Thứ Sáu, 24 tháng 1, 2014

Mạng điện tử chap5

Chương 5: Đáp ứng tần số của BJT và FET
Chương 5
ÐÁP ỨNG TẦN SỐ CỦA BJT VÀ FET
Trong các chương 2, 3, 4 ta đã phân tích các mạch khuếch đại tín hiệu nhỏ dùng BJT
và FET. Việc phân tích đó chỉ đúng trong một dải tần số nhất định, ở đó ta giả sử các tụ liên
lạc ngõ vào, ngõ ra và phân dòng có dung kháng không đáng kể và được xem như nối tắt ở
tần số của tín hiệu. Ngoài ra ở dải tần số đó ảnh hưởng của các điện dung liên cực trong BJT
và FET không đáng kể. Dải tần số này thường được gọi là dải tần số giữa.
Trong chương này ta sẽ khảo sát ảnh hưởng của các tụ liên lạc, phân dòng (có điện
dung lớn) ở tần số thấp và các tụ liên cực (có điện dung nhỏ) ở tần số cao lên các thông số
của mạch khuếch đại. Trước khi đi vào chi tiết, ta cần biết qua một số khái niệm cần thiết
như là một công cụ khảo sát.
5.1 DECIBEL:
Ta xem mạch tương đương 2 cổng hình 5.1


Công suất ngõ vào được định nghĩa: P
i
=v
i
.i
i
Công suất ngõ ra được định nghĩa: P
0
=v
0
.i
0


Trong kỹ nghệ người ta thường đưa ra một đơn vị là decibel (dB) để diễn tả độ lợi
công suất.
Ðơn vị căn bản ban đầu là Bel và được định nghĩa:


Trương Văn Tám V-1 Mạch Điện Tử

Chương 5: Đáp ứng tần số của BJT và FET




5.2 MẠCH LỌC THƯỢNG THÔNG R.C:
Dạng mạch căn bản như hình 5.2


Tụ C được xem như nối tắt (short-circuit), kết quả là: v
0


v
i


- Ở khoảng giữa 2 tần số này, độ lợi điện thế A
V
=v
0
/v
i
thay đổi nhu hình 5.3. Khi tần
số tăng, dung kháng của tự C giảm và tín hiệu ở ngỏ ra v
0
lớn dần. Ðiện thế ngõ vào và ngõ
ra liên hệ với nhau bằng công thức:


Trương Văn Tám V-2 Mạch Điện Tử

Chương 5: Đáp ứng tần số của BJT và FET

Tại A
V
=1 ⇒v
0
=v
i
(trị tối đa) A
V
(dB)=20Log1=0dB
Vậy tần số cắt là tần số tại đó độ lợi giảm đilần hay giảm đi 3dB. Nếu phương trình
độ lợi được viết dưới dạng số phức:


Khi f<<f
i
, phương trình trên có thể viết gần đúng:

Với công thức gần đúng này ta thấy:
Trương Văn Tám V-3 Mạch Điện Tử

Chương 5: Đáp ứng tần số của BJT và FET


Mạch lọc nêu trên có độ lợi giảm đi 20dB khi tần số giảm đi 10 lần hay độ lợi giảm
6dB khi tần số giảm phân nửa được gọi là mạch lọc 6dB/octave hay 20dB/decade








Trương Văn Tám V-4 Mạch Điện Tử

Chương 5: Đáp ứng tần số của BJT và FET

5.3 MẠCH LỌC HẠ THÔNG RC:
Dạng mạch căn bản như hình 5.6.




Ở khoảng giữa 2 tần số này, độ lợi điện thế thay đổi như hình 5.7. Khi tần số tăng dần, dung
kháng của tụ C càng giảm và v
0
càng giảm.


Tương tự như mạch lọc hạ thông, khi f>>f
i
thì A
V
(dB) =-20log(f/f
i
) và độ dốc của giản
đồ cũng là 20dB/decade.
Trương Văn Tám V-5 Mạch Điện Tử

Chương 5: Đáp ứng tần số của BJT và FET
5.4 ÐÁP ỨNG TẦN SỐ THẤP CỦA MẠCH KHUẾCH ÐẠI
DÙNG BJT:
Trong đoạn này, ta phân tích mạch khuếch đại dùng cầu chia điện thế, nhưng kết quả
cũng có thể được áp dụng cho các mạch khác.




Tại tần số cắt f
LS
, điện thế tín hiệu vi bằng 70.7% so với giá trị được xác định bởi
phương trình (5.11) và như vậy ta thấy C
S
chỉ có ảnh hưởng lên độ khuếch đại của mạch ở
tần số thấp.
Ở mạch khuếch đại như hình (5.8), khi phân tích ảnh hưởng của C
S
; ta giả sử C
E

C
C
có dung kháng khá lớn và xem như nối tắt ở tần số của tín hiệu. Với giả sử này, mạch
tương đương xoay chiều ở ngõ vào như hình 5.10.


C
C
: Vì C
C
được nối giữa ngỏ ra của BJT và tải nên hình ảnh C
C
và R
L
, R
0
như một
mạch lọc thượng thông. Tần số cắt do ảnh hưởng của C
C
có thể được xác định bởi:
Trương Văn Tám V-6 Mạch Điện Tử

Chương 5: Đáp ứng tần số của BJT và FET






Giả sử rằng ảnh hưởng của C
S
và C
E
không đáng kể, điện thế ngõ ra sẽ giảm
còn 70.7% so với v
0
ở tần số giữa tại f
LC
. Mạch tương đương xoay chiều ở ngõ ra như hình
5.12. Vậy R
0
= R
C
//r
0
.

C
E
: Ta có thể xem C
E
nhìn hệ thống như hình vẽ 5.13


Ðể xác định ảnh hưởng của C
E
lên độ khuếch đại của mạch, ta xem mạch hình 5.16,
trong đó độ khuếch đại được cho bởi:


khi không có C
E
.
Trương Văn Tám V-7 Mạch Điện Tử

Chương 5: Đáp ứng tần số của BJT và FET
Khi ta mắc C
E
vào mạch, nhận thấy:
- Ở tần số thật thấp, dung kháng của C
E
lớn, C
E
có thể xem như hở mạch và độ lợi điện
thế sẽ nhỏ nhất được tính bằng công thức (5.17).
- Khi tần số tín hiệu tăng dần, dung kháng của C
E
giảm và vì mắc song song với R
E

nên tổng trở nhìn ở chân E giảm nên độ khuếch đại tăng dần.
- Khi tần số đủ lớn (tần số giữa hay tần số cao) tụ C
E
xem như nối tắt và độ lợi điện thế
sẽ cực đại và

.
- Tại tần số f
LE
, độ lợi điện thế sẽ giảm 3dB so với tần số giữa.
Như vậy ta thấy rằng đáp ứng ở tần số thấp của mạch là do ảnh hưởng của C
S
, C
C
,
C
E
. Tần số cắt thấp (tần số tại đó độ lợi giảm 3dB) của mạch sẽ là tần số cắt thấp cao nhất
của f
LS
, f
LC
và f
LE
.
5.5 ÐÁP ỨNG TẦN SỐ THẤP CỦA MẠCH KHUẾCH ÐẠI
DÙNG FET:
Việc phân tích một mạch khuếch đại dùng FET ở tần số thấp cũng tương tự như
mạch khuếch đại dùng BJT ở đoạn trước.



Ba tụ điện tạo ảnh hưởng đến độ lợi ở tần số thấp là C , C và C . Ta xem một mạch
khuếch đại dùng FET như hình 5.17.
G C S

C
G
: Do tụ C
G
nối giữa nguồn tín hiệu và hệ thống linh kiện nên mạch tương đương
như hình 5.18. Tần số cắt thấp do ảnh hưởng của C
G
được xác định bởi:


C
C
: Tụ liên lạc ngõ ra C
C
được nối giữa linh kiện và tải nên mạch tương đương ngõ
ra như hình 5.19. Tần số thấp do ảnh hưởng của C
C
được xác định bởi:

Trương Văn Tám V-8 Mạch Điện Tử

Chương 5: Đáp ứng tần số của BJT và FET


Trong đó: R
0
= R
D
//r
d
.

C
S
: Tụ cực nguồn C
S
nhìn hệ thống như hình 5.20. Do đó tần số thấp do hiệu
ứng của C
S
được xác định bởi:


Ðể xác định R
eq
, ta chú ý mạch tương đương ngõ ra của mạch dùng FET bên trên như
sau:



Ta chú ý là: v
gs
= v
g
- v
S
= v
i
- v
0
.
Ta thay nguồn dòng g
m
v
gs
bằng nguồn điện thế và để tính R
eq
ta cho ngõ vào bằng 0
tức
v
i
= 0. Mạch vẽ lại như hình 5.12b.

Trương Văn Tám V-9 Mạch Điện Tử

Chương 5: Đáp ứng tần số của BJT và FET
5.6 HIỆU ỨNG MILLER:
Ở vùng tần số cao, các điện dung lớn (tụ liên lạc, tụ phân dòng), được xem như nối tắt
và không ảnh hưởng đến các thông số của mạch.
Ðiện dung ảnh hưởng quan trọng đến hoạt
động của mạch là các điện dung liên cực bên trong linh kiện và điện dung tạo bởi dây nối
bên ngoài linh kiện.
Xem một mạch khuếch đại đảo (dịch
pha 180
0
giữa ngõ vào và ngõ ra). Ðiện dung ở
ngõ vào và ngõ ra sẽ gia tăng bởi tác dụng của điện dung liên cực giữa ngõ ra và ngõ vào
của linh kiện và nó sẽ làm thay đổi độ khuếch đại của mạch. Trong mô hình 5.22, điện dung
“hồi tiếp” này được định nghĩa là C
f
. Áp dụng định luật Kirchoff về dòng điện ta có:

i =
i
i
1
+i
2



CM
fVV
Cf
X
)CAω(1
1
A1
X
=

=


Từ phương trình này ta vẽ lại mạch tương đương như hình 5.23. Các tụ liên cực ở
ngõ vào của mạch điện được xem như mắc song song với C
M
. Tổng quát, điện dung ngõ vào
hiệu ứng Miller được định nghĩa bởi:
C
Mi
= (1-A
V
)C
f
(5.23)
Như vậy ở tần số cao, độ lợi điện thế A
V
là một hàm số theo C
Mi
. Vì độ lợi ở tần số
giữa là cực đại nên ta có thể dùng độ lợi tối đa này để xác định C trong công thức (5.23).
Mi
Hiệu ứng Miller cũng làm gia tăng điện dung ở ngõ ra, chúng phải được để ý đến khi
xác định tần số ngắt cao.

Trương Văn Tám V-10 Mạch Điện Tử

Chương 5: Đáp ứng tần số của BJT và FET



5.7 ÐÁP ỨNG TẦN SỐ CAO CỦA MẠCH KHUẾCH ÐẠI
DÙNG BJT:
Ở vùng tần số cao, có 2 vấn đề xác định điểm -3dB: điện dung của hệ thống (ký sinh
và liên cực) và sự phụ thuộc vào tần số của hfe
hay β.
5.7.1 Các thông số của hệ thống:
Ta xem mạch khuếch đại dùng BJT ở tần số cao như hình 5.25


C
be
, C
bc
, C
ce
là các tụ liên cực của BJT do chế tạo. C
wi
, C
w0
là các tụ ký sinh do hệ
thống dây nối, mạch in ở ngõ vào và ngõ ra của BJT.
Như vậy, mạch tương đương xoay
chiều ở tần số cao có thể được vẽ lại như hình 5.26.

Trương Văn Tám V-11 Mạch Điện Tử

Chương 5: Đáp ứng tần số của BJT và FET
Trong đó: C
i
= C
wi
+ C
be
+ C
Mi
C
0
= C
w0
+ C
ce
+ C
M0
Chú ý sự vắng mặt của C , C , C vì ở vùng tần số cao các tụ này xem như nối tắt.
S C E

Thông thường Cbe và Cce nhỏ nhất. Trong các sách tra cứu, nhà sản xuất thường chỉ cho
biết C
be
, C
bc
mà bỏ qua C
ce
.
Dùng định lý Thevenin biến đổi mạch ngõ vào và ngõ ra, ta được:


Với: R
th1
= R
S
//R
1
//R
2
//R
i
Tần số giảm 3dB do tác dụng của C
i
là:


Trong đó: C
i
= C
wi
+ C
be
+ C
Mi
C
i
= C
wi
+ C
be
+ (1-A
V
)C
bc
Ở tần số rất cao, ảnh hưởng của C
i
là làm giảm tổng trở vào của hệ thống, giảm biên
độ tín hiệu đưa vào hệ thống (giảm dòng
i
b
) và do đó làm giảm độ lợi của mạch.
Ở ngõ ra với: R
th2
= R
c
//R
L
//r
0


Ở tần số rất cao, dung kháng của C giảm nên làm giảm tổng trở ra của hệ thống và
kết quả là v bị giảm và v sẽ tiến dần về 0 khi X càng nhỏ
.
0
0 0 C0
Tần số cắt cao của mạch được xác định là tần số cắt thấp trong 2 tần số cắt f và f .
Hi H0
Ngoài ra vì hfe (hay β) cũng giảm khi tần số tăng nên cũng phải được xem là một
yếu tố để xác định tần số cắt cao của mạch ngoài f
Hi
và f
H0
.
5.7.2 Sự biến thiên của h
fe
(
hay
β) theo tần số:
Ta chấp nhận sự biến thiên của hfe (hay β) theo tần số bằng hệ thức:


người ta thường
dùng mạch tương đương của BJT theo thông số hỗn tạp π(lai π) ở tần số
cao.
Trương Văn Tám V-12 Mạch Điện Tử

Chương 5: Đáp ứng tần số của BJT và FET





Nếu sách tra cứu cho f
α
thì ta có thể suy ra f
β
từ công thức liên hệ:
f
β
= f
α
(1-α)
Tích số độ lợi-băng tần được định nghĩa cho BJT bởi điều kiện:
Trương Văn Tám V-13 Mạch Điện Tử

Chương 5: Đáp ứng tần số của BJT và FET

f
T
≈ h
fe(mid)
.f
β
(5.30)
Chú ý là f
β
≈ B
W
= băng tần; nên f
T
chính là tích độ lợi băng tần.



Trương Văn Tám V-14 Mạch Điện Tử

Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển du lịch .doc

huy tối đa thế mạnh về du lịch của nước ta. Trong bài viết này tôi chỉ nêu một
vài thực trạng và giải pháp để đầu tư phát triển ngành du lịch.
Chuyên đề của em gồm 2 phần chính:
Chương 1: Thực trạng đầu tư phát triển du lịch.
Chương 2 : Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư du lịch.
Chuyên đề của em được hoàn thành nhờ vào sự giúp đỡ của các thầy cô
cũng như sự hướng dẫn của các bộ nơi em thực tập. Em xin chân thành cảm
ơn cô giáo Nguyễn Thị Ái Liên đã hướng dẫn tận tình giúp em hoàn thành
chuyên đề, cũng qua đây em xin cảm ơn các anh chị trong Ban nghiên cứu
phát triển các ngành dịch vụ - Viện chiến lược phát triển đã giúp đỡ em trong
quá trình thức tập, cũng như trong thời gian em làm chuyên đề. Tuy nhiên do
kiến thức còn hạn hẹp nên bản chuyên đề của em còn nhiều thiếu sót. Kính
mong sự góp ý của các thầy cô để bài viết hoàn thiện hơn.
5
CHƯƠNG 1- THỰC TRẠNG ĐẨU TƯ PHÁT TRIỂN DU LỊCH.
1.1. KHÁI QUÁT VỀ VIỆN CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN
1.1.1. Khái quát lịch sử phát triển của Viện chiến lược phát triển.
Viện chiến lược phát triển ngày nay được thành lập trên cơ sở tiền thân
là hai vụ của Uỷ ban kế hoạch Nhà nước (Nay là Bộ Kế hoạch và đầu tư): Vụ
tổng hợp kế hoạch kinh tế quốc dân dài hạn và Vụ kế hoạch phân vùng kinh
tế. Quá trình hình thành và phát triển từ hai Vụ nêu trên cho đến Viện chiến
lược phát triển hiện nay như sau:
Theo quyết định số 47-CP ngày 09 tháng 03 năm 1964 của Hội đồng
Chính phủ thì Vụ tổng hợp kinh tế quốc dân dài hạn và Vụ kế koạch phân
vùng kinh tế được thành lập. Hai Vụ này hoạt động theo hai hướng lớn là: xây
dựng kế hoạch dài hạn và phân bố lực lượng sản xuất.
Tại nghị định số 49CP ngày 25 tháng 3 năm 1974 của Hội đồng Chính
phủ, ban hành điều lệ về tổ chức và hoạt động của UỶ ban kế hoạch Nhà
nước, thành lập Viện phân vùng và quy hoạch.
Đến năm 1977 hội đồng chính phủ có quyết đính số 269Cp ngày 30
tháng 9 năm 1977 thành lập Uỷ ban phân vùng kinh tế Trưng ương.Bộ phận
làm việc thường trực của Uỷ ban phân vùng kinh tế Trưng ương là Viện phân
vùng và quy hoạch thuộc uỷ ban kế hoạch Nhà nước.
Tại quyết định số 69- HĐBT ngày 09 tháng 07 năm 1983 của hội đồng
Bộ trưởng về việc sửu đổi, bổ sung tổ chức trực thuộc Uỷ ban Kế hoạch Nhà
nước, giải thế Vụ tổng hợp kế hoạch kinh tế quốc dân dài hạn dể thành lập
Viện Nghiên cứu kế hoạch dài hạn. Theo văn bản số 2982- V15 ngày 12
tháng 6 năm 1984 của hội đồng Bộ trưởng quy định do vị trí và chức năng,
nhiệm vụ của Viện, Chủ nhiệm của Viện, chủ nhiệm uỷ ban kế hoạch nhà
nước có thể bố trí cán bộ lãnh đạo Viện tương đương cấp tổng cục, và cán bộ
lãnh đạo các Ban, Văn phòng trực thuộc Viện tương đương cấp Vụ.
6
Tại nghị định số 151- HĐBT ngày 27 tháng 11 năm 1986 của hội đồng
Bộ trưởng vể việc sửa đổi tổ chức bộ máy làm nhiệm vụ phân cùng kinh tế,
giải thể uỷ ban phân vùng kinh tế Trung Ương, giao công tác phân vùng kinh
tế cho Uỷ ban kế hoạch Nhà nước phụ trách. Đổi tênViện Phân vùng và quy
hoạch thuộc Uỷ ban kế hoạch nhà nước thành Viện phân bố lực lượng sản
xuất.
Thực hiện quyết định số 66-HĐBT ngày 18 thánh 4 năm 1988 của hội
đồng Bộ trưởng về việc sắp xếp lại bộ máy của Uỷ ban Kế hoạch nhà nước,
chủ nhiệm Uỷ ban kế hoạch Nhà nước đã có quyết định số 198-UB/TCCB
ngày 19 tháng 8 năm 1988, giải thể Viện nghiên cứu kế hoạch dài hạn và giải
thể Viện phân bố lực lượng sản xuất để thành lập Viện kế hoạch dài hạn và
phân bố lực lượng sản xuất; phân công Phó chủ nhiêm Uỷ ban trực tiếp làm
Viện trưởng.
Theo nghị định số 89/CP ngày 12 tháng 8 năm 1994 của Chính phủ về
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, và tổ chức bộ mày của Uỷ ban kế hoạch
Nhà nước, chủ nhiệm uỷ ban kế hoạch Nhà nước đã có quyết định số 116 UB-
TCCB ngày 01 tháng 10 năm 1994 đổi tên Viện kế hoạch và phân bố lực
lượng sản xuất thành Viện chiến lược phát triển, có vị trí tương đương tổng
cục loại I, và quyết định số 169 UB/TCCB-ĐT ngày 03 tháng 12 năm 1994 về
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, và tổ chức bộ máy của Viện chiến lược phát
triển.Viện là một đơn vị sự nghiệp, có vị trí tương đương với tổng cục loại I,
hoạt động trên cơ sở tự chịu trách nhiệm về quản lý tài chính, quản lý cơ sở
vật chất kỹ thuật, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học theo phân cấp của
Bộ kế hoạch đầu tư.
1.1.2. Chức năng và nhiệm vụ của Viện chiến lược.
1.1.2.1. Chức năng
7
- Nghiên cứu các và đề xuất về chiến lược, quy hoạch phát triển kinh
tế- xã hội của cả nước, các vùng lãnh thổ
- Nghiên cứu và xây dựng các đề án cề chiến lược, quy hoạch phát triển
kinh tế - xã hội của cả nước, các vùng lãnh thổ.
- Hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ cho các đơn vị chức năng của
Bộ, ngành, địa phương lập quy hoạch phát triển phù hợp với chiến lược, quy
hoạch tổng thể phát triển kinh tế- xã hội của cả nước đã được phê duyệt.
- Tham gia thẩm định các dự án quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các dự án quy hoạch phát triển
ngành, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế.
- Phân tích, tổng hợp và dự báo các biến động kinh tế - xã hội, khoa
học, công nghệ, môi trường và các yếu tố khác tác động đến chiến lược, quy
hoạch để phục vụ nghiên cứu chiến lược, quy hoạch.
- Tư vấn về lĩnh vực chiến lược, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
chuyên ngành và đào tạo sau đại học
Ngoài các chức năng trên thì Viện chiến lược phát triển thực hiện chức
năng giúp việc cho Ban chỉ đạo điều phối phát triển vùng kinh tế trọng điểm
thưo quyết định só 20/2004/QĐ-TTg ngày 18 tháng 2 năm 2004 của thủ
tướng chính phủ.
1.1.2.2. Nhiệm vụ
- Dưới sự chỉ đạo của Bộ trưởng Bộ kế hoạch và đầu tư, phối hợp với
các đơn vị trong Bộ, các ngành, các địa phương thì viện có nhiệm vụ: Tổ chức
nghiêm cứu và tổng hợp các kết quả nghiên cứu để xây dựng và soạn thảo
chiến lược phát triển kinh tế xã hội; Tổ chức nghiên cứu và tổng hợp xây
dựng quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển
ngành và vùng lãnh thổ, quy hoạch dầu tư của cả nước.
8
- Trên cơ sở chiến lược và phát triển kinh tế - xã hội, Viện chủ trì hoặc
tham gia xây dựng các chương trình phát triển và các dự án lớn, tham gia xây
dựng hướng kế hoạch 5 năm, tham gia luận chứng và thẩm định các dự án đầu
tư quan trọng của Nhà nước.
- Làm đầu mối trong Bộ kế hoạch và đầu tư về công tác nghiên vứu
chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế xã hội. Tham gia xet duyệt quy
hoạch và theo dõi việc thực hiện các quy hoạch kinh tế - xã hội. Phối hợp với
các đơn vị trong Bộ kế hoạch và đầu tư để cụ thể hoá chiến lược, quy hoạch
phát triển, quy hoạch đầu tư trong các kế hoạch đầu tư trong các kế hoạch của
Nhà nước.
- Nghiên cứu lý luận, phương pháp luận và các phương pháp xây dựng
chiến lược và các quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội, quy hoạch phát triển
kinh tế- xã hội của ngành và địa phương.
-Nghiên cứu và tổ chức nghiên cứu dự báo phát triển kinh tế- xã hội,
thu nhập, phân tích, xử lý các thông tin kinh tế- xã hội trong và ngoài nước để
phục vụ cho việc nghiên cứu và quản lý kinh tế.
- Thực hiện công tác nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế và đào tạo
cán bộ (kể cả cán bộ trên đại học khi có điều kiện và theo quy chế nhà nước)
về lĩnh vực thuộc chức năng, nhiệm vụ của Viện và thực hiênh những nhiệm
vụ khác được Bộ trưởng Bộ kế hoạch đầu tư giao.
1.1.3. Sơ đồ tổ chức của Viện chiến lược phát triển.
Viện Chiến lược phát triển có hội đồng khoa học và 10 đơn vị trực
thuộc: Ban tổng hợp; ban dự báo; ban nghiên cứu phát triển các ngành sản
xuất; ban nghiên cứu phát triển các ngành dịch vụ; ban nghiên cứu phát triển
nguồn nhân lực và các vấn đề xã hội; ban nghiên cứu phát triển vùng; ban
nghiên cứu phát triển cơ sở hạ tầng; Trung tâm thông tin tư liệu, đào tạo và tư
vấn phát triển; Trung tâm nghiên cứu kinh tế miền Nam và văn phòng
9
Hiện nay, Viện có 02 phó giáo sư, 26 tiến sỹ, 12 thạc sỹ và 60 cử nhân.
10



Chư
Viện trưởng
Hội đồng khoa họcCác phó viện trưởng
Ban
tổng
hợp
Ban dự
báo
Ban
nghiên
cứu
phát
triển
các
ngành
sản
xuất
Ban
nghiên
cứu
phát
triển
các
ngành
dịch vụ
Ban
nghiên
cứu
phát
triển
nguồn
lực và
các vấn
đề xã
hội
Ban
nghiên
cứu
phát
triển
vùng
Ban
nghiên
cứu
phát
triển hạ
tầng
Trung
tâm
nghiên
cứu
kinh tế
miền
Nam
Văn
phòng
Trung
tâm
thông
tin tư
liệu,
đào tạo
và tư
vấn
phát
triển
11
1.1.3.1 Hội đồng khoa học
Hội đồng khoa học là tổ chức tư vấn giúp Viện trưởng xây dựng các
chương trình khoa học, tổ chức công tác nghiên cứu khoa học và đánh giá
nghiên cứu khoa học của Viện.
1.1.3.2 Ban tổng hợp
Nghiên cứu, tổng hợp các kết quả nghiên cứu và xây dựng các báo cáo
về chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Nghiên cứu
dự báo kinh tế vĩ mô.
Đầu mối tổng hợp, tham mưu về các vấn đề chung liên quan đến quản
lý nhà nước đối với công tác quy hoạch trên phạm vi cả nước.
1.1.3.3 Ban dự báo
Phân tích tổng hợp, dự báo về biến động kinh tế, công nghệ, môi
trường, liên kết quốc tế của thế giới và các biến động kinh tế- xã hội trong
nước phục vụ nghiên cứu chiến lược, quy hoạch.
Dự báo các khả năng phát triển, hội nhập kinh tế khu vực và thế giới
của nền kinh tế Việt Nam.
1.1.3.4 Ban nghiên cứu các nghành sản xuất.
Nghiên cứu, tổng hơph các kết quả nghiên cứu và xây dựng chiến lược,
quy hoạch phát triển các ngành công nghiệp, xây dựng và nông, lâm, ngư
nghiệp trên pham vụ cả nước và các vùng lãnh thổ.
Đầu mối tổng hợp, tham mưu những vấn đề liên quan về quản lý nàh
nước đôic vối công tác quy hoạch các ngành sản xuất.
1.1.3.5 Ban nghiên cứu phát triển các ngành dịch vụ
 Chức năng nhiệm vụ
- Nghiên cứu tổng hợp các kết quả nghiên cứu và xây dựng chiến lược,
quy hoạch phát triển các ngành dịch vụ của cả nước và trên các vùng lãnh thổ.
12
12
- Làm đầu mối tổng hợp, tham mưu các vấn đề liên quan về quản lý
Nhà nước đối với công tác quy hoạch các ngành dịch vụ trên cả nước. Tham
gia thẩm định các dự án quy hoạch các ngành dịch vụ.
- Tham gia đóng góp ý kiến xây dựng kế hoạch 5 năm và kế hoạch
hàng năm của các ngành dịch vụ.
- Nghiên cứu lý luận, phương pháp luận và phương pháp xây dựng
chiến lược và quy hoạch phát triển các ngành dịch vụ.
- Thực hiện các nhiệm vụ khác do Viện trưởng giao.
 Cơ cấu tổ chức
* Lãnh đạo ban.
- Trưởng ban: Chỉ đạo chung, nghiên cứu lý luận, phương pháp luận
xây dựng chiến lược và quy hoạch phát triển các ngành dịch vụ.
* Nhóm nghiên cứu:
- Nghiên cứu phục vụ xây dựng chiến lược phát triển các ngành dịch vụ
- Nghiên cứu phục vụ xây dựng quy hoạch phát triển các ngành dịch vụ
của các vùng kinh tế, tham mưu tư vấn xây dựng quy hoạch phát triển các
ngành dịch vụ cho các tỉnh thành trong cả nước.
Các lĩnh vực dịch vụ Ban phụ trách nghiên cứu:
+ Khoa học công nghệ
+ Giáo dục
+ Giao thông vận tải
+ Bưu chính viễn thông
+ Thương mại
+ Tài chính ngân hàng
+ Du lịch
+ Và một số ngành dịch vụ khác
13
13
1.1.3.6 Ban nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực và các vấn đề xã
hội.
Nghiên cứu, tổng hợp các kết quả nghiên cứu và xây dựng chiển lược,
quy hoạch phát triển con người, nguồn nhân lực và các vấn đề xã hội trên
phạm vi cả nước và các vùng lãnh thổ; xây dựng các giải pháp đảm bảo thực
hiện chiến lược, quy hoạch phát triển con người, nguồn nhân lực và các vấn
đề xã hội.
Đầu mối tổng hợp, tham mưu các vấn đề liên quan tới quản lý nhà
nước về công tác quy hoạch phát triển con người, nguồn nhân lực và các vấn
đề xã hội.
1.1.3.7 Ban nghiên cứu phát triển vùng
Nghiên cứu, tổng hợp các kết quả nghiên cứu và xây dựng các đề án
chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch sử dụng
đất các vùng lãnh thổ (trong đó có vùng kinh tế xã hội, các vùng kinh tế trọng
điểm, các hành lang kinh tế, các tam giác phát triển, các vùng khó khăn, vùng
ven biển và hải đảo)
Đầu mối tổng hợp, tham mưu các vấn đề liên quan về quản lý nhà nước
đối với công tác quy hoạch vùng lãnh thổ, tỉnh. Xây dựng hệ thống các bản
đồi quy hoạch phục vụ công tác lập quy hoạch.
1.1.3.8 Ban nghiên cứu phát triển hạ tầng
Nghiên cứu, tổng hợp các kết quả nghiên cứu và xây dựng chiên lược,
quy hoạch phát triển hạ tầng của cả nước và trên các vùng lãnh thổ. Đầu mối
tham mưu các vấn đề quản lý Nhà nước liên quan đến lĩnh vực hạ tầng. Tham
gia thẩm định quy hoạch các ngành liên quan.
1.1.3.9 Trung tâm nghiên cứu kinh tế miền Nam
Đầu mối nghiên cứu và đề xuất về chiến lược, quy hoạch tổng thể phát
triển kinh tế- xã hội vùng ở Nam Bộ;
14
14

Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần xi măng Sông Đà

Luận văn tốt nghiệp GVHD. PGS.TS. Nguyễn Minh Phương
loại như sau:
 Chi phí về nguyên vật liệu trực tiếp: Bao gồm toàn bộ chi phí về
nguyên vật liệu chính, phụ, nhiên liệu… tham gia trực tiếp vào việc sản
xuất sản phẩm dịch vụ.
 Chi phí về nhân công trực tiếp: Bao gồm toàn bộ các tiền lương chính,
lương phụ, các khoản trích theo lương như BHXH, BHYT, KPCĐ.
 Chi phí về sản xuất chung: Đây là những chi phí phát sinh trong phân
xưởng sản xuất ( trừ các chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân
công ở trên). Gồm có:
 Chi phí nhân viên phân xưởng.
 Chi phí vật liệu.
 Chi phí công cụ, dụng cụ.
 Chi phí dịch vụ mua ngoài.
 Chi phí khác bằng tiền.
Ưu điểm của phương pháp này là việc làm cơ sở cho việc tổ chức hệ
thống sổ sách, tài khoản kế toán sử dụng cho việc tập hợp phân bổ chi phí
phục vụ công tác tính giá thành. Và đây còn là nguồn cung cấp thông tin cho
các nhà quản trị trong việc quản lý chi phí theo định mức, phân tích tình hình
tài chính thực hiện kế hoạch hạ giá thành và các biện pháp điều chỉnh giá
thành kế hoạch cho hợp lý.
• Phân loại chi phí theo yếu tố chi phí.
Theo như cách phân loại này thì toàn bộ chi phí được chia làm 7 loại sau:
Yếu tố chi phí nguyên liệu, vật liệu: Bao gồm toàn bộ giá trị nguyên vật
liệu chính, phụ, phụ tùng thay thế, công cụ, dụng cụ… sử dụng vào sản xuất kinh
doanh ( loại trừ giá trị vật liệu dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi).
Yếu tố chi phí tiền lương, phụ cấp lương và các khoản trích theo lương:
Bao gồm tổng số tiền lương và phụ cấp lương mang tính chất lương, các
khoản BHXH, BHYT, KPCĐ trích theo quy định phải trả cho công nhân viên.
Bùi Thị Phương Thảo Lớp Kế toán 46A
5
Luận văn tốt nghiệp GVHD. PGS.TS. Nguyễn Minh Phương
Yếu tố khấu hao TSCĐ: Bao gồm tổng số khấu hao tài sản cố định phải
trích trong kỳ của tất cả TSCĐ sử dụng cho sản xuất kinh doanh trong kỳ.
Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài: Bao gồm toàn bộ chi phí dịch vụ
mua ngoài dùng vào sản xuất kinh doanh.
Yếu tố chi phí bằng tiền khác: Bao gồm toàn bộ chi phí khác bằng tiền
chưa phản ánh ở các yếu tố trên dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh
trong kỳ.
Ưu điểm của phương pháp này là phục vụ cho việc tập hợp, quản lý chi
phí theo nội dung kinh tế ban đầu đồng nhất. Nó giúp Doanh nghiệp xây dựng
và phân tích định mức chi phí, vốn lưu động, tạo điều kiện cho các nhà quản
lý lập, kiểm tra, phân tích và dự toán chi phí một cách dễ dàng.
• Phân loại theo cách ứng xử của chi phí.
Theo cách phân loại này thì chi phí được phân loại như sau:
Biến phí: Là những khoản mục phí mà quy mô của chi phí thay đổi tỉ
lệ thuận với biến động về mức độ hoạt động.
Định phí: Là những chi phí không biến đổi khi mức độ hoạt động thay
đổi. Nó chỉ giữ nguyên trong phạm vi phù hợp của Doanh nghiệp.
Chi phí hỗn hợp: Là loại chi phí bao gồm cả yếu tố biến phí lẫn định
phí. Ở mức độ hoạt động cơ bản chi phí hỗn hợp thể hiện các đặc điểm của
định phí, quá mức nó lại thể hiện đặc tính của biến phí.
Ưu điểm của cách phân loại này là cung cấp thông tin phục vụ cho việc
lập kế hoạch kiểm tra và chủ động điều tiết chi phí cho phù hợp. Qua đây, nhà
quản trị sẽ thấy được sự biến động của chi phí có phù hợp với sự biến động
của mức độ hoạt động hay không?
1.1.2.Khái niệm giá thành sản phẩm sản xuất.
1.1.2.1. Khái niệm, bản chất và nội dung kinh tế phát sinh.
Toàn bộ những khoản chi phí phát sinh trong kỳ, kỳ trước chuyển sang
Bùi Thị Phương Thảo Lớp Kế toán 46A
6
Luận văn tốt nghiệp GVHD. PGS.TS. Nguyễn Minh Phương
và các chi phí trích trước có liên quan đến khối lượng sản phẩm, lao vụ, dịch
vụ đã hoàn thành trong kỳ sẽ tạo nên chỉ tiêu giá thành sản phẩm. Bản chất
của giá thành là sự chuyển dịch giá trị của các yếu tố chi phí vào những sản
phẩm được sản xuất và tiêu thụ.
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao
phí về lao động sống và lao động vật hoá mà Doanh nghiệp bỏ ra có liên quan
đến khối lượng sản phẩm lao vụ, dịch vụ hoàn thành trong kỳ.
Giá thành là tấm gương phản chiếu chất lượng của hoạt động sản xuất,
phản ánh kết quả của việc sử dụng các yếu tố đầu vào như vật tư, tiền vốn,
sức lao động vào trong quá trình sản xuất sản phẩm.
1.1.2.2. Phân loại giá thành sản phẩm.
Giá thành là một chỉ tiêu quan trọng đối với công tác quản lý, nó là chỉ
tiêu cơ bản để xác định giá bán sản phẩm của Doanh nghiệp. Giá thành cần
xem xét ở nhiều góc độ khác nhau làm cơ sở để phản ánh kết quả sản xuất
kinh doanh của Doanh nghiệp. Giá thành sản phẩm được phân loại như sau:
Phân loại giá thành theo thời điểm tính và nguồn số liệu:
 Giá thành kế hoạch: Giá thành kế hoạch được xác định trước khi
tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh được xây dựng trên cơ sở
giá thành thực tế kỳ trước và các định mức, các dự toán kỳ kế
hoạch.
 Giá thành định mức: Giá thành định mức cũng giống như giá thành
kế hoạch được xác định trước khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh
doanh.
 Giá thành thực tế: Giá thành thực tế là chỉ tiêu được xác định sau
khi kết thúc quá trình sản xuất sản phẩm trên cơ sở các chi phí phát
sinh trong quá trình sản xuất sản phẩm.
Với cách phân loại này đã giúp cho các nhà quản lý có thể giám sát chi
phí một cách chặt chẽ, xác định được nguyên nhân tăng, giảm định mức chi
Bùi Thị Phương Thảo Lớp Kế toán 46A
7
Luận văn tốt nghiệp GVHD. PGS.TS. Nguyễn Minh Phương
phí trong kỳ hạch toán, để từ đó có những dự toán chính xác hơn về định mức
chi phí cho kỳ sản xuất tiếp theo.
Phân loại theo phạm vi phát sinh chi phí
 Giá thành sản xuất: Là chỉ tiêu phản ánh tất cả những chi phí phát
sinh liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm trong phạm vi
phân xưởng, bộ phận sản xuất, bao gồm chi phí nguyên vật liệu trực
tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung.
 Giá thành toàn bộ: Là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ các khoản chi phí
phát sinh liên quan đến sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Giá thành
toàn bộ bao gồm cả chi phí sản xuất, chi phí bán hàng và chi phí
quản lý phân bổ cho số sản phẩm được tiêu thụ.
Với giá thành toàn bộ, để có thể tính được chính xác cần phải xây dựng
tiêu thức phân bổ chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp một cách
hợp lý.
Mục đích của cách phân loại này là tính được giá thành sản xuất làm
căn cứ ghi sổ thành phẩm nhập kho hoặc tiêu thụ, căn cứ cho việc tính giá vốn
và lãi gộp của Doanh nghiệp.
Giá thành toàn bộ là cơ sở cho việc tính toán kết quả kinh doanh của
từng mặt hàng từng loại dịch vụ kinh doanh.
Dưới đây ta sẽ xem xét mối liên hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành
sản phẩm, chúng có mối liên hệ với nhau như thế nào và mối liên hệ này nói
lên điều gì?
1.1.3. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có một mối liên hệ chặt chẽ với
nhau. Khi nói đến chi phí sản xuất thì người ta thường đề cập đến những yếu
tố chi phí đầu vào cho quá trình sản xuất, phản ánh những mặt hao phí sản
xuất. Còn khi nói đến giá thành sản xuất là người ta thường đề cập mặt chi phí
Bùi Thị Phương Thảo Lớp Kế toán 46A
8
Luận văn tốt nghiệp GVHD. PGS.TS. Nguyễn Minh Phương
đầu ra của quá trình sản xuất.
Sự giống nhau giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm:
Cả hai đều bao gồm những yếu tố chi phí đầu vào mà Doanh nghiệp
sản xuất đã bỏ ra phục vụ sản xuất, tức là đều là sự hao phí về lao động sống
và lao động vật hoá được thể hiện bằng tiền.
Khi tính được chi phí sản xuất trong kỳ sẽ tính được giá thành sản phẩm.
Điểm khác nhau giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm:
Chi phí sản xuất Giá thành sản phẩm
Bao gồm toàn bộ các chi phí trong kỳ
kinh doanh, luôn gắn với một thời kỳ
phát sinh chi phí nhất định (tháng,
quý, năm). Tức là chi phí sản xuất
kinh doanh bao gồm sản phẩm hoàn
thành, sản phẩm dở dang cuối kỳ và
sản phẩm hỏng.
Giá thành sản phẩm chỉ bao gồm
những chi phí có liên quan tới khối
lượng sản phẩm hoàn thành trong kỳ
và nó không liên quan đến sản phẩm
dở dang cuối kỳ và sản phẩm hỏng
nhưng nó có liên quan đến chi phí sản
xuất dở dang cuối kỳ trước chuyển
sang.
Công thức tính giá thành sản phẩm hoàn thành.
Tổng giá
thành sản
xuất sản
phẩm
=
Chi phí sản
xuất dở dang
đầu kỳ
+
Chi phí sản
xuất phát
sinh trong kỳ
(đã trừ các
khoản thu
hồi ghi giảm
chi phí
-
Chi phí
sản xuất
dở dang
cuối kỳ
Giá thành
sản xuất
đơn vị sản
phẩm
=
Tổng giá thành sản xuất
Số lượng sản phẩm hoàn thành
Bùi Thị Phương Thảo Lớp Kế toán 46A
9
Luận văn tốt nghiệp GVHD. PGS.TS. Nguyễn Minh Phương
Sau khi tìm hiểu về khái niệm và mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm ta sẽ tiếp tục tìm hiểu về nội dung hạch toán chi phí
sản xuất như thế nào?
1.2. Hạch toán chi phí sản xuất.
1.2.1. Đối tượng và phương pháp hạch toán chi phí sản xuất.
1.2.1.1. Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất.
Việc xác định đối tượng hạch toán chi phí sản xuất là việc làm đầu tiên
trong công tác tổ chức phần hành kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm. Xác định đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm thực chất là xác định nơi phát sinh chi phí và nơi chịu chi phí.
Để xác định chính xác đối tượng hạch toán chi phí sản xuất các nhà
quản trị cần dựa vào đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất, loại hình sản
xuất, yêu cầu và trình độ quản lý, tổ chức sản xuất kinh doanh. Chi phí sản
xuất kinh doanh cần được tập hợp theo phạm vi và giới hạn nhất định.
Sau khi đã xác định được đối tượng hạch toán chi phí thì công việc tiếp
theo là xác định phương pháp hạch toán chi phí.
1.2.1.2. Phương pháp hạch toán chi phí.
Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất là phương pháp hay hệ thống
các phương pháp được sử dụng để tập hợp và phân loại chi phí sản xuất trong
phạm vi giới hạn của đối tượng hạch toán chi phí sản xuất.
Khi vận dụng các phương pháp hạch toán chi phí sản xuất trong công
tác kế toán hàng ngày chính là việc kế toán mở các sổ chi tiết hạch toán chi
phí sản xuất theo từng đối tượng đã xác định, phản ánh các chi phí phát sinh
có liên quan đến đối tượng tập hợp chi phí theo từng đối tượng.
Mỗi một phương pháp hạch toán chỉ thích hợp với một loại đối tượng
hạch toán chi phí. Dưới đây là các phương pháp cơ bản tập hợp chi phí:
 Phương pháp tập hợp trực tiếp.
Mục đích của phương pháp này là tập hợp các chi phí liên quan đến đối
Bùi Thị Phương Thảo Lớp Kế toán 46A
10
Luận văn tốt nghiệp GVHD. PGS.TS. Nguyễn Minh Phương
tượng tập hợp chi phí đã được xác định để phản ánh vào tài khoản và sổ chi
tiết. Phương pháp này yêu cầu công tác tổ chức hạch toán phải khoa học như
việc tổ chức chứng từ, tài khoản, sổ kế toán. Đây là phương pháp có độ chính
xác cao nên các Doanh nghiệp cần ưu tiên áp dụng phương pháp này.
 Phương pháp tập hợp và phân bổ gián tiếp.
Phương pháp này được sử dụng khi kế toán không thể tổ chức ghi chép
riêng ban đầu cho từng đối tượng tức là chi phí phát sinh liên quan đến nhiều
đối tượng chịu chi phí.
Các chi phí này khi phát sinh được phản ánh trên các chứng từ ban đầu
sau đó được tập hợp theo địa điểm phát sinh hoặc nội dung chi phí.
Để áp dụng hiệu quả phương pháp này thì ta phải lựa chọn tiêu thức
phù hợp để phân bổ.
Hệ số phân bổ
=
Tổng chi phí cần phân bổ
Tổng tiêu thức phân bổ
Mức chi phí phân bổ
cho đối tượng = Hệ số phân bổ *
Tiêu thức phân bổ của
đối tượng i
1.2.2. Nội dung hạch toán chi phí.
1.2.2.1. Hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp bao gồm giá trị nguyên vật liệu chính,
vật liệu phụ, nhiên liệu…sử dụng trực tiếp cho sản xuất, chế tạo sản phẩm.
1.2.2.1.1. Hạch toán theo phương pháp kê khai thường xuyên.
Phương pháp kê khai thường xuyên là phương pháp theo dõi phản ánh
thường xuyên liên tục có hệ thống tình hình nhập, xuất, tồn kho của vật tư
hàng hoá trên sổ kế toán.
Theo phương pháp này trên các tài khoản hàng tồn kho được dùng để
theo dõi số hiện có và tình hình biến động tăng, giảm của vật tư, hàng hoá.
Bùi Thị Phương Thảo Lớp Kế toán 46A
11
Luận văn tốt nghiệp GVHD. PGS.TS. Nguyễn Minh Phương
Phương pháp kê khai thường xuyên được áp dụng cho đơn vị sản xuất,
công nghiệp xây dựng cơ bản và các đơn vị thương mại kinh doanh những
mặt hàng có giá trị lớn.
Tài khoản sử dụng
Để tập hợp các khoản chi phí nguyên vật liệu trực tiếp kế toán sử dụng
tài khoản TK 621 – Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp. Tài khoản này được mở
rộng cho từng đối tượng tập hợp chi phí ( phân xưởng, bộ phận sản xuất, sản
phẩm…)
Tài khoản này cuối kỳ không có số dư.
Kết cấu và nội dung phản ánh của TK 621 – Chi phí nguyên vật liệu
trực tiếp:
Bên Nợ:
Trị giá thực tế nguyên vật liệu xuất dùng trực tiếp cho hoạt động sản
xuất sản phẩm, hoặc thực hiện dịch vụ trong kỳ.
Bên Có:
• Kết chuyển trị giá nguyên liệu, vật liệu thực tế sử dụng cho sản xuất,
kinh doanh trong kỳ vào TK 154 “ Chi phí sản xuất, kinh doanh dở
dang”.
• Giá trị nguyên vật liệu trực tiếp sử dụng không hết nhập lại kho.
• Kết chuyển Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp vượt trên mức bình
thường vào TK 632.
Tài khoản này không có số dư cuối kỳ.
Trình tự hạch toán:
Bùi Thị Phương Thảo Lớp Kế toán 46A
12
Luận văn tốt nghiệp GVHD. PGS.TS. Nguyễn Minh Phương
Sơ đồ 1: Hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (KKTX).

- Khi xuất kho nguyên vật liệu sử dụng cho hoạt động sản xuất sản
phẩm ghi:
Nợ TK 621: Chi tiết theo từng phân xưởng.
Có TK 152: Giá thực tế vật liệu xuất dùng theo từng loại.
- Nguyên vật liệu mua về sử dụng luôn cho sản xuất không nhập vào
kho.
Nợ TK 621: Chi tiết theo từng phân xưởng
Nợ TK 133: Thuế giá trị gia tăng được khấu trừ ( nếu có)
Có TK 331, 111, 112: Vật liệu mua ngoài.
Có TK 411: Nhận cấp phát liên doanh.
Có TK 154: Vật liệu tự sản xuất hoặc thuê ngoài gia công.
Bùi Thị Phương Thảo Lớp Kế toán 46A
13
Giá trị nguyên vật liệu dùng
trực tiếp cho sản xuất.
TK 151,152
TK 621 TK 154
TK 111, 331
Kết chuyển chi phí nguyên
vật liệu trực tiếp.
Giá trị vật liệu dùng trực tiếp
cho sản xuất sản phẩm
TK 133

TK 152
Nhập kho nguyên vật liệu
dùng không hết.
Luận văn tốt nghiệp GVHD. PGS.TS. Nguyễn Minh Phương
- Giá trị vật liệu xuất dùng không hết.
Nợ TK 152: Chi tiết theo từng loại vật tư
Có TK 621: Chi tiết theo từng đối tượng
- Cuối kỳ kết chuyển Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp theo từng đối
tượng để tính giá thành.
Nợ TK 154: Chi tiết theo từng loại vật tư.
Có TK 621: Chi tiết theo từng đối tượng.
1.2.2.1.2. Phương pháp kiểm kê định kỳ.
Phương pháp kiểm kê định kỳ là phương pháp căn cứ vào kết quả kiểm
kê thực tế để xác định trị giá vật tư, hàng hoá tồn cuối kỳ trên sổ kế toán tổng
hợp, từ đó xác định trị giá xuất trong kỳ theo công thức:
Trị giá hàng xuất
trong kỳ
=
Trị giá hàng
tồn đầu kỳ
+
Trị giá hàng
nhập trong kỳ
-
Trị giá hàng
tồn cuối kỳ
Tài khoản sử dụng:
TK sử dụng là TK 611.
Kết cấu tài khoản.
Bên Nợ: Giá thực tế nguyên vật liệu, dụng cụ tồn đầu kỳ ( bao gồm cả
hàng đi đường).
Bên Có:
• Kết chuyển giá thực tế nguyên vật liệu, dụng cụ, hàng hoá tồn
cuối kỳ
• Chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại
• Giá thực tế nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ hàng hoá xuất trong
kỳ.
Tài khoản này không có số dư.
Bùi Thị Phương Thảo Lớp Kế toán 46A
14

Du lịch sinh thái và thực tế phát triển ở Việt Nam

Đề án Kinh tế Du lịch
trên phạm vi toàn thế giới ngời ta đã rút ra nhiều bài học rất có giá trị đóng góp
vào lý luận và hoạt động của loại hình du lịch sinh thái.
Theo đó du lịch sinh thái là loại hình du lịch đặc biệt tổng hợp các mối quan
tâm cảm giác nhiều đến môi trờng thiên nhiên và tìm đến những vùng thiên nhiên
nhiều tiềm năng về môi trờng sinh thái để cải thiện kinh tế, phúc lợi xã hội, sức
khoẻ và hởng thụ, khám phá những cái mới, cái lạ, cái đẹp và sự trong lành của thế
giới tự nhiên , tạo ra mối quan hệ hữu cơ, hoà đồng giữa con ngời với thiên nhiên,
môi trờng đồng thời hành động có ý thức trách nhiệm làm cho thiên nhiên môi tr-
ờng bền vững, phong phú phục vụ trở lại lợi ích của con ngời cả ở hiện tại và tơng
lai.
1.3 Tất yếu về du lịch sinh thái tại Việt Nam
Phát triển du lịch sinh thái là một xu thế tất yếu. Du lịch sinh thái phát triển
nhằm thoả mãn nhu cầu ngày một tăng của khách du lịch, của cộng đồng. Nhu cầu
này liên quan chặt chẽ đến sự phát triển không ngừng của xã hội, đảm bảo về tổng
thể một tơng lai phát triển lâu dài của hệ sinh thái, với t cách là một ngành kinh tế.
Bên cạnh xu thế phát triển du lịch sinh thái do nhu cậu khách quan, xu thế này còn
không nằm ngoài xu thế chung về phát triển xã hội của loài ngời khi các giá trị tài
nguyên ngày càng bị suy thoái, khai thác cạn kiệt.
Việt Nam là một đất nớc nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nằm
hoàn toàn trong vòng đai nhiệt đới của nửa cầu bắc, thiên về chí tuyến hơn là phía
xích đạo. Vị trí đó đã tạo nên một nền nhiệt độ cao, độ ẩm không khí cao, ma
nhiều. Việt Nam có đờng bờ biển dài hơn 3000km, lng dựa vào dãy Trờng Sơn.
Chính các điều kiện đó đã mang lại cho Việt Nam một hệ động thực vật vô cùng
phong phú, đa dạng và độc đáo. Kết hợp vào đó có rất nhiều nét văn hoá dân tộc
đặc sắc, đậm đà. Những yếu tố đó đã tạo nên cho Việt Nam một lợi thế to lón
trong việc phát triển loại hình du lịch sinh thái. Cùng với việc nỗ lực bảo tồn, khai
thác phát huy các giá trị tài nguyên thiên nhiên và văn hoá phục vụ phát triển kinh
tế thông qua du lịch sinh thái là một xu thế tất yếu. Với t cách là một ngành kinh
tế mũi nhọn - Du lịch trong đó có Du lịch sinh thái ngày càng khẳng định vị thế
của mình đối với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nớc.
Đề án Kinh tế Du lịch
1.4 Những yêu cầu và nguyên tắc cơ bản để phát triển du lịch sinh thái
1.4.1 Những yêu cầu cơ bản để phát triển du lịch sinh thái
Yêu cầu đầu tiên để có thể tổ chức đợc du lịch sinh thái là sự tồn tại của các
hệ sinh thái tự nhiên điển hình với tính đa dạng sinh thái cao. Sinh thái tự nhiên đ-
ợc hiểu là sự cộng sinh của các điều kiện địa lý, khí hậu và động thực vật, bao
gồm: sinh thái tự nhiên (natural ecology), sinh thái động vật (animal ecology),
sinh thái thực vật (plant ecology), sinh thái nông nghiệp ( agri-cultural ecology),
sinh thái khí hậu ( ecoclimate) và sinh thái nhân văn (human ecology).
Đa dạng sinh thái là một bộ phận và là một dạng thứ cấp của đa dạng sinh
học, ngoài thứ cấp của đa dạng di truyền và đa dạng loài. Đa dạng sinh thái thể
hiện ở sự khác nhau của các kiểu cộng sinh tạo nên các cơ thể sống, mối liên hệ
giữa chúng với nhau và với các yếu tố vô sinh có ảnh hởng trực tiếp hay gián tiếp
lên sự sống nh : đất, nớc, địa hình, khí hậu đó là các hệ sinh thái (eco-systems)
và các nơi trú ngụ, sinh sống của một hoặc nhiều loài sinh vật (habitats) (Theo
công ớc đa dạng sinh học đợc thông qua tại Hộ nghị thợng đỉnh Rio de Jannero về
môi trờng).
Nh vậy có thể nói du lịch sinh thái là một loại hình du lịch dựa vào thiên
nhiên (natural - based tourism) (gọi tắt là du lịch thiên nhiên), chỉ có thể tồn tại và
phát triển ở những nơi có các hệ sinh thái điển hình với tính đa dạng sinh thái cao
nói riêng và tính đa dạng sinh học cao nói chung. Điều này giải thích tại sao hoạt
động du lịch sinh thái thờng chỉ phát triển ở các khu bảo tồn thiên nhiên ( natural
reserve), đặc biệt ở các vờn quốc gia (national park), nơi còn tồn tại những khu
rừng với tính đa dạng sinh học cao và cuộc sống hoang dã. tuy nhiên điều này
không phủ nhận sự tồn tại của một số loại hinh du lịch sinh thái phát triển ở những
vùng nông thôn ( rural tourism ) hoặc các trang trại ( farm tuorism) điển hình.
Yêu cầu thứ hai có liên quan đến những nguyên tắc cơ bản của du lịch
sinh thái ở 2 điểm:
- Để đảm bảo tính giáo dục, nâng cao đợc sự hiểu biết cho khách du lịch
sinh thái, ngời hớng dẫn ngoài kiến thức ngoại ngữ tốt còn phải là ngời am hiểu
cac đặc điểm sinh thái tự nhiên và văn hoá cộng đồng địa phơng. Điều này rất
quan trọng và có ảnh hởng rất lớn đến hiệu quả của hoạt động du lịch sinh thái,
khác với những loại hình du lịch tự nhiên khác khi du khách có thể tự mình tìm
hiểu hoặc yêu cầu không cao về sự hiểu biết này ở ngời hớng dẫn viên. trong nhiều
trờng hợp, cần thiết phải cộng tác vói ngời dân địa phơng để có đợc những hiểu
Đề án Kinh tế Du lịch
biết tốt nhất, lúc đó ngời hớng dẫn viên chỉ đóng vai trò là một ngời phiên dịch
giỏi.
- Hoạt động du lịch sinh thái đòi hỏi phải có đợc ngời điều hành có nguyên
tắc. Các nhà điều hành du lịch truyền thống tờng chỉ quan tâm đến lợi nhuận và
không có cam kết gì đối với việc bảo tồn hoặc quản lý các khu tự nhiên, họ chỉ
đơn giản tạo cho khách du lịch một cơ hội để biết đợc những giá trị tự nhiên và
văn hoá trớc khi những cơ hội này thay đổi hoặc vĩnh viễn mất đi. Ngợc lại, các
nhà điều hành du lịch sinh thái phải có đợc sự cộng tác với các nhà quản lý các
khu bảo tồn thiên nhiên và cộng đồng địa phơng nhằm mục đích đóng góp vào
việc bảo vệ một cách lâu dai các giá trị tự nhiên và văn hoá khu vực, cải thiện cuộc
sống, nâng cao sự hiểu biết chung giữa ngời dân địa phơng và du khách.
Yêu cầu thứ ba nhằm hạn chế tới mức tối đa các tác động có thể của hoạt
động du lịch sinh thái đến tự nhiên và môi trờng, theo đó du lịch sinh thái cần đợc
tổ chức với sự tuân thủ chặt chẽ cá quy định về sức chứa. Khái niệm sức
chứa đợc hiểu từ bốn khía cạnh: vật lý, sinh học, tâm lý và xã hội. Tất cả những
khía cạnh này có liên quan tới lợng khách đến một địa điểm vào cùng một thời
điểm.
Đứng trên góc độ vật lý, sức chứa ở đây đợc hiểu là số lợng tối đa khách du
lịch mà khu vực có thể tiếp nhận. Điều này liên quan đến những tiêu chuẩn về
không gian đối vớ mỗi du khách cũng nh nhu cầu sinh hoạt của họ.
Đứng ở góc độ xã hội, sức chuuas là giói hàn về lợng du khách mà tại đó
bắt đầu xuất hiện những tác động tiêu cực của các hoạt động du lịch đến đời sống
văn hoá-xã hội, kinh tế-xã hội của khu vực. Cuộc sống bình thờng của cộng đồng
địa phơng có cảm giác bị phá vỡ, xâm nhập.
Đứng ở góc độ quản lý, sức chứa đợc hiểu là lợng khách tối đa mà khu du
lịch có khả năng phục vụ. Nếu lợng khách vợt quá giói hạn này thì năng lực quản
lý ( lực lợng nhân viên, trình đọ và phơng tiện quản lý ) của khu du lịch sẽ
khhong đáp ứng đợc yêu cầu của khách, làm mất khả năng quản lý và kiểm soát
hoạt động của khách, kết quả là sẽ làm ảnh hởng đến môi trờng và xã hội.
Do khái niệm sức chứa bao gồm cả định tính và định lợng, vì vậy khó có thể
xác định một con số chính xác cho mỗi khu vực. Mặt khác, mỗi khu vực khác
nhau sẽ có chỉ số sức chứa khác nhau. Các chỉ số này chỉ có thể xác định một cách
tơng đối bằng phơng pháp thực nghiệm.
Một điểm cần phải lu ý trong quá trình xác định sức chứa là quan niêm về
sự đông đúc của các nhà nghiên cứu có sự khác nhau, đặc biệt trong những điều
Đề án Kinh tế Du lịch
kiện phát triển xã hội khác nhau ( ví dụ giữa các nớc châu á và châu Âu, giữa các
nớc phát triển và đang phát triển ). rõ ràng để đáp ứng yêu cầu này, cần phải tiến
hành nghiên cứu sức chứa của các địa điểm cụ thể để căn cứ vào đó mà có các
quyết định về quản lý. Điều này cần đợc tiến hành đối với các nhóm đối tợng
khách/thị trờng khác nhau, phù hợp tâm lý và quan niệm của họ. Du lịch sinh thái
không thể đáp ứng đợc các nhu cầu của tất cả cũng nh mọi loại khách.
Yêu cầu thứ t là thoả mãn nhu cầu nâng cao kiến thức và hiểu biết của khách
du lịch. Việc thoả mãn mong muốn này của khách du lịch sinh thái về những kinh
nghiêm, hiểu biết mới đối với tự nhiên, văn hoá bản địa thờng là rất khó khăn,
song lại là yêu cầu cần thiết đối với sự tồn tại lâu dài của ngành du lịch sinh thái.
Vì vậy, những dịch vụ để làm hài lòng du khách có vị trí quan trọng chỉ đứng sau
công tác bảo tồn những gì mà họ quan tâm.
1.4.2 Những nguyên tắc cơ bản để phát triển du lịch sinh thái.
Thị trờng du lịch sinh thái hiện nay đang phát triển mạnh so với các thi trờng
khác. Song sự phát triển nhanh chóng này đe doạ tính bền vững của du lịch sinh
thái và mở rộng ra những cái có thể đóng góp cho sự phát triển bền vững. Du lịch
sinh thái bản thân nó bị giới hạn phạm vi, mức độ phát triển. Nó không thể tiếp
nhận một số lợng lớn du khách mà không phải là nguyên nhân dần dần làm thay
đổi dẫn đến sự phá huỷ lý do mà nó tồn tại. Vì vậy vấn đề trọng tâm trong việc
phát triển du lịch sinh thái bền vững là sự kiểm soát hạn chế những nguyên tắc sử
lý và thực hiện.
Du lịch sinh thái bền vững đóng góp tích cực cho sự phát triển bền vững.
Điều đó không có nghĩa là luôn có sự tăng trởng liên tục về du lịch. Đây là điểm
khác biệt cần nhấn mạnh trong thời điểm mà Việt nam bắt đầu lo lắng về tốc độ
tăng trởng của du lịch .
Du lịch sinh thái đợc phân biệt với các loại hình du lịch thiên nhiên khác về
mức độ giáo dục cao về môi trờng và sinh thái thông qua những hớng dẫn viên có
nghiệp vụ lành nghề. Du lịch sinh thái chứa đựng mối tác động qua lậi lớn giữa
con ngời và thiên nhiên hoang dã cộng với ý thức đợc giáo dục nhằm biến chính
những khách du lịch thành những ngời đi đầu trong việc bảo vệ môi trờng. Phát
triển du lịch sinh thái làm giảm tối thiểu tác động của khách du lịch đến văn hoá
và môi trờng, đảm bảo cho địa phơng đợc hởng nguồn lợi tài chính do du lịch
mang lại và cần trú trọng đến những đóng góp tài chính cho việc bảo tồn thiên
nhiên.
Đề án Kinh tế Du lịch
Sau đây là những nguyên tắc cơ bản về thế nào là du lịch sinh thái thực sự
- Du lịch sinh thái phải phù hợp với những nguyên tắc tích cực về môi trờng,
tăng cờng và khuyến khích trách nhiêm đạo đức đối với môi trờng tự nhiên .
- Du lịch sinh thái là không đợc làm tổn hại đến tài nguyên, môi trờng, những
nguyên tắc về môi trờng không những chỉ áp dụng cho những nguồn tài nguyên
bên ngoài (tự nhiên và văn hoá) nhàm thu hút khách mà còn bên trong của nó.
- Du lịch sinh thái phải tập trung vào các giá trị bên trong hơn là các giá trị
bên ngoài và thúc đẩy sự công nhận các giá trị này .
- Các nguyên tắc về môi trờng và sinh thái cần phải đạt lên hàng đầu do đó
mỗi ngời khách du lịch sinh thái sẽ phải chấp nhận tự nhiên theo đúng nghĩa của
nó và chấp nhận sự hạn chế của nó hơn là làm biến đổi môi trờng cho sự thuận tiện
cá nhân.
- Du lịch sinh thái phải đảm bảo lợi ích lâu dài đối với tài nguyên, đối với địa
phơng và đối với nghành (lợi ích về bảo tồn hoặc lợi ích về kinh tế, văn hoá, xã hội
hay khoa học ).
- Du lịch sinh thái phải đa ra những kinh nghiệm đầu tay khi tiếp xúc với môi tr-
ờng tự nhiên, đó là những kinh nghiêm đợc hoà đồng làm tăng sự hiểu biết hơn là đi
tìm cái lạ cảm giác mạnh hay mục đích tăng cờng thể trạng cơ thể.
- ở đây những kinh nghiệm có tác động lớn và có nhận thức cao nên đòi hỏi
sự chuẩn bị kỹ càng của cả ngời hớng dẫn và các thành viên tham gia .
- Cần có sự đào tạo đối với tất cả các ban nghành chức năng: địa phơng,
chính quyền, tổ chức đoàn thể, hãng lữ hành và các khách du lịch (trớc, trong và
sau chuyến đi).
- Thành công đó phải dựa vào sự tham gia của địa phơng, tăng cờng sự hiểu
biết và sự phối hợp với các ban nghành chức năng.
- Các nguyên tắc về đạo đức, cách ứng sử và nguyên tắc thực hiện là rất quan
trọng. Nó đòi hỏi cơ quan giám sát của nghành phải đa ra các nguyên tắc và các
tiêu chuẩn đợc chấp nhận và giám sát toàn bộ các hoạt động.
-Là một hoạt động mang tính chất quốc tế, cần phải thiết lập một khuôn khổ
quốc tế cho ngành.
Đề án Kinh tế Du lịch
Chơng 2
Thực tế phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam
2.1 Một số điểm du lịch sinh thái đáng chú ý ở Việt Nam
Trong vùng du lịch phía Bắc và Bắc Trung Bộ có điều kiện hình thành tuyến
du lịch sinh thái phía Đông Bắc từ thành phố Hà Nôi-Bắc Ninh-Bắc Cạn-Lạng
Sơn-Cao Bằng phong phú và đa dạng về yếu tố sinh thái vốn có của đất nớc. Chiều
dài của tuyến du lịch khá thuận tiện về đờng bộ, những năm gần đây nhiều đờng
xá đã đợc nâng cấp hoàn chỉnh nh đờng quốc lộ mới, đờng 32 v.v Về mặt lu trú
của du khách cũng có các khách sạn với tiện nghi hiện đại. Nhiều tổ chức lữ hành ,
phục vụ thông tin liên lạc, quảng bá v.v các Sở Du lịch, các công ty kinh doanh
du lịch về các làng bản, nhân dân địa phơng trên tuyến điểm du lịch đã có kinh
nghiệm tốt đảm bảo niềm tin gây cảm tình đối với du khách. Tuyến du lịch có thể
tổ chức dài từ 4-5 ngày đối với toàn tuyến, tuy nhiên có thể tuỳ theo yêu cầu của
du khách mà có thể phân thành một tuyến nhất định.
Điều đáng mừng là những năm gần đây nhiều tỉnh, thành trong cả nớc đã h-
ởng ứng tích cực loại hình du lịch sinh thái. Loại hình du lịch này bớc đầu đã đợc
chú ý đầu t để thu hút nhiều khách tham quan, đồng thời hình thành và phát huy
chất lợng phục vụ của các tuor du lịch làm cho du khách thấy thoải mái, chủ động.
Sở Du lịch tỉnh Hà Tây đã mở thêm các tour du lịch sinh thái vờn lồng ghép
các tour du lịch làng nghề nh vuờn sinh thái ở Chơng Mỹ, ở Thờng Tín, khu du
lịch sinh thái Song Phơng, trang trại sinh thái Vân Canh ở Hoài Đức, vờn có Ngọc
Nhị ở Ba Vì v.v
ở Khánh Hoà củng mở các tour du lịch mới đa du khách đến khu vực Đầm
Môn , bãi tắm Xuân Đừng ở vịnh Văn Phong v.v các du khách boi thuyền trên
vịnh, thăm một số bãi biển trên vịnh, thăm làng nghề Hà Đằng từ nhiều năm còn
cách biệt với đất liền, thởng ngoạn Dốc Lết, tắm suối nớc nóng Tháp Bà v.v
Huyện Sa Pa nằm sâu trong rìa Tây Nam , là huyện từ khi ra đời đợc coi là
vùng khí hậu ôn đới đặc biệt của Việt Nam. đây là điểm du lịch sinh thái rất hấp
dẫn đối với khách du lịch trong và ngoài nớc.
Trong vùng du lịch Nam Trung Bộ và Nam Bộ cần phải kể đến tiểu vùng
(hoặc khu vực) du lịch Cần Thơ có các yếu tố sinh thái đặc trng mà các tỉnh trong
vùng này khó hội đủ. Tình này là vùng đất màu mỡ của đồng bằng sông Cửu
Long, nên ngày từ thời còn thuộc Pháp ngời dân Nam Bộ đã mệnh danh Cần Thơ
Đề án Kinh tế Du lịch
là Tây Đô. ở đây chính quyền thực dân đã bố trí đầy đủ quyền lực để củng cố địa
vị độc tôn của họ về mặt chính trị-hành chính; còn về kinh tế xã hội cũng sớm phát
triển. Là tâm điểm thu hút nhà buôn, nhà đầu t, nhà khoa học, nhà văn hoá do các
yếu tố sinh thái đa dạng của Cần Thơ vốn sẵn u thế về địa lý, giao thông, về thơng
mại, cả về du lịch nữa.
Riêng về địa lý tự nhiên ở đây là hàng trăm dòng kênh, dòng rạch trên hàng
ngàn km chằng chịt bồi đắp phù sa màu mỡ của sông Hậu cho các cánh động, đảm
bảo năng suất cây lúa của miền Nam. Các khu vờn cây trái theo mùa vụ trĩu quả,
đậm đà hơng vị riêng biệt nh bởi, ổi, chôm chôm, quýt đờng, cam sành, sầu riêng,
xoài cát, đu đủ, măng cụt, mận, nhẵn v.v Cùng các khu vờn nhà của các hộ dân
c nông trờng Sông Hậu trên diẹn tích 7000 ha vừa gieo trồng các giống lúa mới đạt
năng suất cao, có chất lợng, các dòn rạch với hai bờ xanh cây bạch đàn và các loại
cây ăn quả về mô hình kinh tế sinh thái độc đáo Ruộng , vờn, ao, chuồng tiêu
biểu v.v
Sự hấp dẫn về du lịch sinh thái của vung Cần Thơ làm cho du khách trong cac
tuor du lịch cùng với việc tham quan cac yếu tố kinh tế xã hội đa dạng phong phú
đã tăng liên tục từ năm 2000 góp phần vào số doanh thu của ngành du lịch của
Việt Nam.
Từ năm 2002 ở Củ Chi thuộc thành phố HCM đã bắt đầu đón khách đến nghỉ
mát ở khu du lịch thuộc xã Nhân Đức trên diện tích rộ đến 180 ha gồm 3 khu vực :
một khu du lịch 25 ha gồm nhà lu niệm, vờn hoa, khu vui chơi trên nớc, khu các
bộ tộc Bana, Chơ Ro, Mờng, khu nhà hàng v.v khu thứ 2có các trại gia cầm, trại
cá gồm 19 ao với diện tích khoảng 20.000 m2 nuôi trên 1.000.000 vịt anh đào, có
diện tích riêng nuôi cá rô phi, cá chép Khu thứ 3 rộng trên 100ha trồng thuần
cây giống nhập từ Đài Loan là cây Ma-li-ba-lu có gốc từ Nam Mỹ đợc mệnh danh
là cây phát tài để xuất khẩu.
Sở Du lịch thành phố Hồ Chí Minh quan tâm đầu t loại hình du lịch sinh thái
trong kế hoạch 5 năm 2001-2005, trong đó có quy hoạch tổng thể phát triển du
lịch sinh thái Cần Giờ, ghuẩn bị xây dựng một cầu cảng du lịch tại Bình Thung ở
quận 7 để phát triển du lịch bằng đờng biển và đờng sông, tiếp tục triển khai kế
hoạch phát triển du lịch sinh thái ở khu vực Tây-Bắc thành phố cùng với dự án
hình thành khu phố văn hoá-dịch vụ-du lịch ngời Hoa ở quận 5. Đồng thời trong
kế hoạch 2001-2010 nhằm phát triển loại hinh du lịch sinh thái - mô hình rất cần
thiết, các nhà quản lý du lịch ở thành phố Hồ Chí Minh còn liên kết mật thiết với
một số tỉnh nh Quảng Nam, Bình Thuận, Tây Nguyên v.v để thu hút du khách
thực hiện các tour du lịch sinh thái.
Đề án Kinh tế Du lịch
Cách trung tâm thành phố Hồ Chí Minh khoảng 19 km về phía Bắc thuộc ph-
ờng Tân Phú ở quận 9, Khu du lịch Suối Tiên có diện tích khoảng 100 ha từ năm
1999 đã trở thành một điểm hẹn du lịch mới ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ. Vốn
là một nơi hoang dã có một dòng suối nhỏ chảy qua từ nhiều năm trớc cho đến
mãi cuối năm 1995 các nhà quản lý của Công ty xuất nhập khẩu lâm sản, mỹ
nghệ, thơng mại và du lịch Suối Tiên về phát triển du lịch nên đã thống nhất nhạnh
dạn hợp tác đầu t thành điểm du lịch sinh thái.
ở điểm này có các công trình nh Đền Vua Hùng, cổng Thần Tiên, Cầu Kiệu,
cung Kỳ Lân, Giếng Mỵ nơng v.v là những cảnh quan nghệ thuật gọi cho du
khách về truyền thống hào hùng của dân tộc Việt Nam. Gần đấy có khu vui chơi
giải trí cùng với hệ thống cáp treo từ trên cao nhìn xuống công trình Long - Lân -
Quy - Phụng nên khu Suối Tiên đợc ngời đơng thời gọi là vùng đất tứ linh.
Trong năm 2002 công trình biển Tiên Đồng bao bọc cả dãy núi gọi là Giả
Sơn cùng những di tích văn hoá sinh thái là nui Lạc Long Quân đối diện với nui
Âu Lạc v.v Phía bên trong các dãy Giả Sơn có những hang động mô phỏng các
hang động nh Phong Nha, Nam thiên đệ nhất Động v.v Khi du khách leo đến
bậc đá cuối cùng ở núi Lạc Long Quân là nhìn thấy cảnh quan bát ngát của thành
phố Hồ Chí Minh.
ở làng du lịch sinh Xi-Va tại Mũi Né, Phan Thiết do công ty du lịch Than
Niên thành phố Hồ Chí Minh và công ty lơng thực tỉnh Bình Thuận đã đầu t trên
diện tích ở bãi Mũi Né sát biển dới các hàng phi lao thoáng mát cùng gió biển
gồm các nhà nghỉ bằng bê tông kết hợp các loại vật liệu dân tộc nh gỗ, mây, tre,
dừa, trang trí phù điêu bằng thạch cao, bằng gạch men theo phong cách cổ truyền
bộ tộc Chăm-Pa. Trong các tháng đầu năm 2003 này các nhà quản lý làng nghỉ
mát Xi-Va lần lợt tổ chức các chuyến đi cho du khách dạo chơi bằng ca-nô, đánh
bắt hải sản, tham quan tìm hiểu các hòn đảo gần kề. Thăm quan tìm hiểu các hòn
đảo gần kề, thăm làng thổ cẩm, làng gốm Chăm. Các tiết mục múa Chăm có trình
diễn các nhạc cụ Chăm làm cho du khách có dịp thuận tiện tìm hiểu thởng thức
các nét văn hoá đặc sắc của bộ tộc Chăm v.v
Huyện Cam Ranh thuộc tỉnh Khánh Hoà cũng đang triển khai các dự án phát
triển loại hình du lịch sinh thái nh dự án khu du lịch sinh thái Bãi Dài, dự án khu
du lịch sinh thái thuộc công ty trách nhiệm hữu hạn du lịch- địa ốc Hồng Hà, khu
du lịch Cam Ranh thế kỷ XXI. Tại vịnh Văn Phong du khách thồng bơi thuyền
thăm các bãi biển gần nh nguyên sơ, thăm làng Hà Đằng từ nhiều năm vẫn còn
cách biệt với đất liền, thởng ngoạn dốc Lết, tắm suối nớc nóng Tháp Bà
Đề án Kinh tế Du lịch
Cùng với các hang động nh đã liệt kê điển hình ở một số nơi trong hệ sinh
thái rừng-núi-hang động của Việt Nam có trên 400 suối nớc nóng Kim Bôi ở tỉnh
Hoà Bình, suối nớc nóng Hội Vân ở tỉnh Bình Định v.v Đồng thời không ít vùng
còn có nhiều thác nớc mát nổi tiếng nh thác Mơ nằm giữa khu bảo tồn thiên nhiên
Nà Hang cách thị xã Tuyên Quang 100 km tạo nên một cảnh quan hấp dẫn; thác
Bản Giốc ở huyện Trùng Khánh tỉnh Cao Bằng trên dòng sông Quầy Sơn chảy
vòng quanh lãnh thổ Việt Nam đến xã Đàm Thuỷ và từ độ cao trên 30m dòng nớc
trắng xoá đổ xuống qua các bậc đá vôi. Tại tỉnh Bắc Kạn có thác Đầu Đẳng cách
hồ Ba Bể khoảng 3km. Tỉnh Nghệ An có thác Khe Kẻm trong khu bảo tồn thiên
nhiên Pù Mạt thuộc huyện Côn Cờng. Tỉnh Gia Lai có thác Xung Khoeng thuộc
huyện Ch Pờ Rông. Tỉnh Đắc Lắc có thác Drây Sáp. Tỉnh Lâm Đồng có thác
Prenn, thác Pong Gua, thác Đam-bờ Ri, thác Cam Ly, thác Đan Ta La, thác Gou
Gah v.v cũng cách thành phố Đà Lạt chừng 7 km về phía Đông-Bắc từ thời Pháp
có thung lũng khá đẹp do một số du khách nớc này đặt tên là Thung Lũng Tình
Yêu (Valléc damour) có một cảnh hồ rộng chừng 6 ha với cai tên là hồ Đa Thiện
đợc du khách, đặc biệt là giới trẻ thờng đến vãn cảnh đẹp.
Cùng với các loại tài nguyên du lịch tự nhiên, Việt Nam còn có nhiều di sản
văn hoá lịch sử cổ đại, hiệ đại quý mà các loại hình du lịch cần khai thác để phát
triển du lịch sinh thái. Lịch sử lâu đời của đất nớc cho thấy trớc khi có nhà nớc
khoảng 2000-4000 năm những ngời tiền sử đã sống, hái lợm, lao động sản xuất,
phát triển tập quán, phong tục và để lại những di chỉ có giá trị. Tiếp theo các thế
hệ liên tục vừa xây dựng nền kinh tế, phát triển đời sống vật chất và tinh thần,
không ngừng đấu tranh bảo vệ nền độc lập của đất nớc làm cho các di sản văn hoá
phát triển vừa đa dạng, vừa độc đáo. kho tàng tài nguyên du lịch về di sản văn hoá
phi vật thể và những tài nguyên văn hoá đơng đại nói chung quả là lớn góp phần
tạo thêm cơ sở vật chất ổn định để ngành du lịch có điều kiện khai thác, bảo tồn
nhằm góp phần tích cực, có hiệu quả vào sự tăng trởng của nền kinh tế đất nớc.
Tính ra trong cả nớc từ miền xuôi đến miền ngốcc đến hàng ngàn tục lễ đậm
đà tính chất truyền thông xã hội - nhân văn biểu hiện rõ tình cảm quý giá đối với
các nhân vật anh hùng, liệt sỹ có công. Nhng nói chung đều ghi nhớ những đóng
góp vô giá của các tiền nhân lịch sử và là những di sản văn hoá phi vật thể mà 54
dân tộc anh em VIệt Nam rất tự hào.
Các lễ hội đều thờng diễn ra vào các tháng đầu năm âm lịch; có lễ hội kéo dài
qua nhiều ngày. Nếu đúng dịp diễn ra lễ hội mà có các đoàn khách trong các tuor
du lịch thì quả là cơ hội hiếm có đối với họ. Các du khách có thể hoà nhịp cùng lễ
Đề án Kinh tế Du lịch
hội, những giọng hát chân thành, êm dịu, cùng tham gia các diệu múa v.v là
chắc chắn khi về họ mãi nhớ những buổi hội ngộ lắng đọng đối với họ.
2.2 Tiềm năng để phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam
Với 107 khu rừng đặc dụng với tổng diện tích 2.381.791 ha, trong đó có 12
Vờn quốc gia, 61 khu bảo tồn thiên nhiên và 34 khu rừng văn hoá, lịch sử nên Việt
Nam có lợi thế hơn nhiều nớc trong khu vực trong việc phát triển du lịch sinh thái.
Hệ sinh thái ở Việt Nam bao gồm 12 loại điển hình:Hệ sinh thái rng nhiệt đới
;Hệ sinh thái rừng rậm gió mùa ẩm thờng xanh trên núi đá vôi ; Hệ sinh thái rừng
khô hạn.; Hệ sinh thái núi cao; Hệ sinh thái đất ngập nớc; Hệ sinh thái đầm lầy;
Hệ sinh thái đầm phá; Hệ sinh thái san hô; Hệ sinh thái ngập mặn ven biển;Hệ
sinh thái biển - đảo Hệ sinh thái cát ven biển; Hệ sinh thái nông nghiệp.
Việt Nam có 350 loài san hô, trong đó có 95 loài ở vùng biển phía Bắc và
225 loài ở vùng biển phía Nam. Bên cạnh 60 vạn ha đất cát ven biển, trong đó có
77.000 ha hệ sinh thái cát đỏ tập trung tại Bình Thuận, Ninh Thuận và các tỉnh
duyên hải Trung bộ, Việt Nam còn có thêm 10 triệu ha đất ngập mặn ẩn chứa
nhiều hệ sinh thái điển hình có giá trị cao về khoa học và du lịch với Đồng Tháp
Mời là vùng ngập nớc tiêu biểu cho khu vực Đông Nam á. Hệ thống rừng đặc
dụng và rừng ngập mặn Việt Nam thuộc loại rừng giàu có về tính đa dạng sinh học
với 12.000 loài thực vật ( 1.200 loài đặc hữu). 15.575 loài động vật (172 loài đặc
hữu). Với tiềm năng phong phú và đa dạng, nên ngay từ thời gian đầu của quá
trình đổi mới đất nớc, việc phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam đã đợc coi
trọng. Nếu nh năm 1994 mới chỉ có 320 ngàn lợt khách quốc tế đến các vùng tự
nhiên ở Việt Nam thì đến năm 1999 con số tơng ứng đã lên đến 620 ngàn và dự
tính 1triệu lợt khách cho cả năm 2000. Bên cạnh đó hàng năm cũng có thêm 3.5
đến 5 triệu lợt khách du lịch nội địa ghé các vùng tự nhiên. nhờ vậy doanh thu của
hoạt động du lịch sinh thái tại các khu bảo tồn thiên nhiên cũng nh vùng đệm hiện
chiếm khoảng 25-30% trong tổng số doanh thu hàng năm của ngành du lịch. Số
liêu này la đợc tham khảo từ tài liệu tạp chí du lịch Việt Nam
Hiện nay ngành du lịch Việt Nam đang gấp rút hoàn thiện công tác điều tra
cơ bản quy hoạch những vùng tiềm năng nh Ba Bể, Cát Bà, Cúc Phơng, Nam Cát
Tiên, Yok đôn, Côn Đảo, Bình Châu-Phớc Bửu
Tổ chức không gian hoạt động du lịch sinh thái trong các khu bảo tồn ở Việt
Nam sẽ đợc phân thành 7 cụm vùng tiêu biểu. Không gian du lịch sinh thái vùng
nui và ven biều Đông Bắc bao gồm một phần các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc
Cạn, Bắc Thái. Các hệ sinh thái điển hình và có giá trị cao đợc chọn khu vực này
là khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Sơn, Hữu Liên ( Lạng Sơn), rừng văn hoá lịch sử

đặc điểm của các địa danh thuộc huyện võ nhai (thái nguyên) từ góc độ văn hoá.pdf

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

4
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 8
I. TÍNH THỜI SỰ CỦA ĐỀ TÀI 8
II. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGIÊN CỨU 9
1. Mục đích nghiên cứu 9
2. Nhiệm vụ nghiên cứu 9
III. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ 10
1. Tình nghiên cứu địa danh trên thế giới 10
2. Tình hình nghiên cứu địa danh ở Việt Nam 12
3. Vấn đề nghiên cứu địa danh của Võ Nhai 15
IV. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 15
1. Đối tƣợng nghiên cứu 15
2. Phạm vi nghiên cứu 16
V. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN 16
VI. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
VII. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN 17
Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VỀ ĐỊNH DANH VÀ
ĐỊA DANH HỌC 18
1.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐỊNH DANH NGÔN NGỮ 18
1.2. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT VỀ ĐỊA DANH 21
1.2.1. Định nghĩa về địa danh 21
1.2.2. Phân loại địa danh theo tiêu chí tự nhiên và không tự nhiên 22
1.2.3. Vị trí địa danh học trong ngôn ngữ học 23
1.2.4. Hƣớng tiếp cận và phát triển khi nghiên cứu địa danh Việt Nam . 24
1.3.ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐỊNH DANH NÓI CHUNG VÀ ĐỊA DANH NÓI RIÊNG 24
1.3.1. Về nguồn gốc của các định danh 24
1.3.2. Về kiểu ngữ nghĩa của các định danh 25
1.3.3. Cách thức biểu thị của các định danh 26
1.4. TIỂU KẾT CHƢƠNG 1 29
Chƣơng 2: NHỮNG ĐẶC ĐIỂM ĐỊNH DANH CỦA ĐỊA DANH
VÕ NHAI 31
2.1. VẤN ĐỀ TƢ LIỆU THỰC TẾ CỦA ĐỊA BÀN, ĐỊA DANH VÕ NHAI 31
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

5
2.1.1. Điều kiện tự nhiên và xã hội của huyện Võ Nhai 31
2.1.2. Phân loại địa danh Võ Nhai theo tiêu chí tự nhiên- không tự nhiên . 37
2.2. ĐẶC ĐIỂM ĐỊNH DANH CỦA CÁC ĐỊA DANH THUỘC VÕ NHAI 39
2.2.1. Xét theo nguồn gốc ngôn ngữ 39
2.2.2. Đặc điểm của các địa danh thuộc Võ Nhai xét theo kiểu ngữ
nghĩa của chúng 43
2.2.3. Đặc điểm của các địa danh thuộc Võ Nhai xét theo cách thức biểu thị
của chúng 44
2.2.4 Đặc điểm việc chọn đặc trƣng làm cơ sở cho việc đặt các địa danh
thuộc Võ Nhai 51
2.3. KIỂU MÔ HÌNH CẤU TẠO PHỨC THỂ ĐỊA DANH VÕ NHAI 53
2.3.1 Mô hình cấu trúc phức thể địa danh Võ Nhai 53
2.3.2. Phân tích thành tố chung trong phức thể địa danh Võ Nhai 55
2.4.2. Đặc điểm một số kiểu cấu tạo của địa danh Võ Nhai do các
phƣơng thức định danh chi phối 70
2.5. TIỂU KẾT CHƢƠNG 2 75
Chƣơng 3: ĐẶC TRƢNG VĂN HOÁ CỦA ĐỊA DANH VÕ NHAI 79
3.1 MỘT VÀI VẤN ĐỀ VỀ VĂN HOÁ VÀ NGÔN NGỮ 79
3.2. ĐẶC TRƢNG VĂN HOÁ THỂ HIỆN TRONG ĐỊA DANH VÕ NHAI 82
3.2.1. Đặc trƣng văn hoá đƣợc thể hiện qua thành tố ngôn ngữ 82
3.2.2. Sự thể hiện các dạng tồn tại của văn hoá trong địa danh Võ Nhai 87
3.3. MỘT VÀI NHẬN VỀ ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐỊA DANH VÕ NHAI SO VỚI
BẮC KẠN 96
3.4. TIỂU KẾT CHƢƠNG 3 99
KẾT LUẬN 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO 108
PHỤ LỤC 113






Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

6
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT


1. Quy ƣớc về cách viết tắt trong địa danh các xã, thị trấn
- BL: Bình Long
- ĐC: Thị trấn Đình Cả
- DT: Dân Tiến
- LH: La Hiên
- LT: Lâu Thƣợng
- LM: Liên Minh
- NT: Nghinh Tƣờng
- PT: Phú Thƣợng
- PG: Phƣơng Giao
- SM: Sảng Mộc
- TS: Thần Sa
- TN: Thƣợng Nung
- TX: Tràng Xá
- VC: Vũ Chấn
2. Quy ƣớc về cách viết tắt trong loại hình địa danh
- ĐDCTGT: Địa danh các công trình giao thông
- ĐDCTXD: Địa danh các công trình xây dựng
- ĐDCTNT: Địa danh các công trình nhân tạo
- ĐDĐHTN: Địa danh địa hình tự nhiên
- ĐDĐVDC: Địa danh đơn vị dân cƣ
- ĐVDCHC: Địa danh các đơn vị dân cƣ do chính quyền hành chính đặt
- ĐVDCPK: Địa danh các đơn vị dân cƣ có từ thời chính quyền phong kiến
- SD: Sơn danh
- TD: Thủy danh
- ĐDVĐN: Địa danh các vùng đất nhỏ phi dân cƣ




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

7
DANH MỤC CÁC BIỂU BẢNG

Bảng 2.1. Kết quả thu thập địa danh huyện Võ Nhai
Bảng 2.2. Kết quả thống kê theo nguồn gốc ngôn ngữ các yếu tố
Bảng 2.3. Kết quả thống kê cấu tạo của thành tố chung trong địa
danh Võ Nhai
Bảng 2.4. Kết quả thống kê sự phân bố của thành tố chung khi chuyển
hóa thành các yếu tố trong địa danh
Bảng 2.5. Thống kê địa danh Võ Nhai theo kiểu cấu tạo

DANH MỤC CÁC MÔ HÌNH SƠ ĐỒ

Mô hình 2.1. Sự phân bố các loại hình ở địa danh Võ Nhai
Mô hình 2.2. Số lƣợng các loại hình địa danh theo nguồn gốc ngôn ngữ
Mô hình 2.3.Mô hình cấu trúc phức thể địa danh Võ Nhai
Mô hình 2.4. Mô hình cấu trúc phức thể địa danh khi thành tố chung
chuyển hóa thành yếu tố thứ nhất trong địa danh
Mô hình 2.5. Mô hình cấu trúc phức thể địa danh khi thành tố chung
chuyển hóa thành yếu tố thứ hai trong địa danh







Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

8
MỞ ĐẦU

I. TÍNH THỜI SỰ CỦA ĐỀ TÀI
1.Mỗi sự vật hiện tƣợng trong thế giới khách quan đều có tên gọi cụ
thể, đó có thể là tên làng, tên núi, tên sông, tên những vật dụng….những tên
gọi đó đều do con ngƣời đặt tên và mỗi tên gọi của đối tƣợng này phải có giá
trị khu biệt nó với những cái khác. Những tên gọi đó là những tên riêng, mà
việc nghiên cứu về chúng đã hình thành nên một chuyên ngành riêng gọi là
Danh xƣng học. Danh xƣng học nghiên cứu tên ngƣời đƣợc gọi là Nhân danh
học, còn nghiên cứu tên gọi của đối tƣợng địa lí thì là Địa danh học. Nghiên
cứu địa danh là một lĩnh vực quan trọng và cần thiết trong ngôn ngữ học
truyền thống cũng nhƣ trong ngôn ngữ học hiện đại. Việc nghiên cứu địa danh
nói chung, các địa danh của một địa phƣơng nói riêng, sẽ giúp chúng ta hiểu
đƣợc ngôn ngữ của một dân tộc nói chung, ngôn ngữ đƣợc sử dụng ở một
vùng miền nói riêng.
2. Nghiên cứu địa danh cũng là một trong những bộ môn Ngôn ngữ học
góp phần nghiên cứu văn hoá một vùng lãnh thổ, một trong những vấn đề
quan trọng đang đƣợc đặt ra hiện nay. Nghiên cứu địa danh của một ngôn ngữ
cũng nhƣ của một địa phƣơng đồng thời cũng giúp hiểu đƣợc đặc điểm văn
hoá - lịch sử của một dân tộc hoặc của công đồng cƣ dân địa phƣơng nhƣ lớp
trầm tích đọng lại trong các địa danh của họ. Chẳng hạn, nếu một địa danh có
nguồn gốc Môn – Khơme hoặc Tày - Thái thì chủ thể xa xƣa của vùng đất ấy
là cộng đồng ngƣời Môn – Khơme hoặc ngƣời Tày - Thái …và kèm theo đó
là những đặc điểm văn hoá của họ đƣợc thể hiện qua chất liệu ngôn ngữ của
vùng này.
3. Nghiên cứu địa danh Võ Nhai góp phần làm sáng tỏ mối quan hệ
giữa văn hoá và ngôn ngữ trong một vùng lãnh thổ nói chung và của Võ Nhai
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

9
nói riêng, qua đó có thể hiểu thêm đƣợc sự phát triển của tiếng Việt trong mối
quan hệ vơí các tiếng địa phƣơng thuộc các lĩnh vực ngữ âm, từ vựng, ngữ
pháp qua các thời kì, giai đoạn khác nhau.
4. Võ Nhai là một vùng quê cách mạng nên rất cần tìm hiểu về lịch sử,
văn hoá của địa phƣơng nơi đây nhằm giới thiệu và giáo dục lòng yêu nƣớc
và tinh thần cách mạng cho thế hệ trẻ Việt Nam hôm nay và mai sau. Hiện
nay chƣa có một công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện và có
hệ thống về địa danh Võ Nhai dƣới góc độ ngôn ngữ - văn hoá. Do tầm quan
trọng, ý nghĩa của vấn đề, luận văn đã chọn đối tƣợng địa danh của Võ Nhai
để nghiên cứu.
II. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGIÊN CỨU
1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là tìm hiểu những đặc điểm của địa
danh Võ Nhai về các phƣơng diện khác nhau: ngôn ngữ, văn hoá, lịch
sử,v.v…, nhằm làm nổi bật những đặc điểm về phƣơng thức định danh từ góc
độ ngôn ngữ - văn hoá, qua đó làm sáng tỏ truyền thống lịch sử - văn hoá của
địa phƣơng.
Việc nghiên cứu đặc điểm của hệ thống địa danh Võ Nhai cũng nhằm
góp phần xây dựng bộ môn địa danh học vốn chƣa đƣợc phát triển ở
Việt Nam, đồng thời phục vụ cho việc viết cuốn dƣ địa chí, sổ tay địa danh
của huyện.
2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt đƣợc mục đích đã nêu, luận văn cần giải quyết các nhiệm vụ
nghiên cứu sau đây:
- Nghiên cứu các vấn đề lí thuyết về định danh, danh học nói chung, về
địa danh nói riêng, và vấn đề đặc trƣng văn hoá của địa danh để làm cơ sở cho
việc nghiên cứu tiếp theo;
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

10
- Tiến hành điều tra điền dã, khảo sát thực tế, thu thập tất cả các địa
danh thuộc các loại hình, đối tƣợng địa lí khác nhau đƣợc phân bố và tồn tại
trong phạm vi địa bàn huyện Võ Nhai;
- Thống kê, phân loại và phân tích, miêu tả hệ thống địa danh Võ Nhai
theo các tiêu chí danh học, sau đó rút ra những nhận xét về mặt đặc điểm cấu
tạo, phƣơng thức định danh, nguồn gốc ngôn ngữ và các yếu tố cấu tạo nên
địa danh;
- Tìm hiểu các đặc điểm văn hoá - lịch sử còn đƣợc tàng trữ trong hệ
thống địa danh của vùng dân cƣ này.
III. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
1. Tình hình nghiên cứu địa danh trên thế giới
Địa danh là những từ ngữ đƣợc dùng làm tên riêng của các đối tƣợng
địa lí cụ thể có vị trí xác định trên bề mặt trái đất. Đối tƣợng này có thể là đối
tƣợng địa lí tự nhiên hay nhân tạo. Vấn đề nghiên cứu địa danh đã đƣợc ngôn
ngữ học thế giới quan tâm nghiên cứu từ rất sớm. Từ đầu Công nguyên ở
phƣơng Đông đã diễn ra giai đoạn khởi nguồn. Thao tác chủ yếu ở giai đoạn
này là ghi chép, sƣu tập, tổng hợp và giải thích về cách đọc, về ý nghĩa của
địa danh.Tiêu biểu nhƣ các tác phẩm Hán thư ghi chép đƣợc hơn 4000 địa
danh, Thuỷ kinh chú đề cập trên 20 000 địa danh, số đƣợc giải thích là khoảng
2300 địa danh.
Ở phƣơng Tây bộ môn địa danh học bắt đầu đƣợc nghiên cứu nhiều từ
cuối thế kỉ XIX, nhƣng trên thực tế nó đã xuất hiện từ trƣớc. Trong Thánh
Kinh của Thiên chúa giáo cũng thu thập đƣợc rất nhiều địa danh. Cuối thế kỉ
XIX, đầu thế kỉ XX là thời điểm nở rộ các công trình nghiên cứu về địa danh
và đã mang tính chất lí luận cao. Tiêu biểu là các cuốn “Địa lí từ nguyên
học”(1835) của T.A. Gibson hƣớng đến một danh sách phân loại về từ ngữ
thƣờng gặp nhƣ tiền tố, hậu tố trong phức thể của tên địa lí; cuốn “ Từ và các
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

11
địa điểm hay sự minh hoạ có tính nguyên lai về lịch sử, dân tộc học và địa lí
học” (1864) của I ssac Taylor; cuốn “Địa danh học” (1872) của J.J. Egli; cuốn
“Địa danh học” (1903) của J. W. Nagh.
Từ đầu thế kỉ XX có thêm nhiều công trình nghiên cứu đi sâu về địa
danh. Ví dụ nhƣ cuốn “Nguồn gốc và sự phát triển địa danh” (1926) của A.
Dauzat, “Các tên gọi, một khảo sát về việc đặt tên địa điểm” (1958) của
George, “Thực hành địa danh học” (1977) của P. E. Raper. Ngoài ra còn có
hàng loạt công trình của các nhà địa danh học Nga đặt nền tảng đầu tiên cho
việc xây dựng hệ thống lí luận về địa danh học. Đó là E.M.Murzaev với
“Những khuynh hướng nghiên cứu địa danh học”, A.Kapenko với tác phẩm
“Bàn về địa danh học đồng đại”, hay “Những nguyên tắc cơ bản của công
tác nghiên cứu địa danh” của A.I.Popôv, đặc biệt là công trình “Địa danh học
là gì” của A.V. Superanskaja [30] đã mang lại những định hƣớng mới cho
việc nghiên cứu địa danh, tạo ra những giá trị nhất định trong quá trình phát
triển của địa danh học.
Trong quá trình tìm hiểu địa danh, các nhà nghiên cứu đã có rất nhiều
cách phân loại địa danh khác nhau. Đáng chú ý là cách phân loại của các nhà
địa danh học Nga dựa vào đối tƣợng mà địa danh biểu thị. Chẳng hạn, G. L.
Somolisnaja và M.V. Gorbanevskij đã chia địa danh thành 4 loại:
1. Phƣơng danh: Tên các địa phƣơng.
2. Sơn danh: Tên núi, gò, đồi…
3. Thuỷ danh: Tên các dòng chảy nhƣ hồ. vũng…
4. Phố danh: Tên các đối tƣợng trong thành phố.
A. V. Superanskaja (1985) trong cuốn “Địa danh là gì” [ 30, tr.3] lại
chia địa danh thành 8 loại:
1. Tên gọi của các điểm dân cƣ;
2. Tên gọi các con sông;
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

12
3. Tên gọi núi non;
4. Tên gọi công trình trong thành phố;
5. Tên gọi các đƣờng phố;
6. Tên gọi quảng trƣờng;
7. Tên gọi mạng lƣới giao thông;
8. Tên gọi địa điểm phi dân cƣ nhỏ.
Cách phân chia của Superanskaja tuy mở rộng hơn cách nhìn nhận về
địa danh, nhƣng nếu áp dụng vào từng vùng, miền thì rất khó khăn cho việc
nghiên cứu bởi quá chi tiết, dẫn đến nhiều khi các tiêu chí dẫm đạp nhau.
2. Tình hình nghiên cứu địa danh ở Việt Nam
Tuy việc nghiên cứu địa danh ở Việt Nam đƣợc bắt đầu muộn hơn so
với các nƣớc phƣơng Tây, nhƣng chúng ta cũng đã có những tác phẩm đánh
dấu sự mở đầu cho việc nghiên cứu địa danh từ thế kỉ XIII trở đi. Đó là các
tác phẩm “Dư địa chí” của Nguyễn Trãi, “Đại Việt sử kí toàn thư” của Ngô
Sĩ Liên, “Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú…
Đến những năm 1960, các công trình nghiên cứu địa danh ở Việt Nam
khá phát triển và mang tính lí luận cao. Tiêu biểu nhƣ Hoàng Thị Châu (1964)
đã đề cập đến địa danh gọi tên sông qua “Mối liên hệ về ngôn ngữ cổ đại ở
Đông Nam Á qua một vài tên sông”, Lê Trung Hoa (1991) nêu những
đặc điểm về cấu tạo, nguồn gốc và ý nghĩa của “Địa danh thành phố Hồ
Chí Minh”.
Đến năm 1993 Nguyễn Văn Âu với tác phẩm “Địa danh Việt Nam” và
“Một số vấn đề về địa danh học Việt Nam” (2003) đã có những đóng góp mới
mẻ, quan trọng cho ngành nghiên cứu địa danh ở Việt Nam.
Về vấn đề phân loại, ở Việt Nam, Nguyễn Văn Âu trong hai tác phẩm
[ 2 ] và [ 3 ] đã phân loại địa danh theo 3 cấp:
1. Loại địa danh (2 loại):
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

13
- Địa danh tự nhiên
- Địa danh kinh tế- xã hội.
2. Kiểu địa danh (7 kiểu): Thuỷ danh; Sơn danh; Lâm danh; Làng xã;
Huyện thị; Tỉnh; Thành phố; Quốc gia.
3. Dạng địa danh (11 dạng ): Sông ngòi; Hồ đầm; Đồi núi; Hải đảo;
Rừng rú; Truông trảng; Làng xã; Huyện quận; Thị trấn; Tỉnh; Thành phố;
Quốc gia.
Cách phân loại của Nguyễn Văn Âu quá chi tiết và rối, trùng lặp, bởi lẽ
nếu việc phân chia dựa trên các kiểu, các dạng địa lí…thì vô kể và thiếu tính
khái quát.
Lê Trung Hoa [ 22 ], [ 23 ] chia địa danh thành hai nhóm lớn:
1. Địa danh chỉ các đối tƣợng tự nhiên
2. Địa danh chỉ các đối tƣợng nhân tạo
- Địa danh chỉ các công trình xây dựng thiên về không gian hai chiều.
- Địa danh chỉ các đơn vị hành chính.
- Địa danh chỉ các vùng lãnh thổ không có ranh giới rõ ràng.
Lê Trung Hoa đƣa ra cách phân loại theo nguồn gốc địa danh:
1. Địa danh thuần Việt
2. Địa danh Hán Việt
3. Địa danh bằng các ngôn ngữ đân tộc thiểu số
4. Địa danh bằng ngoại ngữ.
Cách phân loại của Lê Trung Hoa khá dễ hiểu, rõ ràng và lôgích. Việc
tách bạch riêng rẽ theo đối tƣợng và theo nguồn gốc để phân định là khá
hợp lí.
Gần đây đã có một số luận án, luận văn nghiên cứu về địa danh thuộc
các địa phƣơng cụ thể khác nhau: Nguyễn Kiên Trƣờng với luận án “Những
đặc điểm chính của địa danh Hải Phòng”(1996), Từ Thu Mai với luận án Tiến

Hoạt động Marketing tại Sở giao dịch I - NH đầu tư và phát triển Việt Nam

Chuyên đề tốt nghiệp Đỗ Thành Ân- NH41D
hàng gửi số tiền vay vào ngân hàng để ngân hàng tiện theo dõi việc sử dụng
tiền của khách hàng
Theo thời hạn:
* Tiền gửi có kỳ hạn: tiền gửi ngắn hạn (thời hạn dới 1 năm),
tiền gửi trung hạn (thời hạn từ 1-3 năm), tiền gửi dài hạn (thời hạn trên 3
năm)
* Tiền gửi không kỳ hạn: thời hạn gửi không đợc xác định trớc,
khách hàng có thể rút bất kỳ lúc nào, lãi suất thờng thấp hơn tiền gửi có kỳ
hạn
Theo mục đích sử dụng:
* Tiền gửi giao dịch (tiền gửi thanh toán): các cá nhân, tổ chức
gửi tiền chủ yếu với mục đích sử dụng các dịch vụ thanh toán của ngân hàng
mà không phải mục tiêu sinh lời. Đây không phải là tiền tiết kiệm mà là một
bộ phận tiền đang chờ thanh toán của khách hàng, bất cứ khi nào khách hàng
cần rút ra hoặc sử dụng thanh toán, ngân hàng phải thực hiện một cách vô
điều kiện, để thu hút khách hàng các ngân hàng thờng chi trả với lãi suất
thấp. Các hoạt động thanh toán hộ của ngân hàng dựa trên cơ sở sử dụng tài
khoản giao dịch của khách hàng, khách hàng thờng sử dụng các cộng cụ: sec,
uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu
* Tiền gửi tiết kiệm (tiền gửi phi giao dịch): mục đích chủ yếu
của khách hàng khi gửi tiết kiệm là sinh lời và an toàn do đó loại tiền gửi này
có tính ổn định hơn các loại khác và thờng lãi suất cũng cao hơn.
Việc thanh toán qua ngân hàng đã mở đầu cho thanh toán không dùng
tiền mặt: an toàn, nhanh chóng, chính xác, tiết kiệm chi phí, góp phần rút
ngắn thời gian kinh doanh nâng cao thu nhập cho các doanh nghiệp. Cùng
với sự phát triển của khoa học công nghệ, thông tin, nhiều thể thức thanh
toán đợc phát triển đặc biệt trong thanh toán quốc tế
Cho vay: Cho vay là hoạt động sinh lời chủ yếu của ngân hàng, nó là
việc ngân hàng chuyển trực tiếp tiền cho khách hàng sử dụng trong một thời
Đại học Kinh tế Quốc dân Khoa Ngân hàng Tài chính
Chuyên đề tốt nghiệp Đỗ Thành Ân- NH41D
gian nhất định. Tuỳ thuộc vào tiêu thức phân loại và yêu cầu quản lý, cho vay
có thể chia thành nhiều loại khác nhau
Theo mục đích sử dụng tiền vay của ngời vay:
* Cho vay tiêu dùng: mục đích sử dụng của ngời vay là để thoả
mãn các nhu cầu tiêu dụng nh mua nhà, mua các vật dụng
* Cho vay thực hiện hoạt động kinh doanh: cho vay để sản xuất,
cho vay để tiến hành hoạt động thơng mại dịch vụ, cho vay lu động, cho vay
mua tài sản cố định.
Theo thời hạn: cho vay ngắn hạn, cho vay trung và dài hạn
Bảo lãnh: trong những năm gần đây, nghiệp vụ bảo lãnh ngày càng đa
dạng và phát triển. Bảo lãnh là nghiệp vụ của ngân hàng theo đó ngân hàng
sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng của mình khi khách
hàng không thực hiện đợc nghĩa vụ đã cam kết của họ đối với đối tác. Ngân
hàng thờng bảo lãnh cho khách hàng của mình mua chịu hàng hóa và trang
thiết bị, phát hành chứng khoán, vay vốn của tổ chức tín dụng
Thuê mua tài chính: là nghiệp vụ của ngân hàng theo đó ngân hàng
đảm nhận việc thanh toán tiền mua thiết bị và giữ quyền sở hữu thiết bị, ngời
thuê đợc quyền lựa chọn thiết bị cho phù hợp với nhu cầu, trong suốt thời
gian thuê ngân hàng nhận đợc tiền thuê động thời ngân hàng cam kết bán lại
tài sản đó cho ngời thuê khi kết thúc hợp đồng với giá đã xác định từ khi ký
hợp đồng
Những nghiệp vụ trên là những nghiệp vụ cơ bản của các ngân hàng bên
cạnh các ngân hàng đó các ngân hàng còn có các nghiệp vụ khác: dịch vụ uỷ
thác đầu t, dịch vụ bảo hiểm, dịch t vấn tài chính, môi giới chứng khoán, cho
thuê két, bảo quản vật có giá Nhìn chung các nghiệp vụ này ngày càng
phát triển và chiếm tỷ ngày càng cao trong thu nhập của ngân hàng, một
trong các chỉ tiêu đánh giá độ an toàn của ngân hàng là tỷ lệ thu nhập từ hoạt
động dịch vụ nếu tỷ lệ này trên 15% thì ngân hàng đó đợc coi là an toàn.
1.1.2. Chức năng của ngân hàng thơng mại trong nền kinh tế thị trờng
Đại học Kinh tế Quốc dân Khoa Ngân hàng Tài chính
Chuyên đề tốt nghiệp Đỗ Thành Ân- NH41D
Phần trên chúng ta đề cập đến việc: ngân hàng là một tổ chức kinh
doanh trong nền kinh tế song nó lại nhận đợc nhiều sự quan tâm của các nhà
nghiên cứu, nhà lập pháp. Ngân hàng có quan hệ sâu rộng, vai trò hết sức
quan trọng và ảnh hởng sâu sắc đối với nền kinh tế, hệ thống ngân hàng phát
triển sẽ tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển. Vậy ngân hàng có chức năng
gì đối với nền kinh tế?
Trung gian tài chính: Trong nền kinh tế thị trờng, hàng ngày có diễn ra
không biết bao nhiêu những hoạt động kinh tế, tạo ra thu nhập, chi tiêu và
tích luỹ bằng tiền của các tằng lớp xã hội. Quá trình đó làm hình thành, một
bên là những ngời có một khoản tiền tạm thời nhàn rỗi và có nhu cầu cho vay
trong một thời gian nhất định và một bên là những ngời có nhu cầu sử dụng
vốn để đầu t và phát triển tuy nhiên không có đủ vốn do đó có nhu cầu vay
vốn. Tuy nhiên việc gặp gỡ và thoả mãn nhu cầu của cả hai nhóm đối tợng
này là rất khó khăn do sự phân tán, nguốn cho vay thờng nhỏ lẻ, nhu cầu vốn
thờng lớn và đa dạng, mỗi bên đều theo đuổi mục đích riêng của mình. Nhờ
có thị trờng tài chính và cơ chế chuyển giao vốn năng động của thị trờng tài
chính, trong đó ngân hàng đóng vai trò chủ chốt, mâu thuẫn trên đã đợc giải
quyết. Ngân hàng thơng mại không chỉ hoạt động nh một cây cầu nối liền
giữa khả năng cung ứng và nhu cầu vốn trong xã hội mà còn thực hiện việc
tập trung nguồn vốn và phân phối điều hoà đến nơi cần thiết, đúng lúc. Nh
vậy, ngân hàng đã biến những đồng tiền nhàn rỗi thành những đồng tiền hoạt
động, biến những đồng tiền nằm phân tán thành nguồn vốn tập trung phục vụ
nhu cầu sản xuất kinh doanh và qua đó mà phát triển hoạt động kinh doanh
của ngân hàng
Trong quá trình hoạt động của mình ngân hàng luôn tìm kiếm cơ hội để
mở rộng huy động vốn và cho vay nhằm thu lãi. Tuy nhiên, khi khách hàng
gửi tiền tại ngân hàng muốn rút tiền thì ngân hàng phải thực hiện vô điều
kiện, còn khách hàng vay của ngân hàng cha chắc đã trả nợ ngân hàng đúng
thời hạn, điều này buộc ngân hàng phải xem xét kỹ càng trớc khi cho vay.
Cũng vì thế hai hoạt động này của ngân hàng luôn có sự tác động lẫn nhau,
gắn kết với nhau trong sự phát triển của ngân hàng: ngân hàng huy động đợc
Đại học Kinh tế Quốc dân Khoa Ngân hàng Tài chính
Chuyên đề tốt nghiệp Đỗ Thành Ân- NH41D
nguốn vốn lớn sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng có khả năng cho vay nhiều,
thu nhiều lợi nhuận. Ngợc lại, ngân hàng cho vay đợc nhiều sẽ mở rộng huy
động vốn.
Đối với nền kinh tế, ngân hàng không chỉ đã thực hiện việc điều hoà
cung cầu tiền mà còn thực hiện tài trợ cho nền kinh tế, gián tiếp tạo công ăn
việc làm, nâng cao đời sống ngời lao động, vớiv iệc cho Nhà nớc vay ngân
hàng góp phần thực hiện phát triển các chơng trình kinh tế xã hội
Trung gian thanh toán: Trong quá trình thực hiện chức năng trung gian
tài chính, ngân hàng đã thu hút các khách hàng gửi tiền thông qua việc mở tài
khoản thanh toán tạo cơ sở cho việc thực hiện trung gian thanh toán theo lệnh
của khách hàng. Ngân hàng xuất tiền của ngời mua, thu hộ tiền cho ngời bán,
chuyển từ nơi này qua nơi khác Ngân hàng là thủ quỹ đáng tin cậy nhất của
các nhà kinh doanh trong nền kinh tế. K.Mark viết công việc của ngời thủ
quỹ chính là ở chỗ làm trung gian thanh toán. Khi ngân hàng xuất hiện thì
chức năng này đợc chuyển sang ngân hàng Trong ngân hàng, thì chức năng
thanh toán gắn bó một cách chặt chẽ và hữu cơ với chức năng trung gian tín
dụng
1
. Hệ thống ngân hàng đã góp phần làm giảm bớt thanh toán tiền mặt,
tiết kiệm chi phí cho các giao dịch kinh tế. thanh toán qua ngân hàng với u
điểm: nhanh chóng thuận tiện, an toàn, chi phí thấp cũng góp phần thúc đẩy
quá trình lu thông hàng hoá, từ đó thúc đẩy quá trình sản xuất.
Với việc thực hiện hai chức năng trên, ngân hàng có khả năng cung ứng vào
nền kinh tế các phơng tiện thanh toán nhng lại giảm lợng tiền mặt, đó đợc gọi
là khả năng tạo tiền. Tuy nhiên số tiền do hệ thống ngân hàng tạo ra lớn
hơn tất nhiều so với số tiền ban đầu,tuy nhiên, số tiền đó không phải là vô
hạn.
1
(1)K.Mark, T bản, quyển 3, tập 1
Đại học Kinh tế Quốc dân Khoa Ngân hàng Tài chính
Chuyên đề tốt nghiệp Đỗ Thành Ân- NH41D
1.2. Marketing với hoạt động kinh doanh của ngân hàng
thơng mại
1.2.1. Khái niệm Marketing ngân hàng
Trong nền kinh tế thị trờng, cạnh tranh là quy luật phổ biến. Ngời mua
cạnh tranh với nhau, ngời bán cạnh tranh với nhau, ngời mua cạnh tranh với
ngời bán, ngời mua muốn mua rẻ, ngời bán muốn bán đắt. Quan hệ cạnh
tranh ngày càng gay gắt đã luôn đe doạ các nhà cung cấp với những rủi ro
tiềm ẩn. Để hạn chế rủi ro các nhà sản xuất đã đa ra các giải pháp để thu hút
khách hàng, để tồn tại trong nền kinh tế và thu đợc lợi nhuận tối u. Đây là cơ
sở để marketing ra đời. Lịch sử hình thành và phát triển đã chứng tỏ
marketing là sản phẩm của kinh tế thị trờng. Trải qua hơn một thế kỷ phát
triển và không ngừng hoàn thiện, Marketing đã không còn là những biện
pháp đơn giản, mà nó đã trở thành một môn khoa học có đầu đủ cơ sở lý
luận. Marketing có khả năng giải quyết những vấn đề to lớn nhằm hạn chế tối
đa những rủi ro nảy sinh trong nền kinh tế thị trờng để đạt đợc lợi nhuận tối -
u. Tuy nhiên, hiện vẫn còn nhiều quan niệm khác nhau khi đa ra một khái
niệm marketinh là gì.
Philip Lotter- Mỹ: Marketing là sự phân tích, tổ chức kế hoạch hoá và
kiểm tra những khả năng thu hút khách hàng của một công ty, cũng nh chính
sách và hoạt động với quan điểm thoả mãn nhu cầu mong muốn của nhóm
khách hàng đã lựa chọn
1
. Theo hiệp hội Marketing Anh: Marketing là chức
năng quản lý công ty về mặt tổ chức và quản lý toàn bộ hoạt dộng kinh
doanh từ việc phát hiện và biến sức mua của ngời tiêu dùng thành nhu cầu
thực sự của một mặt hàng, đến việc đa hàng hoá đó đến ngời tiêu thụ cuối
cùng, nhằm đảm bảo cho công ty lợi nhuận nh dự kiến
2
Sự cần thiết của Marketing trong ngân hàng
Ngân hàng là một nganh dịch vụ đặc biệt có rủi ro lớn: nguyên liệu
chính và không thể thay thế của ngân hàng là tiền, phần lớn lại không phải
thuộc sở hữu của ngân hàng. Nh trên chúng ta đã nghiên cứu thì ngân hàng là
1
(1,2) Dẫn theo: ngân hàng thơng mạiquản trị và nghiệp vụ,2002,NXB Thống kê
2
Đại học Kinh tế Quốc dân Khoa Ngân hàng Tài chính
Chuyên đề tốt nghiệp Đỗ Thành Ân- NH41D
tổ chức có hoạt động chính là nhận tiền gửi để cho vay. Số vốn mà ngân
hàng đợc phép huy động có thể gấp tới 20 lần số vốn tự có của ngân hàng.
Thực tế sẽ là: toàn bộ số tiền mà ngân hàng sử dụng để cho vay không phải là
tiền của ngân hàng. Ngân hàng có trách nhiệm hoàn trả không điều kiện đối
với khách hàng gửi khi họ muốn rút tiền, trong khi đó ngân hàng không có
quyền đó với khách hàng vay của mình và ngay cả khi đến hạn thì khách
hàng vay cha chắc đã trả đúng hạn. Điều đó có nghĩa là: trong hoạt động của
ngân hàng không thể không có rủi ro, đó là điều tất yếu. Khi ngân hàng gặp
rủi ro thì không chỉ ảnh hởng đến ngân hàng mà còn ảnh hởng đến nền kinh
tế. Chính vì thế marketing đợc áp dụng vào hoạt động của ngân hàng để hạn
chế rủi ro.
Bên cạnh đó, ngân hàng hoạt động trong hành lang hẹp về pháp lý của
Nhà nớc nhng vẫn chịu sự cạnh tranh gay gắt của thị trờng. Ngân hàng không
chỉ cạnh tranh với ngân hàng mà còn cạnh tranh với số lợng ngày càng đông
các tổ chức tài chính khác đang xâm nhập vào hoạt động ngân hàng. Do đó
muốn tồn tại ngân hàng phải nâng cao đợc sức cạnh tranh và hình ảnh của
mình trên thị trờng. Mặt khác, sản phẩm của ngân hàng mang tính đơn giản
đồng điệu,dễ bị bắt chớc một cách nhanh chóng. Việc đa ra sản phẩm mới
đối với ngân hàng lại không phải là dễ và điều đó còn phụ thuộc vào điều
kiện của nền kinh tế
Và lý do hơn hết để marketing ứng dụng vào ngân hàng là lợi nhuận.
Ngân hàng là một tổ chức kinh doanh chứ không phải là một tổ chức xã hội
do đó lợi nhuận là mục tiêu sống còn của ngân hàng. Marketing đợc ứng
dụng vào ngân hàng nhằm thu hút và thoả mãn nhu cầu khách hàng, và hớng
tới mục tiêu cuối cùng đó là lợi nhuận
Marketing ngân hàng có thể đợc hiểu đơn giản là marketing đợc ứng
dụng vào hoạt động của ngân hàng nhằm thoả mãn khách hàng và thu đợc lợi
nhuận tối u.
Tuy nhiên có một số khác nhau về marketing ngân hàng nh sau:
Đại học Kinh tế Quốc dân Khoa Ngân hàng Tài chính
Chuyên đề tốt nghiệp Đỗ Thành Ân- NH41D
Marketing ngân hàng là hoạt động tiếp cận thị trờng của ngân hàng
thơng mại nhằm phát hiện nhu cầu về các sản phẩm dịch vụ từ đó ngân
hàng thoả mãn tối đa nhu cầu đó nhằm mang lại hiệu quả cao nhất trong
hoạt động kinh doanh.
Marketing ngân hàng là một hệ thống tổ chức quản lý của một ngân
hàng để đạt đợc mục tiêu đề ra của ngân hàng là thoả mãn tốt nhất nhu
cầu về vốn, cũng nh các dịch vụ khác của ngân hàng đối với nhóm khách
hàng lựa chọn bằng các chính sách, biện pháp hớng tới các mục tiêu cuối
cùng là đối đa hoá lợi nhuận
1
Và thực tế đã chứng minh các ngân hàng kinh doanh trên cơ sở các
hoạt động đã đợc chiến lợc hóa luôn thành công hơn các ngân hàng kinh
doanh theo kiểu tuỳ tiện đối phó với thị trờng. Sự thành công của các ngân
hàng không xây dựng các chiến lợc marketing, nếu có, chỉ là sự may mắn mà
thôi và mang tính ngắn hạn.
1.2.2. Các đặc điểm và đặc thù của Marketing ngân hàng
1.2.2.1. Tính chất của Marketing ngân hàng
Marketing ngân hàng mang những đặc tính chung của marketing nói
chung, nó bao gồm:
- Tính hệ thống
- Tính khoa học, sáng tạo
- Tính thực tiễn
Thái độ mua bán của khách hàng có thể chia thành ba giai đoạn: giai
đoạn trớc giao dịch; giai đoạn trong khi giao dịch; giai đoạn sau khi giao
dịch. Tính hệ thống của marketing ngân hàng nói lên rằng: không thể khẳng
định hoạt động marketing cần tập trung vào giai đoạn nào thì sẽ thu hút đợc
khách hàng hiệu quả hơn, hoạt động marketinh ngân hàng cần phải thực hiện
xuyên suốt trong tất cả các quá trình đó. Thật vậy, sản phẩm kinh doanh của
1
(1) TS.Nguyễn Thị Thu Thảo, ngân hàng thơng mạiquản trị và nghiệp vụ, 2002,NXB
Thống kê
Đại học Kinh tế Quốc dân Khoa Ngân hàng Tài chính
Chuyên đề tốt nghiệp Đỗ Thành Ân- NH41D
ngân hàng là các sản phẩm dịch vụ mà khách hàng không thể nhìn thấy trớc,
cũng nh không thể đánh giá đợc chất lợng của sản phẩm. Những thông tin mà
khách hàng nhận đợc trớc khi giao dịch sẽ giúp họ đa ra quyết định giao
dịch. Và lẽ dĩ nhiên, họ sẽ chọn ngân hàng cung cấp cho họ các thông tin tốt
hơn. Nh vậy, marketing trong giai đoạn này sẽ giúp đa khách hàng về với
ngân hàng. Giai đoạn tiếp theo, khách hàng giao dịch với ngân hàng. Trong
giai đoạn này, hoạt động marketing cần hớng vào việc nâng cao chất lợng sản
phẩm dịch vụ nh: giảm thời gian giao dịch, nhân viên tận tình chu đáo, tôn
trọng khách hàng, lắng nghe thắc mắc của khách hàng nhằm thoả mãn nhu
cầu khách hàng. Trong giai đoạn này khách hàng vừa sử dụng sản phẩm vừa
đánh giá chất lợng sản phẩm dịch vụ và so sánh giữa thực tế với những gì họ
mong đợi. Vì thế ngân hàng cần chú ý:
không nên hứa hẹn nhiều hơn những gì có thể hoặc không
đúng những thông tin tơng ứng hiện tại. Vì hoạt động quảng
cáo và khuyếch trơng của ngân hàng có thể có ảnh hởng đến
sự mong đợi của khách hàng
những đánh giá của khách hàng có ảnh hởng lớn đến quyết
định của nhóm khách hàng đang ở giai đoạn trớc giao dịch
Tính khoa học và sáng tạo của marketing ngân hàng thể hiện trong hoạt
động nghiên cứu thị trờng: ngân hàng tiến hành thu thập thông tin sau đó
dùng phơng pháp t duy khoa học biện chứng, với phơng pháp so sánh, phân
tích để nắm bắt sự biến đổi của thị trờng, trên cơ sở đó có những chính sách
linh hoạt nhất trong hoạt động, kinh doanh, phù hợp với nhu cầu ngày càng
cao của khách hàng trên thị trờng. Ngoài ra, tính khoa học của marketing còn
thể hiện ở chỗ: hoạt động marketing của ngân hàng có cơ sở lý luận và hoạt
động này phải tiến hành theo một kế hoạch đã đợc lên sẵn. Tuy nhiên, tính
sáng tạo lại yêu cầu các hoạt động đó không đợc tiến hành một cách dập
khuôn lý luận, mà cần có sự phù hợp với từng thời kỳ, từng trờng hợp cụ thể.
Tính thực tiễn của marketing ngân hàng chỉ ra mục tiêu cuối cùng của
mọi hoạt động là lợi nhuận. Trớc hết muốn đạt đợc mục tiêu này ngân hàng
Đại học Kinh tế Quốc dân Khoa Ngân hàng Tài chính
Chuyên đề tốt nghiệp Đỗ Thành Ân- NH41D
phải thoả mãn nhu cầu của khách hàng, bên cạnh đó ngân hàng phải tiến
hành phân tích các yếu tố bên trong và bên ngoài ngân hàng để dự đoán đợc
những gì sẽ xẩy ra với ngân hàng nều tiếp tục kinh doanh nh hiện tại và từ đó
chủ động đề ra các phơng án huy động các nguồn lực một cách tốt nhất nhằm
đối phó thành công những biến đổi bất lợi của thị trờng, cũng nh nắm bắt đợc
cơ hội kinh doanh mới, giữ vững vị thế cạnh tranh của ngân hàng. Mặt khác,
tính thực tiễn của marketing ngân hàng còn thể hiện ở việc: hoạt động này
không phải ở bất kỳ ngân hàng nào cũng giống nhau mà nó phụ thuộc vào
nhiều yếu tố: nhận thức của ngân hàng về marketing, khả năng marketing của
ngân hàng, và các yếu tố khác tác động đến khả năng cạnh tranh của ngân
hàng. Do đó mà các ngân hàng khác nhau sẽ thực hiện hoạt động marketing ở
mức độ khác nhau.
Hoạt động marketing ngân hàng là sự kết hợp của cả ba tính chất trên.
Một ngân hàng trong quá trình thực hiện marketing nhằm hớng tới lợi nhuận
phải tiến hành hoạt động một cách có hệ thống, song những hoạt động này
phải theo một trình tự kế hoạch đợc xây dựng một cách sáng tạo và khoa học,
đồng thời kế hoạch đó cũng phải sát thực tế và luôn có sự đối chiếu kiểm tra
để có những thay đổi điều chỉnh thích ứng với sự thay đổi của thị trờng
1.2.2.2. Đặc điểm và đặc thù của Marketing ngân hàng
Marketing ngân hàng là một ứng dụng đặc biệt của ngành dịch vụ bởi
vậy marketing ngân hàng mang đặc điểm của marketing dịch vụ
Đặc điểm thứ nhất: marketing ngân hàng tuân theo yêu cầu của lý
thuyết hệ thống, có nghĩa là toàn bộ các yếu tố của hệ thống không phân biệt
ranh giới, mà có sự ràng buộc lẫn nhau. Bất kỳ một sự thay đổi nào của hệ
thống đều tác động và làm thay đổi quan hệ cung ứng dịch vụ đến khách
hàng
Đặc điểm thứ hai: sản phẩm của ngân hàng là hình thức dịch vụ, mang
hình thái phi vật chất, quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đợc tiến hành
đồng thời, không có sản phẩm tồn kho, với sự tham gia của cả ba yếu tố:
Đại học Kinh tế Quốc dân Khoa Ngân hàng Tài chính
Chuyên đề tốt nghiệp Đỗ Thành Ân- NH41D
Một là: khách hàng tham gia vào quá trình sản xuất và tiêu thụ
với t cách là ngời thể hiện nhu cầu của mình đối với sản phẩm, tiến hành
sử dụng sản phẩm và đánh giá chất lợng sản phẩm. Ngoài ra sự tham gia
của khách hàng còn góp phần tăng năng suất lao động, giảm phí lu
thông vì khách hàng là ngời sử dụng các sản phẩm áp dụng khoa học kỹ
thuật
Hai là: nhân viên giao dịch với khách hàng, yếu tố này có vai trò
quan trọng hàng đầu trong công tác marketing vì dới con mắt của khách
hàng thì nhân viên là hình ảnh của ngân hàng, nhân viên giao dịch cũng
là tai mắt của lãnh đạo nhằm nắm bắt đợc nhu cầu của khách hàng
Ba là: cơ sở vật chất, trang thiết bị đóng vai trò nền tảng, tạo điều
kiện thuận lợi trong việc cung ứng sản phẩm dịch vụ đến với khách hàng
Đặc điểm thứ ba: hình ảnh của ngân hàng là tổng hợp tất cả các yếu tố:
sản phẩm (loại hình, chất lợng, giá cả ), đội ngũ cán bộ nhân viên (trình độ
chuyên môn, quản lý, khả năng giao tiếp ), cơ sở vật chất trang thiết bị
Tuy nhiên, khác với các doanh nghiệp khác, ngân hàng là loại hình
doanh nghiệp đặc biệt, do đó marketing ngân hàng cũng có một số đặc điểm
riêng có:
Thứ nhất: tiền là nguyên liệu chính, đồng thời là nguyên liệu đầu ra,
trong việc tạo ra sản phẩm ngân hàng, bất kỳ sản phẩm nào cũng liên quan
đến tiền. Nguyên liệu đặc biệt này không thể thay thế đợc, và chịu tác động
của nhiều yếu tố: chính trị, xã hội, kinh tế, thiên tai và có thể tác động ng ợc
trở lại đối với những yếu tố này
Thứ hai: ngân hàng có rất nhiều mối quan hệ đa dạng, phức tạp trên thị
trờng: quan hệ giữa ngân hàng với nhau trong các quan hệ hợp tác (thanh
toán cho khách hàng, đồng tài trợ cho khách hàng, các hợp tác khác ), quan
hệ giữa ngân hàng và khách hàng (doanh nghiệp, tổ chức, dân c). Các mối
liên hệ này có lại có liên quan đến nhau, tác động lẫn nhau, ảnh hởng đến kết
quả của hoạt động kinh doanh. Chính vì thế, hoạt động marketing của ngân
Đại học Kinh tế Quốc dân Khoa Ngân hàng Tài chính