Thứ Sáu, 24 tháng 1, 2014

Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần xi măng Sông Đà

Luận văn tốt nghiệp GVHD. PGS.TS. Nguyễn Minh Phương
loại như sau:
 Chi phí về nguyên vật liệu trực tiếp: Bao gồm toàn bộ chi phí về
nguyên vật liệu chính, phụ, nhiên liệu… tham gia trực tiếp vào việc sản
xuất sản phẩm dịch vụ.
 Chi phí về nhân công trực tiếp: Bao gồm toàn bộ các tiền lương chính,
lương phụ, các khoản trích theo lương như BHXH, BHYT, KPCĐ.
 Chi phí về sản xuất chung: Đây là những chi phí phát sinh trong phân
xưởng sản xuất ( trừ các chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân
công ở trên). Gồm có:
 Chi phí nhân viên phân xưởng.
 Chi phí vật liệu.
 Chi phí công cụ, dụng cụ.
 Chi phí dịch vụ mua ngoài.
 Chi phí khác bằng tiền.
Ưu điểm của phương pháp này là việc làm cơ sở cho việc tổ chức hệ
thống sổ sách, tài khoản kế toán sử dụng cho việc tập hợp phân bổ chi phí
phục vụ công tác tính giá thành. Và đây còn là nguồn cung cấp thông tin cho
các nhà quản trị trong việc quản lý chi phí theo định mức, phân tích tình hình
tài chính thực hiện kế hoạch hạ giá thành và các biện pháp điều chỉnh giá
thành kế hoạch cho hợp lý.
• Phân loại chi phí theo yếu tố chi phí.
Theo như cách phân loại này thì toàn bộ chi phí được chia làm 7 loại sau:
Yếu tố chi phí nguyên liệu, vật liệu: Bao gồm toàn bộ giá trị nguyên vật
liệu chính, phụ, phụ tùng thay thế, công cụ, dụng cụ… sử dụng vào sản xuất kinh
doanh ( loại trừ giá trị vật liệu dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi).
Yếu tố chi phí tiền lương, phụ cấp lương và các khoản trích theo lương:
Bao gồm tổng số tiền lương và phụ cấp lương mang tính chất lương, các
khoản BHXH, BHYT, KPCĐ trích theo quy định phải trả cho công nhân viên.
Bùi Thị Phương Thảo Lớp Kế toán 46A
5
Luận văn tốt nghiệp GVHD. PGS.TS. Nguyễn Minh Phương
Yếu tố khấu hao TSCĐ: Bao gồm tổng số khấu hao tài sản cố định phải
trích trong kỳ của tất cả TSCĐ sử dụng cho sản xuất kinh doanh trong kỳ.
Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài: Bao gồm toàn bộ chi phí dịch vụ
mua ngoài dùng vào sản xuất kinh doanh.
Yếu tố chi phí bằng tiền khác: Bao gồm toàn bộ chi phí khác bằng tiền
chưa phản ánh ở các yếu tố trên dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh
trong kỳ.
Ưu điểm của phương pháp này là phục vụ cho việc tập hợp, quản lý chi
phí theo nội dung kinh tế ban đầu đồng nhất. Nó giúp Doanh nghiệp xây dựng
và phân tích định mức chi phí, vốn lưu động, tạo điều kiện cho các nhà quản
lý lập, kiểm tra, phân tích và dự toán chi phí một cách dễ dàng.
• Phân loại theo cách ứng xử của chi phí.
Theo cách phân loại này thì chi phí được phân loại như sau:
Biến phí: Là những khoản mục phí mà quy mô của chi phí thay đổi tỉ
lệ thuận với biến động về mức độ hoạt động.
Định phí: Là những chi phí không biến đổi khi mức độ hoạt động thay
đổi. Nó chỉ giữ nguyên trong phạm vi phù hợp của Doanh nghiệp.
Chi phí hỗn hợp: Là loại chi phí bao gồm cả yếu tố biến phí lẫn định
phí. Ở mức độ hoạt động cơ bản chi phí hỗn hợp thể hiện các đặc điểm của
định phí, quá mức nó lại thể hiện đặc tính của biến phí.
Ưu điểm của cách phân loại này là cung cấp thông tin phục vụ cho việc
lập kế hoạch kiểm tra và chủ động điều tiết chi phí cho phù hợp. Qua đây, nhà
quản trị sẽ thấy được sự biến động của chi phí có phù hợp với sự biến động
của mức độ hoạt động hay không?
1.1.2.Khái niệm giá thành sản phẩm sản xuất.
1.1.2.1. Khái niệm, bản chất và nội dung kinh tế phát sinh.
Toàn bộ những khoản chi phí phát sinh trong kỳ, kỳ trước chuyển sang
Bùi Thị Phương Thảo Lớp Kế toán 46A
6
Luận văn tốt nghiệp GVHD. PGS.TS. Nguyễn Minh Phương
và các chi phí trích trước có liên quan đến khối lượng sản phẩm, lao vụ, dịch
vụ đã hoàn thành trong kỳ sẽ tạo nên chỉ tiêu giá thành sản phẩm. Bản chất
của giá thành là sự chuyển dịch giá trị của các yếu tố chi phí vào những sản
phẩm được sản xuất và tiêu thụ.
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao
phí về lao động sống và lao động vật hoá mà Doanh nghiệp bỏ ra có liên quan
đến khối lượng sản phẩm lao vụ, dịch vụ hoàn thành trong kỳ.
Giá thành là tấm gương phản chiếu chất lượng của hoạt động sản xuất,
phản ánh kết quả của việc sử dụng các yếu tố đầu vào như vật tư, tiền vốn,
sức lao động vào trong quá trình sản xuất sản phẩm.
1.1.2.2. Phân loại giá thành sản phẩm.
Giá thành là một chỉ tiêu quan trọng đối với công tác quản lý, nó là chỉ
tiêu cơ bản để xác định giá bán sản phẩm của Doanh nghiệp. Giá thành cần
xem xét ở nhiều góc độ khác nhau làm cơ sở để phản ánh kết quả sản xuất
kinh doanh của Doanh nghiệp. Giá thành sản phẩm được phân loại như sau:
Phân loại giá thành theo thời điểm tính và nguồn số liệu:
 Giá thành kế hoạch: Giá thành kế hoạch được xác định trước khi
tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh được xây dựng trên cơ sở
giá thành thực tế kỳ trước và các định mức, các dự toán kỳ kế
hoạch.
 Giá thành định mức: Giá thành định mức cũng giống như giá thành
kế hoạch được xác định trước khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh
doanh.
 Giá thành thực tế: Giá thành thực tế là chỉ tiêu được xác định sau
khi kết thúc quá trình sản xuất sản phẩm trên cơ sở các chi phí phát
sinh trong quá trình sản xuất sản phẩm.
Với cách phân loại này đã giúp cho các nhà quản lý có thể giám sát chi
phí một cách chặt chẽ, xác định được nguyên nhân tăng, giảm định mức chi
Bùi Thị Phương Thảo Lớp Kế toán 46A
7
Luận văn tốt nghiệp GVHD. PGS.TS. Nguyễn Minh Phương
phí trong kỳ hạch toán, để từ đó có những dự toán chính xác hơn về định mức
chi phí cho kỳ sản xuất tiếp theo.
Phân loại theo phạm vi phát sinh chi phí
 Giá thành sản xuất: Là chỉ tiêu phản ánh tất cả những chi phí phát
sinh liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm trong phạm vi
phân xưởng, bộ phận sản xuất, bao gồm chi phí nguyên vật liệu trực
tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung.
 Giá thành toàn bộ: Là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ các khoản chi phí
phát sinh liên quan đến sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Giá thành
toàn bộ bao gồm cả chi phí sản xuất, chi phí bán hàng và chi phí
quản lý phân bổ cho số sản phẩm được tiêu thụ.
Với giá thành toàn bộ, để có thể tính được chính xác cần phải xây dựng
tiêu thức phân bổ chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp một cách
hợp lý.
Mục đích của cách phân loại này là tính được giá thành sản xuất làm
căn cứ ghi sổ thành phẩm nhập kho hoặc tiêu thụ, căn cứ cho việc tính giá vốn
và lãi gộp của Doanh nghiệp.
Giá thành toàn bộ là cơ sở cho việc tính toán kết quả kinh doanh của
từng mặt hàng từng loại dịch vụ kinh doanh.
Dưới đây ta sẽ xem xét mối liên hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành
sản phẩm, chúng có mối liên hệ với nhau như thế nào và mối liên hệ này nói
lên điều gì?
1.1.3. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có một mối liên hệ chặt chẽ với
nhau. Khi nói đến chi phí sản xuất thì người ta thường đề cập đến những yếu
tố chi phí đầu vào cho quá trình sản xuất, phản ánh những mặt hao phí sản
xuất. Còn khi nói đến giá thành sản xuất là người ta thường đề cập mặt chi phí
Bùi Thị Phương Thảo Lớp Kế toán 46A
8
Luận văn tốt nghiệp GVHD. PGS.TS. Nguyễn Minh Phương
đầu ra của quá trình sản xuất.
Sự giống nhau giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm:
Cả hai đều bao gồm những yếu tố chi phí đầu vào mà Doanh nghiệp
sản xuất đã bỏ ra phục vụ sản xuất, tức là đều là sự hao phí về lao động sống
và lao động vật hoá được thể hiện bằng tiền.
Khi tính được chi phí sản xuất trong kỳ sẽ tính được giá thành sản phẩm.
Điểm khác nhau giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm:
Chi phí sản xuất Giá thành sản phẩm
Bao gồm toàn bộ các chi phí trong kỳ
kinh doanh, luôn gắn với một thời kỳ
phát sinh chi phí nhất định (tháng,
quý, năm). Tức là chi phí sản xuất
kinh doanh bao gồm sản phẩm hoàn
thành, sản phẩm dở dang cuối kỳ và
sản phẩm hỏng.
Giá thành sản phẩm chỉ bao gồm
những chi phí có liên quan tới khối
lượng sản phẩm hoàn thành trong kỳ
và nó không liên quan đến sản phẩm
dở dang cuối kỳ và sản phẩm hỏng
nhưng nó có liên quan đến chi phí sản
xuất dở dang cuối kỳ trước chuyển
sang.
Công thức tính giá thành sản phẩm hoàn thành.
Tổng giá
thành sản
xuất sản
phẩm
=
Chi phí sản
xuất dở dang
đầu kỳ
+
Chi phí sản
xuất phát
sinh trong kỳ
(đã trừ các
khoản thu
hồi ghi giảm
chi phí
-
Chi phí
sản xuất
dở dang
cuối kỳ
Giá thành
sản xuất
đơn vị sản
phẩm
=
Tổng giá thành sản xuất
Số lượng sản phẩm hoàn thành
Bùi Thị Phương Thảo Lớp Kế toán 46A
9
Luận văn tốt nghiệp GVHD. PGS.TS. Nguyễn Minh Phương
Sau khi tìm hiểu về khái niệm và mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm ta sẽ tiếp tục tìm hiểu về nội dung hạch toán chi phí
sản xuất như thế nào?
1.2. Hạch toán chi phí sản xuất.
1.2.1. Đối tượng và phương pháp hạch toán chi phí sản xuất.
1.2.1.1. Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất.
Việc xác định đối tượng hạch toán chi phí sản xuất là việc làm đầu tiên
trong công tác tổ chức phần hành kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm. Xác định đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm thực chất là xác định nơi phát sinh chi phí và nơi chịu chi phí.
Để xác định chính xác đối tượng hạch toán chi phí sản xuất các nhà
quản trị cần dựa vào đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất, loại hình sản
xuất, yêu cầu và trình độ quản lý, tổ chức sản xuất kinh doanh. Chi phí sản
xuất kinh doanh cần được tập hợp theo phạm vi và giới hạn nhất định.
Sau khi đã xác định được đối tượng hạch toán chi phí thì công việc tiếp
theo là xác định phương pháp hạch toán chi phí.
1.2.1.2. Phương pháp hạch toán chi phí.
Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất là phương pháp hay hệ thống
các phương pháp được sử dụng để tập hợp và phân loại chi phí sản xuất trong
phạm vi giới hạn của đối tượng hạch toán chi phí sản xuất.
Khi vận dụng các phương pháp hạch toán chi phí sản xuất trong công
tác kế toán hàng ngày chính là việc kế toán mở các sổ chi tiết hạch toán chi
phí sản xuất theo từng đối tượng đã xác định, phản ánh các chi phí phát sinh
có liên quan đến đối tượng tập hợp chi phí theo từng đối tượng.
Mỗi một phương pháp hạch toán chỉ thích hợp với một loại đối tượng
hạch toán chi phí. Dưới đây là các phương pháp cơ bản tập hợp chi phí:
 Phương pháp tập hợp trực tiếp.
Mục đích của phương pháp này là tập hợp các chi phí liên quan đến đối
Bùi Thị Phương Thảo Lớp Kế toán 46A
10
Luận văn tốt nghiệp GVHD. PGS.TS. Nguyễn Minh Phương
tượng tập hợp chi phí đã được xác định để phản ánh vào tài khoản và sổ chi
tiết. Phương pháp này yêu cầu công tác tổ chức hạch toán phải khoa học như
việc tổ chức chứng từ, tài khoản, sổ kế toán. Đây là phương pháp có độ chính
xác cao nên các Doanh nghiệp cần ưu tiên áp dụng phương pháp này.
 Phương pháp tập hợp và phân bổ gián tiếp.
Phương pháp này được sử dụng khi kế toán không thể tổ chức ghi chép
riêng ban đầu cho từng đối tượng tức là chi phí phát sinh liên quan đến nhiều
đối tượng chịu chi phí.
Các chi phí này khi phát sinh được phản ánh trên các chứng từ ban đầu
sau đó được tập hợp theo địa điểm phát sinh hoặc nội dung chi phí.
Để áp dụng hiệu quả phương pháp này thì ta phải lựa chọn tiêu thức
phù hợp để phân bổ.
Hệ số phân bổ
=
Tổng chi phí cần phân bổ
Tổng tiêu thức phân bổ
Mức chi phí phân bổ
cho đối tượng = Hệ số phân bổ *
Tiêu thức phân bổ của
đối tượng i
1.2.2. Nội dung hạch toán chi phí.
1.2.2.1. Hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp bao gồm giá trị nguyên vật liệu chính,
vật liệu phụ, nhiên liệu…sử dụng trực tiếp cho sản xuất, chế tạo sản phẩm.
1.2.2.1.1. Hạch toán theo phương pháp kê khai thường xuyên.
Phương pháp kê khai thường xuyên là phương pháp theo dõi phản ánh
thường xuyên liên tục có hệ thống tình hình nhập, xuất, tồn kho của vật tư
hàng hoá trên sổ kế toán.
Theo phương pháp này trên các tài khoản hàng tồn kho được dùng để
theo dõi số hiện có và tình hình biến động tăng, giảm của vật tư, hàng hoá.
Bùi Thị Phương Thảo Lớp Kế toán 46A
11
Luận văn tốt nghiệp GVHD. PGS.TS. Nguyễn Minh Phương
Phương pháp kê khai thường xuyên được áp dụng cho đơn vị sản xuất,
công nghiệp xây dựng cơ bản và các đơn vị thương mại kinh doanh những
mặt hàng có giá trị lớn.
Tài khoản sử dụng
Để tập hợp các khoản chi phí nguyên vật liệu trực tiếp kế toán sử dụng
tài khoản TK 621 – Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp. Tài khoản này được mở
rộng cho từng đối tượng tập hợp chi phí ( phân xưởng, bộ phận sản xuất, sản
phẩm…)
Tài khoản này cuối kỳ không có số dư.
Kết cấu và nội dung phản ánh của TK 621 – Chi phí nguyên vật liệu
trực tiếp:
Bên Nợ:
Trị giá thực tế nguyên vật liệu xuất dùng trực tiếp cho hoạt động sản
xuất sản phẩm, hoặc thực hiện dịch vụ trong kỳ.
Bên Có:
• Kết chuyển trị giá nguyên liệu, vật liệu thực tế sử dụng cho sản xuất,
kinh doanh trong kỳ vào TK 154 “ Chi phí sản xuất, kinh doanh dở
dang”.
• Giá trị nguyên vật liệu trực tiếp sử dụng không hết nhập lại kho.
• Kết chuyển Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp vượt trên mức bình
thường vào TK 632.
Tài khoản này không có số dư cuối kỳ.
Trình tự hạch toán:
Bùi Thị Phương Thảo Lớp Kế toán 46A
12
Luận văn tốt nghiệp GVHD. PGS.TS. Nguyễn Minh Phương
Sơ đồ 1: Hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (KKTX).

- Khi xuất kho nguyên vật liệu sử dụng cho hoạt động sản xuất sản
phẩm ghi:
Nợ TK 621: Chi tiết theo từng phân xưởng.
Có TK 152: Giá thực tế vật liệu xuất dùng theo từng loại.
- Nguyên vật liệu mua về sử dụng luôn cho sản xuất không nhập vào
kho.
Nợ TK 621: Chi tiết theo từng phân xưởng
Nợ TK 133: Thuế giá trị gia tăng được khấu trừ ( nếu có)
Có TK 331, 111, 112: Vật liệu mua ngoài.
Có TK 411: Nhận cấp phát liên doanh.
Có TK 154: Vật liệu tự sản xuất hoặc thuê ngoài gia công.
Bùi Thị Phương Thảo Lớp Kế toán 46A
13
Giá trị nguyên vật liệu dùng
trực tiếp cho sản xuất.
TK 151,152
TK 621 TK 154
TK 111, 331
Kết chuyển chi phí nguyên
vật liệu trực tiếp.
Giá trị vật liệu dùng trực tiếp
cho sản xuất sản phẩm
TK 133

TK 152
Nhập kho nguyên vật liệu
dùng không hết.
Luận văn tốt nghiệp GVHD. PGS.TS. Nguyễn Minh Phương
- Giá trị vật liệu xuất dùng không hết.
Nợ TK 152: Chi tiết theo từng loại vật tư
Có TK 621: Chi tiết theo từng đối tượng
- Cuối kỳ kết chuyển Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp theo từng đối
tượng để tính giá thành.
Nợ TK 154: Chi tiết theo từng loại vật tư.
Có TK 621: Chi tiết theo từng đối tượng.
1.2.2.1.2. Phương pháp kiểm kê định kỳ.
Phương pháp kiểm kê định kỳ là phương pháp căn cứ vào kết quả kiểm
kê thực tế để xác định trị giá vật tư, hàng hoá tồn cuối kỳ trên sổ kế toán tổng
hợp, từ đó xác định trị giá xuất trong kỳ theo công thức:
Trị giá hàng xuất
trong kỳ
=
Trị giá hàng
tồn đầu kỳ
+
Trị giá hàng
nhập trong kỳ
-
Trị giá hàng
tồn cuối kỳ
Tài khoản sử dụng:
TK sử dụng là TK 611.
Kết cấu tài khoản.
Bên Nợ: Giá thực tế nguyên vật liệu, dụng cụ tồn đầu kỳ ( bao gồm cả
hàng đi đường).
Bên Có:
• Kết chuyển giá thực tế nguyên vật liệu, dụng cụ, hàng hoá tồn
cuối kỳ
• Chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại
• Giá thực tế nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ hàng hoá xuất trong
kỳ.
Tài khoản này không có số dư.
Bùi Thị Phương Thảo Lớp Kế toán 46A
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét