào cảnh đoúi rét, bác Lê
một mình đi kiếm cách cứu nguy cho gia đình. Bằng cách bác đến vay tiền nhà ông phú hộ, nhưng bị từ
chối. Hơn thế nữa, bác Lê còn bị cậu Phúc con ông phú hộ thả chó ra cắn. Thật là ác tâm, cũng là người
với
nhau nhưng sao lại đối xử như vậy ? phải chăng lương tâm của họ là gỗ đá. Lẽ ra cậu Phúc phải giúp đỡ
người hoạn nạn, đói khổ mà trái lại còn thả chó ra cắn quả là ác tâm và đáng thương xót cho bác Lê đói kh
ổ
nhưng còn gặp điều không may
(BVHS).
(d) Quang Dũng là nhà văn, nhà thơ ở thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Thơ ông chủ yếu ca ngợi, nêu
cao tinh thần người chiến sĩ trong giai đoạn này. Quang Dũng là con gia đình nhà nho nghèo lớn lên ông
theo đoàn lính Tây Tiến. Họ là những
người bảo vệ biên giới lào, Việt. Sống trong rừng sâu núi thẩm, ăn
mặc thiếu thốn nhưng họ vẫn kiên cường bất khuất. Khi chuyển đi
nơi khác công tác quang dũng nhớ lại
nhữn
g
hình
ả
nh của n
g
ư
ờ
i lính T
â
y
tiến nên đã s
á
n
g
t
á
c b
à
i thơ nhớ T
â
y
Tiếnsau n
à
y
khi
p
hát hành, ôn
g
bỏ
IV. LỖI LIÊN KẾT VĂN BẢN VÀ CÁCH S
Ử
A CH
Ữ
A
TOP
htt
p
://tieulun.ho
p
to.or
g
bớt từ nhớcó thể cho là thừa (BVHS).
(e) Phần lớn các nhân vật lãng mạng của Khái Hưng và Nhất
Linh đều được phóng đại và lý tưởng hóa.
Dũng là một
khách tình si. Tuyết là một gái giang hồ, Quang Ngọc, Phạm Thái,
Nhị Nương là một bọn
thanh niên quý tộc suy tàn đã được thi
vị hóa, lãng mạn hóa. Thậm chí bọn địa chủ tây học cũng được Khái
Hưng và Hoàng Ðạo xây dựng thành những mẫu người lý tưởng (Hạc, Bảo trong Gia đình, Duy, Thơ trong
Con đường sáng). Nguyễn Tuân cũng lý tưởng hóa, thi vị hóa những người giang hồ lãng tử sống cuộc đời
sóng gió (Nguyễn, Vi Bạch) và đối lập họ với những kẻ chỉ biết chôn chân ở mảnh đất quê hương (Dung,
Lâm Hồ).(P.C.Ð - TTVNHÐ, T.I).
Trong đoạn văn (a), câu thứ nhất nêu lên một nhận định mang tính chất khái quát, trong đó, đối tượng nhận định
chính là người nông dân
Việt Nam dưới chế độ thực dân phong kiến, nội dung nhận định là đã bị áp bức, hành hạ hết
s
ức tàn tệ. Câu thứ hai liên hệ đến một đối tượng
khác : Gia đình chị Dậu. Ðối tượng mới này có quan hệ chặt chẽ
với đối tượng cũ, được nêu trong câu thứ nhất ; đó là mối quan hệ cái chung - cái riêng. Cũng theo chiều hướng ấy,
câu thứ ba liên hệ đến Anh Dậu, câu thứ tư liên hệ đến Cái Tí bé bỏng. Ðó là các thành viên trong Gia đình chị Dậu.
N
hư vậy, câu thứ nhất, thứ hai, thứ ba và thứ tư liên kết chặt chẽ với nhau về chủ đề (và lô-gích). Nhưng câu thứ năm
lại đề cập đến Tên lí trưởng, một đối tượng không có quan hệ chặt chẽ với các đối tượng cũ, đã được nêu ra : người
nông dân Việt
Nam dưới chế độ thực dân phong kiến, Gia đình chị Dậu, Anh Dậu, Cái Tí bé bỏng.
Trong đoạn văn (b), câu thứ nhất vừa nhắc lại đối tượng đã được bàn luận trong phần văn bản trước : chị Uït Tịch,
vừa giới thiệu một đối tượng mới, mang tính chất khái quát : biết bao người phụ nữ Việt Nam
anh hùng khác. Trên
cơ sở đối tượng mang tính chất khái quát
chung này, câu thứ hai liên hệ đến một đối tượng cụ thể : chị Sứï. Câu thức
ba tiếp tục bàn về chị. Câu thứ tư lại liên hệ đến một đối tượng khác nữa : nhà thơ Xuân Diệu(Ở đây, học sinh đã nhớ
sai. Tác giả của hai câu thơ đã được dẫn ra là Hồ Xuân Hương, chớ không phải là Xuân Diệu). Các câu tiếp theo
trong đoạn quay trở lại bàn luận về chị
Uït”.
Trong đoạn văn (c), bốn câu đầu tập trung bàn luận về bác Lê, một nhân vật trong truyện ngắn Nhà mẹ Lê của
Thạch Lam. Bốn câu này liên kết chặt chẽ với nhau về chủ đề, mặc dù có vài sai sót về từ ngữ và ngữ pháp. Nhưng
ba câu tiếp theo lại chuyển sang bàn luận về một đối tượng khác : ông phú hộ(thật ra là ông Bá) và cậu Phúc. Mặc dù
câu cuối có liên hệ trở lại với đối tượng cũ, nhưng nhìn chung, đối tượng chính được bàn luận trong ba câu này vẫn là
ông phú hộ và cậu
Phúc. (Ngoài ra, câu cuối cùng trong đoạn còn sai ngữ pháp : rối
cấu trúc và chập cấu trúc.)
Trong đoạn (d), ba câu đầu đề cập đến nhà thơ Quang Dũng.
Nhưng câu thứ tư và thứ năm lại chuyển sang bàn luận
về những người
lính Tây Tiến. Câu cuối quay trở lại trình bày về Quang Dũng. (Bên
cạnh đó, đoạn văn này còn mắc
nhiều lỗi sai khác).
Trong đoạn (e), câu thứ nhất nêu lên một nhận định khái quát về
các nhân vật lãng mạn của Khái Hưng và Nhất
L
inh, đối tượng bàn luận
chính của đoạn. Câu thứ hai, thứ ba đề cập đến những nhân vật cụ thể của Khái Hưng và
N
hất Linh : Dũng, Tuyết, Quang Ngọc, Phạm Thái,
Nhị Nương. Như vậy, mối quan hệ giữa các đối tượng bàn luận
được đề
cập đến trong câu thứ nhất, thứ hai và thứ ba là chặt chẽ, mạch lạc. Nhưng sang câu thứ tư, người viết lại đề
cập đến bọn địa chủ tây học- các nhân vật của Khái Hưng và Hoàng Ðạo. Và ở câu cuối, người viết còn liên hệ đến
N
guyễn Tuân cùng với các nhân vật của ông.
Hiện tượng chệch choạc, tản mạn, thiên thẹo, thiếu mạch lạc về đối tượng trần thuật, bàn luận trong các đoạn văn
vừa dẫn và phân tích chính là những biểu hiện cụ thể của lỗi liên kết chủ đề trong đoạn văn.
Như vậy, lỗi liên kết chủ đề trong đoạn văn là loại lỗi liên kết thể hiện qua
hiện tượng phân tán tản mạn, chệch
choạc, thiên thẹo, thiếu tập trung về mặt đối tượng được đề cập đến giữa các câu trong đoạn văn.
Lỗi liên kết chủ đề xuất hiện rải rác trong khá nhiều bài viết của học sinh THPT mà chúng tôi đã khảo sát. Trong bài
viết của học sinh THCS, loại lỗi này xuất hiện phổ biến hơn. Bài viết của sinh viên đại học vẫn mắc phải loại lỗi này.
Có hai nguyên nhân chính dẫn đến sai liên kết chủ đề. Nguyên nhân thứ nhất, mang tính chất gián tiếp, là ở giai đoạn
lập chương trình biểu đạt, tức lập dàn bài, học sinh đã không triển khai được vấn đề mà đề bài nêu ra thành các luận
điểm, luận cứ một cách rạch ròi, cụ thể và có hệ thống. Do đó, trong quá trình tạo văn bản, học sinh viết lan man,
không xác định và hạn định được đối tượng bàn luận, trần thuật trong từng đoạn, từng phần. Nguyên nhân thứ hai,
nguyên nhân trực tiếp, là do học sinh không nắm vững kiến thức Ngữ pháp văn bản, cụ thể là các cách thức tổ chức,
liên
k
ết chủ đề tron
g
đo
ạ
n v
ă
n,
d
ẫ
n đến tình t
r
ạ
n
g
n
g
h
ĩ
sao viết v
ậ
y
, viết c
â
u sau
q
uên c
â
u t
r
ư
ớ
c, khôn
g
bao
q
u
á
t
htt
p
://tieulun.ho
p
to.or
g
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét