Thứ Tư, 22 tháng 1, 2014

Những giải pháp nhằm đẩy nhanh việc thực hiện các cam kết của Việt Nam trong khuôn khổ AFTA.doc

thực sự là những bài học quý báu cho việc hợp tác kinh tế giữa các nớc đang phát
triển. AFTA đã ra đời trên cơ sở đúc rút kinh nghiệm từ những kế hoạch hợp tác
kinh tế trớc AFTA. Hội nghị Thợng đỉnh ASEAN họp tại Singapore năm 1992 đã
quyết định thành lập một Khu mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA) theo sáng kiến
của Thái lan.
AFTA thực sự là một bớc ngoặt trong hợp tác kinh tế ASEAN, là kết quả tất
yếu của những chuyển động về hợp tác kinh tế ASEAN đợc tính kể từ năm 1976 -
năm tổ chức Hội nghị thợng đỉnh ASEAN lần thứ nhất tại Bali (Indonesia) và là b-
ớc đánh dấu sự chú trọng trở lại với các kế hoạch phát triển kinh tế mà các lĩnh
vực u tiên chủ yếu là sản xuất và cung ứng các hàng hoá cơ bản, phát triển các xí
nghiệp công nghiệp lớn, thực hiện các thoả thuận thơng mại u đãi và phát triển
các quan hệ kinh tế đối ngoại.
Nói tóm lại, AFTA ra đời là kết quả phức hợp giữa sự tác động của các nhân tố
bên trong và bên ngoài mà ta có thể xem xét khái quát nh sau:
Về nhân tố bên trong, có thể thấy rằng công nghiệp hoá trong 2 thập kỷ qua đã
làm tăng nhanh chóng quy mô buôn bán qua lại giữa các nền kinh tế ASEAN. Ng-
ời ta tính rằng vào đầu những năm 90, phần xuất khẩu nội bộ ASEAN trong tổng
kim ngạch xuất khẩu của nhóm nớc này đã đạt tới khoảng 20% (* số liệu thống
kê trên http://www.asean.com) và điều đó chứng tỏ khuynh hớng liên kết thơng
mại khu vực đã ngày càng trở nên mạnh mẽ. Các nền kinh tế ASEAN đã mang
đặc tính hớng ngoại dựa vào xuất khẩu và hơn bao giờ hết nhu cầu bức thiết trong
việc tìm kiếm và liên kết thị trờng, trớc hết là các thị trờng láng giềng kề cận lại
trở nên quan trọng nh vậy. Điều này càng đợc thúc đẩy nhanh hơn nhờ sự tác
động tích cực của tăng trởng kinh tế khu vực đối với các chiến lợc phi điều chỉnh
và các biện pháp tự do hoá thơng mại và theo đó, các nớc này dễ dàng đi đến
những mặc nhiên thừa nhận AFTA. Chính phủ của từng nớc ASEAN cũng đã thấy
rõ trở ngại của chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch trong chiến lợc phát triển, đã đi đến
nhất trí cởi bỏ nó bằng việc theo đuổi các chiến lợc tự do hoá theo hớng xuất
khẩu. Do đó, về thực chất, chính sự chuyển đổi trong chiến lợc phát triển và tình
hình kinh tế của các nớc ASEAN đã khiến cho đề xuất về một khu vực mậu dịch
tự do ASEAN mang tính khả thi.
Về các nhân tố bên ngoài, vào đầu những năm 90, môi trờng chính trị, kinh tế
quốc tế và khu vực đã có những thay đổi quan trọng do chiến tranh lạnh đã kết
thúc. ở kỷ nguyên hậu chiến tranh lạnh, vị trí của ASEAN trong chiến lợc khu
vực và quốc tế của các cờng quốc đã bị hạ thấp. Điều đó có nghĩa là Hoa Kỳ,
Trung Quốc, Nga sẽ giảm bớt cam kết an ninh và giúp đỡ về kinh tế cho ASEAN.
Trờng đại học kinh tế quốc dân
Chính sách mới của các cờng quốc và những biến đổi theo hớng tích cực trên bán
đảo Đông Dơng đa lại cho ASEAN những cơ hội và thách thức mới. ở thời kỳ hậu
chiến tranh lạnh, kinh tế các nớc ASEAN đứng trớc những thách thức lớn khiến
cho các nớc ASEAN không dễ vợt qua nếu không có sự cố gắng chung của toàn
Hiệp hội. Đó là sự xuất hiện những tổ chức hợp tác khu vực nh EU, NAFTA có
nguy cơ trở thành các khối thơng mại khép kín, sẽ làm cho hàng hoá ASEAN vấp
phải những trở ngại hơn nữa khi thâm nhập vào các thị trờng trên.
Mặc dù trong gần một thập niên qua, kinh tế ASEAN đã tăng trởng với nhịp độ
cao nhng nền kinh tế các nớc này vẫn phụ thuộc nặng nề vào nguồn vốn từ bên
ngoài. Vị thế và triển vọng tăng trởng của các nền kinh tế này sẽ không đợc củng
cố và thúc đẩy nếu nh toàn hiệp hội không tạo dựng đợc sự nỗ lực chung. Đây là
nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với sự cấp thiết thành lập khu vực mậu dịch tự
do ASEAN. Trong đó, việc liên kết thị trờng khu vực nh một trung tâm sản xuất
và thơng mại quốc tế là điều kiện căn bản để cải thiện thế thơng lợng cạnh tranh
của ASEAN trong việc thu hút vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài - một nhân tố đợc coi
là động lực tăng trởng và tạo ra sự năng động của châu á trong những năm gần
đây.
Việc thành lập AFTA sẽ mở ra một thị trờng tự do rộng lớn và dồi dào tiềm
năng ở khu vực Đông Nam á. Tham gia AFTA, các nớc ASEAN sẽ liên kết với
nhau để phát triển kinh tế chặt chẽ hơn và rút ngắn khoảng cách về sự phát triển
giữa các quốc gia thành viên, nâng cao vai trò của ASEAN trong khu vực và trên
thế giới.
Chúng ta hoàn toàn có cơ sở để khẳng định ASEAN sẽ thành công trong việc
tạo lập AFTA. Thứ nhất, từ giữa những năm 80, các thành viên ASEAN đã lần lợt
thực hiện phi tập trung hoá và tự do hoá nền kinh tế của mình, đã cải thiện đáng
kể (mặc dù cha đồng bộ) về môi trờng đầu t và thơng mại và trên cơ sở này,
AFTA sẽ đặt từng quốc gia thành viên ASEAN trớc những nhu cầu bức thiết phải
tiến hành cải cách nền kinh tế quốc gia nhằm thích ứng với các yêu cầu chung của
khu vực. AFTA sẽ góp phần đáng kể vào việc cải thiện hiệu quả sản xuất cho mọi
quốc gia thành viên với chi phí ít hơn, hay nói đúng hơn, AFTA sẽ hỗ trợ cho các
nền kinh tế này trở thành các nền kinh tế có hiệu suất thông qua sự phối hợp chặt
chẽ giữa điều chỉnh cơ cấu kinh tế khu vực với cơ cấu kinh tế nội địa của từng n-
ớc. Thứ hai, tạo ra AFTA, về thực chất, ASEAN sẽ thực hiện một cam kết chính
trị đầy đủ, nghĩa là các Chính phủ ASEAN không chỉ thể hiện những nỗ lực của
mình ở trong nớc mà thông qua AFTA, họ còn muốn có sự điều hoà, giải quyết
các khó khăn riêng cho từng quốc gia thành viên. Thứ ba, các nớc ASEAN đã có
những bài học kinh nghiệm trong việc thực hiện Hiệp định thơng mại u đãi
Trờng đại học kinh tế quốc dân
ASEAN (PTA) không mấy thành công từ cuối những năm 70. Do vậy, có thể nói
rằng AFTA là thành tựu và là nấc thang mới trong chiến lợc hợp tác kinh tế
ASEAN hiện nay. AFTA giúp các nhà sản xuất giảm chi phí đầu vào khi các thị
trờng ASEAN mở cửa. Mặt khác, các nhà sản xuất hàng hoá sẽ đợc kích thích bởi
tiến trình tự do hoá nhập khẩu nhờ AFTA và đồng thời nhờ đó có thể đợc lợi do
nhận đợc chi phí về các sản phẩm trung gian cấu thành đầu vào giảm. Cũng tơng
tự nh vậy, đầu t trực tiếp nớc ngoài sẽ tăng lên do chỗ các nhà đầu t nớc ngoài
muốn đợc hởng các u đãi đặc biệt của AFTA.
2. Những mục tiêu cơ bản của AFTA:
2.1. Tăng c ờng trao đổi buôn bán trong nội bộ khối bằng việc loại
bỏ các hàng rào thuế quan và phi thuế quan giữa các n ớc ASEAN
Đây là mục tiêu quan trọng nhất của AFTA. Bởi lẽ các nớc thành viên ASEAN
đều có nền kinh tế hớng ngoại dựa vào xuất khẩu với tỉ trọng mậu dịch với các n-
ớc ngoài khối khoảng 77% trong đó Mỹ chiếm khoảng 20%, Nhật 14% và EU
15% trong khi đó tỉ trọng mậu dịch nội bộ khối chỉ chiếm khoảng 23% theo số
liệu thống kê trung bình từ năm 1993 là năm bắt đầu thực hiện Hiệp định CEPT
đến năm 1998. Thêm vào đó cơ cấu hàng hoá xuất nhập khẩu của các nớc
ASEAN tơng đối giống nhau vì các nền kinh tế ASEAN chủ yếu đều là các nền
kinh tế đang phát triển có các điều kiện và nhu cầu xuất nhập khẩu tơng đối giống
nhau. Vì vậy kim ngạch thơng mại chịu ảnh hởng trực tiếp của AFTA sẽ không
lớn. Về mặt này, AFTA sẽ không thể so đợc với các thoả thuận thơng mại khu vực
khác nh EU hay NAFTA trong đó có sự liên kết giữa các nền kinh tế rất phát triển
với những nền kinh tế kém phát triển hơn nh trờng hợp của Mỹ và Mexico. Tuy
nhiên mục tiêu này nhằm thúc đẩy sự hợp tác kinh tế trong nội bộ ASEAN. Thông
qua AFTA, tạo ra một thị trờng chung ASEAN mà trong đó các nớc thành viên đ-
ợc hởng u đãi hơn so với các nớc không thuộc Hiệp hội. Từng bớc, tiến tới xoá bỏ
về cơ bản thuế nhập khẩu hàng hoá thuộc các nớc thành viên ASEAN với nhau,
nhng vẫn giữ nguyên thuế nhập khẩu đối với hàng hoá của các nớc khác.
Nh vậy, với mục tiêu thúc đẩy buôn bán giữa các nớc trong khu vực thông qua
chế độ u đãi thuế quan, AFTA sẽ tăng sức cạnh tranh của hàng hoá ASEAN trên
thơng trờng thế giới.
2.2. Thu hút các nhà đầu t n ớc ngoài vào khu vực bằng việc đ a ra
một khối thị tr ờng thống nhất - xây dựng khu vực đầu t ASEAN
(AIA):
Trờng đại học kinh tế quốc dân
Mục tiêu của AFTA là biến các nớc ASEAN thành khu vực hợp tác kinh tế
thông qua việc thực hiện các chơng trình kinh tế mà quan trọng nhất là chơng
trình u đãi thuế quan (CEPT). Mục tiêu trung tâm này góp phần làm tăng cờng
năng lực kinh tế của các nớc thành viên ASEAN nhằm tạo ra sức mạnh để tự bảo
vệ mình và vơn lên trong sự cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn của nền kinh tế
Thế giới, tăng sức hấp dẫn của môi trờng đầu t nhằm thu hút vốn đầu t nớc ngoài.
Vào đầu thập kỷ 90, từ địa vị là địa bàn đầu t hấp dẫn các nớc ASEAN ở vào
thế bị cạnh tranh gay gắt với các nớc khác nh Trung Quốc, Nga, các nớc Đông
Âu, và cả Việt Nam. AFTA sẽ tạo ra một thị trờng thống nhất, cho phép việc khai
thác lợi thế kinh tế về qui mô và tạo nhiều điều kiện thuận lợi khác cho việc hấp
dẫn đầu t nớc ngoài. Khi đầu t nớc ngoài vào ASEAN tăng lên, do việc mở rộng
khai thác các lợi thế của AFTA, chắc chắn sẽ dẫn đến việc gia tăng trao đổi buôn
bán giữa các nớc ASEAN về các sản phẩm đầu vào của quá trình sản xuất. Tuy
vây, khối lợng buôn bán trao đổi về các sản phẩm đầu vào nh vậy chắc chắn sẽ
tăng nhng tỷ trọng so với tổng kim ngạch thơng mại của ASEAN sẽ không lớn vì
những lý do mang tính cơ cấu hàng hoá xuất nhập khẩu nh đã nêu trên, đặc biệt
trong giai đoạn đầu thực hiện AFTA khi quá trình chuyển dịch cơ cấu đầu t và sản
xuất quốc tế và khu vực xuất phát từ việc thành lập AFTA và sau này là việc hình
thành khu vực đầu t ASEAN (AIA).
Mục tiêu của AIA là xây dựng một khu vực đầu t ASEAN thông thoáng, rõ
ràng và hấp dẫn nhất nhằm đẩy mạnh đầu t vào ASEAN từ cả các nguồn trong và
ngoài Hiệp hội. Tinh thần của AIA là muốn các nớc thành viên "mở cửa ngay lập
tức" các ngành nghề và "dành ngay lập tức" chế độ đối xử quốc gia.
Đầu t trực tiếp vào các nớc ASEAN sẽ tăng vì kết quả trao đổi mậu dịch giữa
các quốc gia này sẽ tăng theo AFTA và do đó, sẽ kích thích các công ty Nhật,
Mỹ, EU và NIEs đầu t nhiều hơn để giữ thị trờng này thay vì trớc đây họ thờng
cung ứng từ các cơ sở sản xuất ngoài ASEAN. Đầu t trực tiếp nớc ngoài (FDI) vào
ASEAN sẽ tăng nhờ sự lớn mạnh của chính thị trờng khu vực ASEAN và theo đó,
sẽ ngày càng có nhiều dự án đầu t trực tiếp nhằm cung cấp sản phẩm cho các thị
trờng này. Tuy nhiên, để đạt đợc mục tiêu này, các thành viên ASEAN còn phải
nỗ lực cải thiện môi trờng đầu t và thông qua AFTA làm cho các môi trờng đầu t
của ASEAN trở nên hấp dẫn hơn so với các khu vực khác. Vấn đề đáng lu ý là
ASEAN cần phải đón bắt đợc các dòng đầu t quốc tế đang trong xu hớng chuyển
mạnh từ các khu vực Âu, Mỹ trở lại châu á. Dĩ nhiên, đầu t trực tiếp nớc ngoài
vào ASEAN không phải là một hiện tợng mới, song những tác động của tiến trình
AFTA sẽ nâng cao và thúc đẩy chúng khởi sắc. Với định hớng phát triển ra ngoài
khu vực trên cơ sở liên kết thị trờng bên trong AFTA, ASEAN hoàn toàn có thể
Trờng đại học kinh tế quốc dân
hy vọng tới khả năng đẩy mạnh thế thơng lợng cạnh tranh về thu hút đầu t trực
tiếp nớc ngoài.
2.3. H ớng ASEAN thích nghi với những điều kiện kinh tế quốc tế
đặc biệt là xu thế tự do hoá th ơng mại thế giới
Chơng trình CEPT là sẽ đa ASEAN AFTA trở thành một khu vực mở và là sự
phản ứng đáp lại với các mô hình bảo hộ mậu dịch ở cả trong và ngoài khu vực.
Hay nói cách khác mục tiêu này liên quan đến sự đáp ứng của ASEAN đối với xu
hớng đang gia tăng của chủ nghĩa khu vực trên thế giới. Trớc những biến động
của bối cảnh quốc tế, AFTA buộc phải đẩy nhanh tiến độ thực hiện và tơng lai có
thể không chỉ dừng lại ở một khu vực mậu dịch hay liên minh quan thuế mà sẽ
tiếp tục đợc phát triển thành một liên minh tiền tệ, một liên minh kinh tế. Nhờ
tăng buôn bán trong và ngoài khu vực, AFTA sẽ trợ giúp cho các quốc gia thành
viên ASEAN thích ứng đợc với chế độ thơng mại đa biên đang tăng lên ngày càng
nhanh chóng, hoà nhập với xu thế thơng mại chung của thế giới.
3. Nội dung cơ bản của AFTA
3.1 Ch ơng trình thuế quan u đãi có hiệu lực chung - CEPT
sự thoả thuận giữa các nớc thành viên ASEAN về việc cắt giảm thuế quan trong
nội bộ xuống còn 0 - 5%, hạn chế về định lợng và các hàng rào phi quan thuế từ
ngày 1/1/1993 đến ngày 1/1/2003. Chơng trình thuế quan u đãi có hiệu lực chung
này sẽ thực hiện theo 4 danh mục. Danh mục 1 là giảm thuế nhập khẩu, đợc chia
làm 2 phần: Phần thứ 1 là cắt giảm nhanh, áp dụng cho các loại sản phẩm có mức
thuế suất từ 20% trở xuống và phần thứ 2 là cắt giảm thuế quan thông thờng, áp
dụng cho các loại hàng hoá có mức thuế suất nhập khẩu cao hơn 20%. Danh mục
này đợc áp dụng cho 15 nhóm sản phẩm công nghiệp chế biến của ASEAN nh: xi
măng, hoá chất, phân bón, chất dẻo, hàng điện tử, hàng dệt, dầu thực vật, sản
phẩm da, sản phẩm cao su, giấy, đồ gốm và thuỷ tinh, đồ dùng bằng gố và song
mây, dợc phẩm với khoảng 3200 mặt hàng, chiếm tới 43% tổng số danh mục
giảm thuế của toàn ASEAN. Danh mục 2 là Danh mục loại trừ tạm thời, cha cắt
giảm thuế nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho một số thành viên ASEAN tham gia
vào tiến trình tự do hoá thơng mại mà không bị sốc về kinh tế, tiếp tục các chơng
trình đầu t đã đợc đa ra trớc khi tham gia kế hoạch CEPT hoặc có thời gian để hỗ
trợ cho sự ổn định thơng mại hoặc để chuyển hớng sản xuất đối với một số sản
phẩm tơng đối trọng yếu trong buổi đầu tham gia CEPT, không bị ảnh hởng xấu
đến hoạt động sản xuất, kinh doanh trong nớc. Sau 5 năm, những hàng hoá này sẽ
Trờng đại học kinh tế quốc dân
phải chuyển dần sang Danh mục giảm thuế, mỗi năm 20% số sản phẩm trong
Danh mục loại trừ tạm thời. Danh mục 3 là Danh mục loại trừ hoàn toàn, bao gồm
các sản phẩm không tham gia CEPT nhng phải có điều kiện phù hợp với quy chế
Tổ chức Thơng mại quốc tế WTO. Đây là các mặt hàng có ảnh hởng tới an ninh
quốc gia, đạo đức xã hội, vốn sống và sức khoẻ con ngời, động vật, thực vật, các
giá trị lịch sử, văn hoá, giáo dục, nghệ thuật của mỗi nớc. Danh mục 4 là sản
phẩm nông sản cha qua chế biến. Các mặt hàng nông sản cha chế biến có khả
năng gây ảnh hởng lớn đến nền kinh tế các nớc ASEAN. Thời hạn đa các mặt
hàng trong danh mục này vào Danh mục giảm thuế sẽ bắt đầu từ 2001 và kết thúc
vào 2003, đối với Việt Nam là 2004 và 2006.
Hơn nữa, chơng trình CEPT còn cho phép các nớc thành viên đa ra một danh
mục tạm thời cha thực hiện tiến trình giảm thuế theo kế hoạch CEPT để các nớc
có thời gian chuẩn bị, nâng cao hơn khả năng cạnh tranh hàng hoá của nớc mình.
Danh mục các mặt hàng thuộc CEPT của Việt Nam năm 1998:
- Danh mục giảm thuế: 1.661 dòng thuế
- Danh mục loại trừ tạm thời: 1.317 dòng thuế
- Danh mục nhạy cảm: 26 dòng thuế
- Danh mục loại trừ hoàn toàn: 213 dòng thuế
Tổng cộng là 3.217 dòng thuế (* nguồn Bộ Tài chính và Ban th ký ASEAN)
Nh vậy, cốt lõi của việc thành lập khu vực mậu dịch tự do là thực hiện chơng
trình CEPT, nhằm giảm dần thuế nhập khẩu hàng hoá giữa các nớc ASEAN với
nhau tới mức 0 - 5%, nhằm mục đích khuyến khích thơng mại giữa các nớc thành
viên. Theo chơng trình này, các nớc thành viên đa ra danh mục những mặt hàng sẽ
tham gia vào CEPT, cắt giảm những biện pháp hạn chế phi thuế quan khác, và đa
ra lịch trình triển khai. Chơng trình này bắt đầu vào năm 1993, dự kiến kéo dài 15
năm, nhng mới đây đợc rút bớt 5 năm, tức là kết thúc vào năm 2003. Theo quy ớc
của AFTA, ngoài các loại nông sản cha chế biến hoặc sơ chế là những mặt hàng
không nằm trong CEPT, mỗi nớc xác định và đăng ký 3 loại mặt hàng tuỳ theo
mức độ tham gia CEPT; không tham gia hoàn toàn, tạm thời cha tham gia và tham
gia.
Các mục tiêu của AFTA sẽ đợc thực hiện thông qua một loạt các thoả thuận
trong hiệp định AFTA nh là: sự thống nhất và công nhận tiêu chuẩn hoá hàng hoá
giữa các nớc thành viên, công nhận việc cấp giấy xác nhận xuất xứ hàng hoá của
Trờng đại học kinh tế quốc dân
nhau, xoá bỏ những quy định hạn chế đối với ngoại thơng, hoạt động t vấn kinh tế
vĩ mô trong đó CEPT là cơ chế thực hiện chủ yếu.
CEPT, về thực chất, đó là một thoả thuận giữa các thành viên ASEAN về việc
giảm thuế quan trong nội bộ ASEAN xuống còn 0-5% thông qua "cơ cấu thuế
quan u đãi có hiệu lực chung" đồng thời loại bỏ tất cả các hạn chế về định lợng và
các hàng rào phi quan thuế trong vòng 10 năm, đợc bắt đầu từ 1/1/1993 và hoàn
thành vào 1/1/2003. Hiệp định này sẽ đợc áp dụng đối với mọi loại sản phẩm công
nghiệp chế biến, bao gồm cả các hàng hoá t bản và các sản phẩm công nghiệp đã
qua chế biến.
Tuy vậy, trong khung hiệp định đó, CEPT đợc nhấn mạnh cho các mặt hàng
công nghiệp chế biến là đối tợng chủ yếu đợc thụ hởng các u đãi của chơng trình
giảm thuế quan. Việc cắt giảm thuế quan cho chúng sẽ đợc áp dụng trong một
lịch trình cụ thể theo 2 kênh giảm nhanh và giảm thông thờng đồng tuyến, nghĩa
là trong vòng 7 đến 10 năm, phải đa đợc khoảng 90% trong số hơn 44.000 dòng
thuế của các nớc ASEAN xuống mức thuế dới 5% vào năm 2000 và sau đó sẽ đa
đợc mức thuế quan bình quân của toàn ASEAN vào năm 2003 khoảng 2,63%.
Kênh giảm thuế nhanh (còn gọi là kế hoạch giảm thuế quan tăng tốc) có lịch
trình giảm thuế nhanh sẽ đợc phân định thành hai nấc: các sản phẩm có thuế suất
trên 20% đợc giảm xuống còn 0-5% vào 1/1/2000 và các sản phẩm có thuế suất
bằng hoặc thấp hơn 20% đợc giảm xuống còn 0-5% vào 1/1/1998.
Kênh giảm thuế bình thờng (còn gọi là chơng trình giảm thuế quan theo lịch
trình thông thờng) sẽ áp dụng cho tất cả các sản phẩm công nghiệp chế biến còn
lại. Đối với những sản phẩm có thuế suất trên 20%, việc giảm thuế ở kênh này sẽ
đợc tiến hành theo hai nấc: sẽ giảm thuế suất của chúng xuống tới 20% vào năm
1998 và sau đó sẽ tiếp tục giảm xuống còn 0-5% vào năm 2003. Đối với sản phẩm
đã có thuế suất bằng hoặc thấp hơn 20% sẽ đợc giảm thuế đến 0-5% trong vòng 7
năm, tức là kết thúc vào năm 2000. Các danh mục giảm thuế theo kênh thông th-
ờng hiện chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổng số các danh mục hàng hoá tham gia
CEPT với 49%.
Với các tỷ lệ lớn của hai danh mục giảm thuế trong chơng trình thực hiện
CEPT (khoảng 93%), các lịch trình giảm thuế này nếu đợc thực hiện, về căn bản,
chúng đã gần nh hoàn thành tỷ suất tự do hoá thơng mại nội bộ ASEAN.
Điều đáng lu ý ở dây là sau một số năm thực hiện CEPT, các nớc thành viên
ASEAN đã có đề xuất về một lịch trình giảm thuế linh hoạt, nghĩa là không nhất
thiết phải tuân thủ theo hai kênh đồng tuyến với các quy định rạch ròi cho các
Trờng đại học kinh tế quốc dân
suất thuế cần cắt giảm qua từng thời kỳ. Tuỳ theo đặc điểm cơ cấu thuế quan
xuống còn 0-5% càng sớm càng tốt trớc năm 2003. Hiện nay Hội đồng AFTA đã
chấp nhận đề xuất đó nh một sáng kiến nhằm đáp ứng các yêu cầu về việc tạo
dựng một khu vực tự do hoá thơng mại ASEAN trớc thời hạn đã định. Hội nghị
cấp cao ASEAN lần thứ 6 tại Hà Nội (15-16/12/1998), với sáng kiến thực hiện các
thoả thuận đa phơng và song phơng, đã khẳng định một lần nữa việc đẩy nhanh
tiến trình AFTA. ít ra là phải hoàn thành AFTA vào năm 2000 đối với 6 nớc thành
viên ASEAN đã kết nạp trớc năm 1995.
Cũng xuất phát từ hoàn cảnh đặc biệt của từng quốc gia thành viên mà CEPT
còn quy định danh mục các sản phẩm tạm thời cha tham gia giảm thuế (còn gọi là
danh mục loại trừ tạm thời) để tạo điều kiện thuận lợi cho các nớc này Các sản
phẩm trong danh mục này sẽ không đợc hởng nhợng bộ từ các nớc thành viên và
chỉ tồn tại mang tính chất tạm thời, nghĩa là sau 5 năm, chúng sẽ buộc phải
chuyển sang danh mục giảm thuế theo hai kênh đồng tuyến đã định. Do đó, kể từ
1/1/1996 đến 1/1/2000, danh mục loại trừ tạm thời sẽ phải chuyển sang danh mục
giảm thuế theo CEPT bình quân 20% mỗi năm. Dĩ nhiên, loại danh mục này
không nhiều, chỉ chiếm khoảng 8% tổng số các danh mục tham gia giảm thuế.
Một vấn đề gây tranh luận nhiều nhất trong việc xây dựng chơng trình CEPT là
vấn đề đa hay không đa các sản phẩm nông nghiệp cha qua chế biến vào danh
mục giảm thuế. Theo Hiệp định CEPT năm 1992, các sản phẩm nông nghiệp cha
qua chế biến không đợc đa vào danh mục giảm thuế theo CEPT. Nhng đến tháng
9/1994, các thành viên ASEAN đã đồng ý đa chúng vào danh mục này. Do đó,
cùng với các danh mục giảm thuế là loại trừ thuế tạm thời, phạm vi sản phẩm
tham gia tiến trình tự do hoá thơng mại theo CEPT đã đợc mở rộng tới 98% tổng
số dòng thuế của toàn khối ASEAN. Các sản phẩm nông nghiệp cha qua chế biến
cũng sẽ đợc phân định thành ba danh mục: danh mục giảm thuế, danh mục loại
trừ hoàn toàn và một danh mục đặc biệt khác là danh mục các sản phẩm nông
nghiệp nhạy cảm. Trừ một số nhỏ hàng nông nghiệp cha qua chế biến đợc đa vào
danh mục loại trừ hoàn toàn, hiện hành nông nghiệp cha qua chế biến của toàn bộ
ASEAN bao gồm 1823 dòng thuế, chiếm 4% tổng số dòng thuế sẽ giảm theo
CEPT của các quốc gia này. Các sản phẩm thuộc danh mục nhạy cảm là đối tợng
cần có cơ chế tự do hoá riêng phù hợp với các quy định của Hiệp định về nông
sản của WTO. Tuy nhiên, mức cam kết giảm thuế của các sản phẩm thuộc danh
mục này ở ASEAN sẽ cao hơn mức mà các nớc thành viên đã cam kết tại vòng
đàm phán Urugoay. Đến nay, theo đề xuất của các quốc gia thành viên, những
mặt hàng này đã đợc phép kết thúc lịch trình giảm thuế đến 0-5% vào ngày
1/1/2010.
Trờng đại học kinh tế quốc dân
Nh vậy, xét một cách tổng quát, cấu trúc CEPT bao gồm 3 danh mục chính:
danh mục giảm thuế, danh mục các sản phẩm tạm thời cha giảm thuế và danh
mục các sản phẩm nông nghiệp cha qua chế biến. Tuy nhiên, để vận dụng đúng
hơn về CEPT, các thành viên ASEAN đã thống nhất xây dựng một danh mục loại
trừ hoàn toàn một số sản phẩm ra khỏi lịch trình giảm thuế theo CEPT, tức là việc
cắt giảm thuế đối với những sản phẩm này sẽ không đợc áp dụng theo các quy
định của CEPT. Đó là những sản phẩm có ảnh hởng đến an ninh quốc gia, đạo
đức xã hội, cuộc sống và sức khoẻ con ngời, đến việc bảo tồn các giá trị văn hoá
nghệ thuật, các di tích lịch sử, khảo cổ
Khi vận dụng CEPT, chúng ta không đợc quên một điều kiện bổ sung cho cơ
chế giảm thuế theo CEPT, đó là những nhợng bộ trao đổi giữa các quốc gia
ASEAN khi thực hiện CEPT trên các nguyên tắc có đi có lại. Nguyên tắc này bắt
buộc các nớc thành viên để đợc hởng u đãi về thuế quan của nhau khi xuất khẩu
theo CEPT cần đảm bảo đúng các yêu cầu sau đây: thứ nhất, sản phẩm đó phải
nằm trong danh mục cắt giảm thuế của cả nớc xuất khẩu và nớc nhập khẩu và
phải có mức thuế quan tối đa là 20%; thứ hai, sản phẩm đó phải có chơng trình
giảm thuế đợc Hội đồng AFTA thông qua và thứ ba, sản phẩm đó phải là những
sản phẩm có hàm lợng xuất xứ từ các nớc thành viên ASEAN với ít nhất là 40%.
Nếu một sản phẩm đảm bảo đợc ba yêu cầu đó, chúng sẽ đợc hởng u đãi hoàn
toàn từ phía các quốc gia nhập khẩu. Để xác định các sản phẩm có đủ điều kiện h-
ởng thuế quan u đãi theo chơng trình CEPT hay không, mỗi nớc thành viên hàng
năm phải công bố "tài liệu trao đổi u đãi CEPT" trong đó cần thể hiện đợc mức
thuế quan của các sản phẩm theo CEPT và các sản phẩm có đủ điều kiện u đãi.
Tóm lại, CEPT đợc thực hiện sẽ đẩy nhanh tiến trình tự do hoá thơng mại trong
nội bộ ASEAN. Bởi vì dựa vào các kế hoạch giảm thuế đã đợc các nớc thành viên
ASEAN cam kết theo chơng trình CEPT, đến năm 2000 chắc chắn 87,7% tổng số
các dòng thuế tham gia giảm thuế sẽ có mức thuế 0-5%. Điều này hoàn toàn có cơ
sở khi mà hiện nay các sản phẩm CEPT đã tăng rất nhanh trong tổng kim ngạch
xuất khẩu nội bộ ASEAN, từ 81,38% năm 1994 lên 84,7% năm 1995.
3.2. Huỷ bỏ hạn chế về định l ợng hàng rào phi quan thuế
Đây là cơ chế quan trọng thứ hai đợc tiến hành đồng thời với thực hiện chơng
trình CEPT. Các nớc thành viên ASEAN sẽ xoá bỏ tất cả các hạn chế về số lợng
đối với các sản phẩm CEPT trên cơ sở chế độ u đãi thuế quan đợc áp dụng cho các
sản phẩm đó. Các hàng rào phi quan thuế khác cũng sẽ đợc xoá bỏ dần dần trong
vòng 5 năm sau khi sản phẩm đợc hởng u đãi. Đây là sự hỗ trợ cực kỳ quan trọng
cho tiến trình AFTA vì lẽ cắt giảm thuế là biện pháp cần thiết, đầu tiên song đó
Trờng đại học kinh tế quốc dân
không phải là biện pháp duy nhất để thực hiện tự do hoá thơng mại. Các khía cạnh
nh: các kênh giảm thuế đồng tuyến, danh mục loại trừ tạm thời, danh mục hàng
nông nghiệp cha qua chế biến tạo nên tính kỹ thuật của chính sách tự do hoá th-
ơng mại, còn cấu thành nên sự tác động có tính chất hành chính, pháp lý giữa các
quốc gia trong tiến trình chu chuyển thơng mại đó là các biện pháp về giấy phép
xuất nhập khẩu, hạn ngạch, các hạn chế về tỷ giá hối đoái, các biện pháp về tiêu
chuẩn kỹ thuật hàng hoá Đây là những rào cản trong thực tiễn hoạt động thơng
mại, nó gắn chặt với các chính sách bảo hộ mậu dịch nặng nề và theo đó, việc loại
bỏ chúng sẽ không dễ dàng nếu không có sự cải cách toàn diện ở tầm vĩ mô nền
kinh tế của từng nớc. Hơn nữa, hiện nay, những biện pháp này còn rất không đồng
nhất giữa các nớc thành viên ASEAN. Do vậy, để chuẩn bị tốt tiến trình xoá bỏ
các hàng rào phi quan thuế, Uỷ ban Phối hợp thực hiện CEPT/AFTA của ASEAN
đã tiến hành các bớc nh sau:
Bớc 1: Các nớc thành viên cùng thống nhất định nghĩa về các biện pháp phi quan
thuế dựa trên sự phân loại của UNCTAC.
Bớc 2: tập trung trớc tiên việc giảm các hàng rào phi thuế quan đối với các sản
phẩm có tỷ trọng lớn trong giao dịch thơng mại nội bộ ASEAN.
Bớc 3: Ban th ký ASEAN sẽ tập hợp thông tin các hàng rào phi quan thuế của các
nớc thành viên từ nhiều nguồn, gồm: báo cáo của các quốc gia thành viên, bản
đánh giá chính sách thơng mại của GATT, báo cáo của Phòng thơng mại-Công
nghiệp ASEAN, hệ thống thông tin và phân tích dữ liệu thơng mại của
UNCTAC để có một chính sách điều hoà thích hợp. Trừ một số lý do đợc phép
duy trì các hàng rào phi quan thuế nh: sự cần thiết phải bảo hộ một số sản phẩm
thuộc danh mục loại trừ hoàn toàn, sự bảo hộ đối với một số sản phẩm trong thời
gian còn đợc hởng chế độ miễn trừ tạm thời việc xoá bỏ các hàng rào phi quan
thuế cần đợc phối hợp đồng bộ với chơng trình CEPT, trong đó quan trọng nhất và
khó khăn nhất là việc thống nhất các tiêu chuẩn về hàng hoá và việc thừa nhận lẫn
nhau về tiêu chuẩn hoá hàng hoá giữa các nớc thành viên. Hiện tại, Uỷ ban về tiêu
chuẩn Chất lợng của ASEAN (ACCSQ) đang tiến hành thống nhất hoá các tiêu
chuẩn về kỹ thuật của các sản phẩm CEPT thuộc nhóm những hàng hoá có kim
ngạch buôn bán lớn giữa các nớc ASEAN. Tất nhiên, ở đây cần phân biệt rõ giữa
hàng rào phi quan thuế và các biện pháp phi quan thuế bởi vì rất nhiều biện pháp
phi quan thuế lại có tác dụng tốt cho việc tạo dựng môi trờng thơng mại. Ví dụ,
chính sách trợ giá xuất khẩu của Chính phủ, biện pháp chống bán phá giá
Dĩ nhiên, việc thống nhất và xoá bỏ các hàng rào phi quan thuế là một công
việc khó khăn vì ba lý do: thứ nhất, các hàng rào phi quan thuế đa dạng và thờng
Trờng đại học kinh tế quốc dân

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét