LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "thực trạng hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh của chi nhánh nhct hải dương": http://123doc.vn/document/1053691-thuc-trang-hoat-dong-cho-vay-doi-voi-doanh-nghiep-ngoai-quoc-doanh-cua-chi-nhanh-nhct-hai-duong.htm
nghiệp nhà nớc và doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
Doanh nghiệp nhà nớc: DNNN là loại hình doanh nghiệp dựa trên sở
hữu Nhà nớc về t liệu sản xuất là chủ yếu, bao gồm các đơn vị kinh tế mà toàn
bộ số vốn thuộc về Nhà nớc hoặc Nhà nớc chiếm một phần khống chế. Kinh
tế quốc doanh đợc xác định là TPKT đóng vai trò chủ đạo; làm đòn bẩy tăng
trởng kinh tế và giải quyết những vấn đề về xã hội, mở đờng, hớng dẫn, liên
kết hỗ trợ các TPKT khác cùng tồn tại và phát triển; làm lực lợng vật chất để
Nhà nớc thực hiện chức năng điều tiết và quản lí vĩ mô nền kinh tế.
Doanh nghiệp ngoài quốc doanh: Bao gồm toàn bộ những đơn vị kinh
tế manh hình thức sở hữu phi Nhà nớc về t liệu sản xuất, những đơn vị kinh tế
này dựa trên cơ sở do t nhân (bao gồm 1 hoặc 1 tập thể các cá nhân) bỏ vốn
đầu t dới mọi hình thức, nhằm mục đích chủ yếu là lợi nhuận và chịu sự chi
phối của các chủ đầu t. Các loại hình doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế này
rất đa dạng, tạo ra các TPKT khác nhau nh kinh tế cá thể, kinh tế tập thể, kinh
tế t nhân, kinh tế t bản t nhân và đợc tổ chức dới hình thức: doanh nghiệp t
nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty liên doanh, hợp tác xã, cá
nhân, doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài, kinh tế hộ gia đình
1.2.2.Vai trò của doanh nghiệp ngoài quốc doanh đối với sự
phát triển kinh tế.
Trong hơn 10 năm qua, thực hiện đờng lối, chính sách đổi mới của
Đảng và Nhà nớc, đợc sự đồng tình hởng ứng nhiệt tình của nhân dân, doanh
nghiệp ngoài quốc doanh gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế t bản t nhân,
hoạt động dới hình thức hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp
của t nhân đã phát triển rộng khắp trong cả nớc; đóng góp quan trọng vào phát
triển kinh tế, huy động các nguồn lực xã hội vào sản xuất, kinh doanh, tạo
thêm việc làm; cải thiện đời sống nhân dân, tăng ngân sách nhà nớc, góp phần
giữ vững ổn định chính trị - xã hội của đất nớc. Cùng với các thành phần kinh
tế khác, sự phát triển của doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã góp phần giải
phóng lực lợng sản xuất, thúc đẩy phân công lao động xã hội, chuyển dịch cơ
cấu kinh tế theo hớng CNH-HĐH, phát triển kinh tế thị trờng theo định hớng
XHCN, tăng thêm số lợng công nhân, lao động và doanh nhân Việt Nam
Nghiên cứu hoạt động của doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong mối quan hệ
với khu vực kinh tế quốc doanh, ta sẽ thấy rõ vai trò quan trọng của doanh
nghiệp ngoài quốc doanh trong quá trình phát triển kinh tế- xã hội. Cụ thể là :
Thứ nhất, doanh nghiệp ngoài quốc doanh ngày càng chiếm tỷ trọng
lớn và ổn định trong tổng sản phẩm quốc nội (khoảng 50% GDP ), tạo lên
5
nguồn tài chính cho Nhà nớc nhằm phục vụ nhiều mục tiêu kinh tế- xã hội
quan trọng.
Thứ hai, trong những năm qua, sự tồn tại và phát triển của các doanh
nghiệp ngoài quốc doanh bên cạnh khối DNNN đã thiết lập một nền kinh tế
sôi động hơn, sự cạnh tranh trở lên quyết liệt hơn, thị trờng hàng hoá phong
phú, chất lợng cao, góp phần không nhỏ vào tỷ lệ tăng trởng kinh tế 7% trong
vài năm qua.
Thứ ba, doanh nghiệp ngoài quốc doanh góp phần tập trung vốn của xã
hội tạo cơ sở vật chất ban đầu cho nền kinh tế, sự hình thành doanh nghiệp
ngoài quốc doanh đã tạo điều kiện tập trung những bộ phận kinh tế nhỏ lẻ trở
thành các hợp tác xã, các doanh nghiệp.
Thứ t, doanh nghiệp ngoài quốc doanh là một khu vực kinh tế có tiềm
năng lớn của đất nớc. Doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở Việt Nam mới đợc
khôi phục và còn ở trình độ phát triển thấp nên có nhiều khả năng cha đợc
khai thác, còn nằm ở dới dạng tiềm năng.
Thứ năm, doanh nghiệp ngoài quốc doanh có nhiều đóng góp vào quá
trình lành mạnh hoá hoạt động kinh tế. Bởi các loại hình doanh nghiệp ngoài
quốc doanh thờng gắn liền với sự quản lí trực tiếp của chủ sở hữu, nên trong
các quyết định quản trị có sự cân nhắc cẩn thận, cũng nh sự ổn định trong nội
bộ,ít có hiện tợng quan liêu, cửa quyền.
Thứ sáu, doanh nghiệp ngoài quốc doanh góp một phần đáng kể trong
việc tăng cờng thu cho Ngân sách Nhà nớc. Thuế là nguồn thu chính của Ngân
sách Nhà nớc, nguồn này sẽ đợc dùng cho lợi ích chung của quốc gia.
Thứ bảy, mục đích chính của các nhà doanh nghiệp thuộc doanh nghiệp
ngoài quốc doanh là lợi ích kinh tế, tuy nhiên sự hình thành và phát triển của
nó đã tạo ra không ít những lợi ích xã hội và một trong những tác động đó là
sự góp phần đáng kể của nó vào việc giải quyết công ăn việc làm.
Thứ tám, doanh nghiệp ngoài quốc doanh góp phần thúc đẩy chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hớng đa dạng hoá ngành nghề kinh doanh, tăng tỉ
trọng dịch vụ, công nghiệp nhẹ trong tổng GDP cả nớc, tăng kim ngạch xuất
nhập khẩu, thúc đẩy cạnh tranh, tăng thêm số lợng công nhân và doanh Việt
Nam.
Cuối cùng, một vai trò đặc biệt của doanh nghiệp ngoài quốc doanh
đối với riêng ngành Ngân hàng, đó là doanh nghiệp ngoài quốc doanh đang trở
thành một trong những thị trờng vốn tín dụng rộng lớn, đầy tiềm năng. Với sự
6
phát triển ngày càng mạnh của doanh nghiệp ngoài quốc doanh thì nhu cầu về
vốn sẽ ngày càng tăng, nh vậy tạo thị trờng có tiềm năng lớn cho các nghiệp
vụ tín dụng Ngân hàng nh huy động tiền gửi, cho vay, thanh toán Tuy nhiên,
trên thực tế thật đáng tiếc là các NHTM hiện nay còn ngần ngại khi lựa chọn
doanh nghiệp ngoài quốc doanh làm khách hàng, đặc biệt là trong hoạt động
cho vay .
1.2.3.Đặc điểm của doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh phân bố không đều trên các
vùng và các ngành kinh tế. Trên 70 % số lợng các doanh nghiệp ngoài quốc
doanh tập trung ở các tỉnh, thành phố lớn nh : Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng,
Bà Rịa-Vũng Tàu, Tp Hồ Chí Minh, Đồng Nai
Trừ các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài, các NH cổ phần
còn hầu hết các doanh nghiệp ngoài quốc doanh là các doanh nghiệp vừa và
nhỏ, quy mô SX-KD nhỏ hẹp.
Phần nhiều các doanh nghiệp đợc thành lập mang tính tự phát, đa
số hoạt động trong lĩnh vực thơng mại, dịch vụ, khách sạn ( chiếm 50-70%);
trong lĩnh vực công nghiệp chiếm 10-20%; trong lĩnh vực xây dựng chiếm 2-
6%; trong lĩnh vực hạ tầng cơ sở, khai thác và phân phối điện chiếm từ 0,5-
1%; còn lại là trong lĩnh vực tài chính, tín dụng.
Cơ sở sản xuất cuả đa số các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đều
bị phân tán, manh mún, thờng phải sử dụng đất ở, nhà ở của gia đình trong
khu dân c làm mặt bằng SX-KD; cùng với tình trạng trang thiết bị kĩ thuật lạc
hậu nên cơ sở sản xuất của doanh nghiệp ngoài quốc doanh thờng gây ô
nhiễm, gây ra những khiếu kiện, làm cho doanh nghiệp khó mở rộng SX-KD.
Khả năng tài chính còn yếu. Theo số liệu thống kê cha đầy đủ thì
vốn sử dụng vào SX-KD của 1 hộ phi nông nghiệp là 29,78 triệu đồng; của 1
trang trại là 94 triệu đồng; của 1 doanh nghiệp phi nông nghiệp là 3,7 tỉ đồng.
Doanh nghiệp ngoài quốc doanh vay vốn tại các NHTM và vay vốn tín dụng -
u đãi của Nhà nớc tại Quỹ hỗ trợ phát triển còn ít và chiếm tỉ trọng thấp, cha
đáp ứng đợc yêu cầu phát triển SX-KD.
Thiếu thông tin về sản phẩm, giá cả, nhu cầu thị hiếu thị trờng.
Mặc dù là khối kinh tế năng động, phản ứng nhanh nhạy với sự thay đổi của
thị trờng nhng do nền kinh tế của Việt Nam còn thiếu nhiều yếu tố của 1 nền
kinh tế thị trờng hoàn chỉnh trong đó có vấn đề về thông tin thị trờng nên sự
nắm bắt thông tin của các doanh nghiệp còn nhiều hạn chế.
7
Thị trờng hẹp, bấp bênh, nhiều rủi ro. Đây là điều dễ nhận thấy ở
các doanh nghiệp nh DNTN, Cty TNHH, HTX, kinh tế hộ Hầu hết các
doanh nghiệp ngoài quốc doanh mua nguyên vật liệu đầu vào và tiêu thụ sản
phẩm đầu ra ngay tại thị trờng địa phơng và dựa vào mạng lới quan hệ cá
nhân
1.2.4. Xu hớng phát triển của doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
Qua nghiên cứu hoạt động của doanh nghiệp ngoài quốc doanh, nghiên
cứu tình hình thị trờng, tình hình kinh tế Việt Nam những năm qua và định h-
ớng kinh tế Việt Nam trong thời gian tới chúng ta có thể nhận định một số
xu hớng phát triển chính của doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong thời gian
tới nh sau:
Chính sách mở cửa nền kinh tế, chính sách tạo điều kiện bình đẳng giữa
các TPKT sẽ tiếp tục thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế nói chung và của
doanh nghiệp ngoài quốc doanh nói riêng. Trong điều kiện tiếp xúc với thị tr-
ờng bên ngoài với kĩ thuật và công nghệ sản xuất tiên tiến, mô hình tổ chức và
phơng pháp quản lí mới, hiện đại thì doanh nghiệp ngoài quốc doanh sẽ có
nhiều u thế hơn vì đây đợc coi là khu vực kinh tế năng động nhất trong nền
kinh tế.
Doanh nghiệp ngoài quốc doanh đang có những chuyển biến mạnh mẽ,
góp phần ngày càng lớn vào sự phát triển của đất nớc nhng vẫn cha tơng xứng
với tiềm năng của TPKT này, nhiều khi sự phát triển còn mang tính tự phát, vì
vậy trong thời gian tới, doanh nghiệp ngoài quốc doanh cần đợc hớng dẫn, tạo
điều kiện để phát triển đúng hớng, có hiệu quả.
Đặc biệt, một xu hớng mang tính chất vừa là cơ hội vừa là thách thức
cho hệ thống Ngân hàng đó là, trong thời gian tới doanh nghiệp ngoài quốc
doanh sẽ cần một khối lợng lớn vốn tín dụng cả trong ngắn hạn cũng nh tín
dụng dài hạn.Trong thời gian tới, buôn bán dịch vụ, thơng mại, sản xuất của
doanh nghiệp ngoài quốc doanh sẽ phát triển mạnh, đây sẽ là một đối tợng
khách hàng quan trọng trong tơng lai gần của hệ thống NHTM.
1.2.5.Đờng lối của Đảng trong phát triển doanh nghiệp ngoài
quốc doanh.
Nghị quyết Đại hội IX của Đảng đã xác định: "Thực hiện nhất quán
chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần. Các TPKT kinh doanh
theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trờng
định hớng XHCN, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh;
trong đó kinh tế Nhà nớc giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, kinh tế Nhà n-
8
ớc cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền
kinh tế quốc dân; kinh tế cá thể, tiểu chủ đợc Nhà nớc tạo điều kiện và giúp
đỡ để phát triển; kinh tế t bản t nhân đợc khuyến khích phát triển rộng rãi
trong những ngành nghề sản xuất không bị pháp luật cấm"
Nghị quyết Đại hội IX cũng đề ra một số nhiệm vụ, chủ trơng chính
sách chủ yếu trong thời kì tới nh sau để phát triển doanh nghiệp ngoài quốc
doanh :
Thứ nhất, thống nhất các quan điểm chỉ đạo phát triển doanh nghiệp
ngoài quốc doanh mà cụ thể hơn là doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Phát triển
doanh nghiệp ngoài quốc doanh là chiến lợc lâu dài trong chiến lợc phát triển
chung của nền kinh tế nhiều thành phần theo định hớng XHCN. Thứ hai, tạo
môi trờng thuận lợi về thể chế và tâm lí xã hội cho sự phát triển của doanh
nghiệp ngoài quốc doanh. Thời gian tới sẽ sửa đổi, bổ sung Luật Doanh
nghiệp và một số quy định cha thống nhất giữa các văn bản pháp luật đã ban
hành về những vấn đề liên quan đến doanh nghiệp ngoài quốc doanh theo h-
ớng xoá bỏ phân biệt đối xử giữa các TPKT. Sửa đổi, bổ sung một số quy định
theo hớng vừa tạo thuận lợi vừa chặt chẽ trong cấp đăng kí kinh doanh, theo
yêu cầu "một cửa- một dấu" , nghiên cứu, rà soát lại, bãi bỏ những giấy phép,
chứng chỉ hành nghề không cần thiết, gây khó khăn cho đăng kí kinh doanh
và hoạt động của doanh nghiệp. Làm tốt công tác phổ biến tuyên truyền quan
điểm, đờng lối, chính sách của Đảng, Nhà nớc đối với việc phát triển doanh
nghiệp ngoài quốc doanh, cổ vũ và biểu dơng kịp thời những doanh nhân, đơn
vị sản xuất, kinh doanh làm ăn có hiệu quả, đúng pháp luật, có đóng góp tích
cực vào phát triển kinh tế - xã hội đất nớc, bảo đảm lợi ích cuả ngời lao
động
Thứ ba, sửa đổi, bổ sung một số cơ chế, chính sách bảo đảm sự bình
đẳng giữa các TPKT về cơ hội và khả năng lựa chọn các điều kiện để phát
triển. Chú trọng tạo điều kiện hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Một số
chính sách sẽ đợc sửa đổi bổ sung là: Chính sách đất đai; chính sách tài chính,
tín dụng; chính sách lao động- tiền lơng; chính sách hỗ trợ về đào tạo, khoa
học và công nghệ; chính sách hỗ trợ về thông tin, xúc tiến thơng mại
Thứ t, tiếp tục hoàn thiện và tăng cờng quản lí Nhà nớc. Xác định rõ
chức năng quản lí Nhà nớc đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Chính phủ
giao cho một cơ quan làm đầu mối ở TƯ, UBND các tỉnh giao cho một cơ
quan đầu mối ở địa phơng để phối hợp theo dõi, tổng hợp tình hình, phát hiện
và đề xuất những biện pháp tháo gỡ khó khăn và chủ động uốn nắn những sai
phạm của doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
9
Thứ năm, tăng cờng sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò của Mặt
trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân và các hiệp hội doanh nghiệp với việc
phát triển doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Các cấp uỷ đảng có trách nhiệm
quán triệt và phổ biến sâu rộng trong Đảng và nhân dân về quan điểm của
Đảng đối với sự phát triển của doanh nghiệp ngoài quốc doanh, hoàn thiện về
công tác tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của Đảng bộ, chi bộ trong các doanh
nghiệp ngoài quốc doanh.
1.3.Cho vay đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh .
Mặc dù từ đầu chuyên đề, tín dụng vẫn đợc nhắc đến bao gồm cả hai
hoạt động là huy động vốn và cho vay của các chủ thể kinh tế. Nhng để phục
vụ cho việc nghiên cứu và hoàn thiện chuyên đề, từ đây em xin đề cập đến tín
dụng ngân hàng trên góc độ việc NHTM cho vay đối với các chủ thể trong nền
kinh tế mà cụ thể là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
1.3.1.Cho vay và mở rộng cho vay đối với doanh nghiệp ngoài
quốc doanh:
Cho vay đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh đợc hiểu là hoạt
động mà các NHTM cung cấp cho khách hàng là các doanh nghiệp ngoài
quốc doanh sử dụng 1 khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất
định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Mở rộng hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh
đợc hiểu là quá trình mà các NHTM tìm kiếm các cơ hội và các nguồn lực
trong nền kinh tế để tiến hành cho vay đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh
ngày càng nhiều với quy mô ngày càng tăng.
Trong tình hình hiện nay thì việc mở rộng cho vay đối với doanh nghiệp
ngoài quốc doanh đang trở thành vấn đề rất cấp bách đối với hệ thống Ngân
hàng khi mà Nhà nớc ta đang đẩy nhanh quá trình cổ phần hoá DNNN, giảm
số lợng doanh nghiệp do Nhà nớc giữ 100% vốn, thúc đẩy sự phát triển của
doanh nghiệp ngoài quốc doanh, tạo sự bình đẳng giữa kinh tế Nhà nớc và
doanh nghiệp ngoài quốc doanh, sửa đổi và ban hành mới hàng loạt cơ chế
chính sách hỗ trợ cho sự phát triển của doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
1.3.2. Vai trò của hoạt động cho vay của NHTM với các doanh
nghiệp ngoài quốc doanh .
Thông qua nghiên cứu hoạt động cho vay cuả NHTM và nghiên cứu
tình hình sử dụng và hiệu quả sử dụng vốn vay của doanh nghiệp ngoài quốc
doanh, ta có thể thấy nguồn vốn của các NHTM đã và đang là nguồn quan
10
trọng cung cấp lợng vốn khá lớn cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh
nghiệp ngoài quốc doanh :
Thứ nhất, món vay từ NH đảm bảo cho quá trình hoạt động SX-KD của
các doanh nghiệp ngoài quốc doanh diễn ra liên tục và mở rộng quy mô hoạt
động. NH có thể đáp ứng nhu cầu vốn tức thời cho doanh nghiệp với thời hạn
có thể từ vài ngày đến nhiều năm theo yêu cầu của doanh nghiệp, làm cho quá
trình SX-KD cuả doanh nghiệp không bị ngng trệ. Hơn nữa, khi doanh nghiệp
có nhu cầu mở rộng sản xuất, mở rộng thị trờng, cải tiến trang thiết bị kĩ
thuật thì sự giúp đỡ về vốn của NH lúc đó là cần thiết.
Thứ hai, món vay từ NH góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của
doanh nghiệp. Với một nguyên tắc cơ bản khi đi vay là ngời vay phải trả gốc
và lãi vay trong một thời gian nhất định, nếu để quá hạn không trả đợc vốn
vay thì doanh nghiệp phải chịu tổn thất về kinh tế do phạt lãi quá hạn và mất
lòng tin của NH. Do đó doanh nghiệp phải tính toán chi phí sản xuất, tốc độ
quay vòng vốn, làm ăn có lãi để khi hết thời hạn vay có thể chi trả lãi, gốc và
những chi phí khác. Khi vay vốn, NH cho vay yêu cầu khách hàng phải thực
hiện sử dụng vốn vay đúng mục đích và NH sẽ thực hiện giám sát quá trình
hoạt động của doanh nghiệp. Thêm vào đó, để thu hồi vốn và thu đợc lãi vay,
đôi khi NH còn tạo điều kiện cho doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả. Hoạt
động cho vay của NH không phải là việc rải đều vốn cho tất cả các khách
hàng có nhu cầu mà chủ yếu tập trung cho những khách hàng làm ăn có hiệu
quả nhằm tránh rủi ro cho NH. Chính vì vậy muốn tăng vốn, các doanh nghiệp
không thể chỉ đi vay bừa bãi mà không chịu trách nhiệm về việc sử dụng vốn
vay. Đây là một động lực thúc đẩy doanh nghiệp luôn cố gắng làm ăn có hiệu
quả hơn.
Thứ ba, món vay từ NH góp phần hình thành cơ cấu vốn tối u cho
doanh nghiệp. Hiếm có doanh nghiệp nào chỉ sử dụng vốn tự có để sản xuất
kinh doanh vì không những làm hạn chế khả năng mở rộng sản xuất mà còn
làm tăng chi phí vốn. Ngày nay, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh thờng a
thích sử dụng vốn vay hơn vì ba lí do là: thứ nhất, việc sử dụng vốn vay để
kinh doanh giúp chủ sở hữu chuyển một phần rủi ro trong sản xuất cho NH;
thứ hai, đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh thì bằng việc vay vốn chủ
doanh nghiệp vẫn nắm quyền điều hành doanh nghiệp; cuối cùng, chi phí trả
lãi vay đợc tính trong chi phí hợp lí, hợp lệ khi tính thuế thu nhập, do đó
doanh nghiệp đợc hởng một phần tiết kiệm từ thuế. Tuy nhiên, tỷ lệ nợ quá
cao dễ dẫn đến nguy cơ mất khả năng thanh toán, phá sản. Do vậy, doanh
11
nghiệp phải xác định một cơ cấu vốn tối u để vừa vận dụng vốn vay có hiệu
quả nhng phải tránh đợc rủi ro trong thanh toán.
Thứ t, quan hệ cho vay giữa NH và doanh nghiệp ngoài quốc doanh
càng phát triển lâu dài thì cũng tạo điều kiện để phát triển các mối quan hệ
khác nh quan hệ trong hoạt động thanh toán, bảo lãnh NH là tổ chức trung
gian của nền kinh tế, do vậy mà NH có rất nhiều mối quan hệ với nhiều ngành
nghề trên nhiều lĩnh vực, nhiều TPKT khác nhau. Thông qua quan hệ tín dụng,
NH có thể cung cấp, t vấn cho khách hàng vay vốn nhiều thông tin bổ ích hỗ
trợ cho hoạt động kinh doanh của mình.
Tóm lại, tín dụng NH đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung vốn cho
các TPKT ngoài quốc doanh, tạo cơ sở vật chất cho các thành phần này đủ
điều kiện liên doanh hợp tác kinh tế với các tổ chức kinh tế nớc ngoài và các
tổ chức kinh tế lớn hơn, khai thác lợi thế của họ về kinh nghiệm sản xuất,
quản lí, khoa học công nghệ, kĩ thuật.
1.3.3.Nhân tố ảnh hởng tới việc mở rộng cho vay đối với doanh
nghiệp ngoài quốc doanh.
Có rất nhiều nhân tố ảnh hởng tới việc mở rộng cho vay đối với doanh
nghiệp ngoài quốc doanh nhng chúng ta có thể khái quát thành những nhóm
nhân tố chính sau đây:
Nhân tố khách quan : đợc hiểu là nhóm nhân tố thuộc về môi trờng bên
ngoài hoạt động cho vay của NHTM đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh
hay đơn giản hơn thì nó là những nhân tố thuộc về môi trờng bên ngoài so với
các NHTM và các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Nhóm nhân tố này bao
gồm:
*Môi trờng pháp lí: đây chính là các cơ chế chính sách, luật, quy
định của Nhà nớc nhằm tác động, điều chỉnh hoạt động cho vay đối với
doanh nghiệp ngoài quốc doanh của các NHTM. Trong quá trình đổi mới nền
kinh tế thì môi trờng pháp lí về hoạt động của doanh nghiệp ngoài quốc doanh
đã có nhiều thay đổi theo hớng tích cực, tạo điều kiện phát triển không ngừng
cho doanh nghiệp. Nếu nh trớc đây, chế độ cho vay đối với doanh nghiệp
ngoài quốc doanh đợc quy định trong Quyết định số 18/NH- QĐ ngày
27/04/1988 của Thống đốc NHNN Việt Nam thì nay đã không có sự phân biệt
giữa khu vực kinh tế Nhà nớc và doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Quyết định
số 1627/2001/QĐ- NHNN ngày 31/12/2001, quy định việc cho vay của các tổ
chức tín dụng đối với khách hàng không phân biệt khách hàng thuộc TPKT
nào, thuộc Nhà nớc hay không thuộc Nhà nớc. Điều này thể hiện chủ trơng,
12
quan điểm của Đảng: mọi TPKT trong nền kinh tế thị trờng đều có quyền tự
do kinh doanh nhng phải đảm bảo việc tuân thủ pháp luật.
*Môi trờng kinh tế: đây là môi trờng sống của doanh nghiệp, bao gồm
các yếu tố nh giá cả, cung- cầu, sự cạnh tranh Những yếu tố này luôn thay
đổi và có nhiều tác động tới cả các NHTM và cả các doanh nghiệp ngoài quốc
doanh. Đây chính là nhân tố thể hiện sự phát triển, ổn định hay biến động của
nền kinh tế. Tình trạng của nền kinh tế (phát triển hay suy thoái) luôn có ảnh
hởng tới nhu cầu vay vốn NH, ảnh hởng tới hoạt động của các doanh nghiệp
trong nền kinh tế. Sau hơn 15 năm đổi mới, nền kinh tế đất nớc đã có những
chuyển biến mạnh mẽ, mọi TPKT đợc khuyến khích phát triển bình đẳng với
kinh tế Nhà nớc. Nền kinh tế mở cửa giao lu với bên ngoài đã phần nào giúp
cho các doanh nghiệp có điều kiện tiếp xúc với khoa học và công nghệ tiên
tiến, phơng pháp quản lí khoa học góp phần không nhỏ vào sự phát triển
chung của toàn bộ nền kinh tế. Trong suốt thời gian đổi mới, nền kinh tế luôn
trong xu hớng tăng trởng khá, hàng hoá phong phú đa dạng, cung cầu có sự
chuyển biến theo các quy luật của kinh tế thị trờng. Cùng với sự đổi mới nền
kinh tế đất nớc, Nhà nớc ta cũng đang thúc đẩy mạnh mẽ quá trình cổ phần
hoá các DNNN, điều này đồng nghĩa với việc làm giảm số lợng doanh nghiệp
mà Nhà nớc nắm giữ 100% vốn, tăng số lợng các doanh nghiệp dân doanh,
Nhà nớc sẽ không còn là bầu sữa cho các DNNN của mình nữa. Nhà nớc
cho phép các doanh nghiệp tự tìm cách huy động vốn trong khuôn khổ pháp
luật không cấm. Đây chính là cơ hội tốt cho các NHTM trong việc mở rộng
cho vay đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh, nâng cao hiệu quả hoạt động
của hệ thống Ngân hàng.
*Môi trờng xã hội: đây là nhân tố thể hiện sự nhận thức, quan điểm
của xã hội về các doanh nghiệp trong đó có doanh nghiệp ngoài quốc doanh,
nó thể hiện tâm lí xã hội, sự ủng hộ hoặc phản đối sự phát triển của doanh
nghiệp ngoài quốc doanh. Có thể nói trong thời gian qua, nhận thức cuả xã hội
đã có nhiều thay đổi trong quan điểm về sự tồn tại của các TPKT ngoài quốc
doanh. Hiện nay các doanh nghiệp ngoài quốc doanh nhận đợc nhiều sự ủng
hộ lớn lao do sự phát triển của nó mang lại cho nền kinh tế những điều mà từ
lâu kinh tế Nhà nớc không mang lại đợc. Sự năng động của doanh nghiệp
ngoài quốc doanh chính là phần cốt lõi quyết định sự năng động của nền kinh
tế và chính sự năng động này giúp chúng ta phần nào yên tâm hơn khi bớc vào
tiến trình hội nhập khu vực và quốc tế. Đây cũng là khu vực kinh tế không chỉ
đợc Đảng, Nhà nớc ta và toàn dân quan tâm mà còn cả hệ thống NH. Hệ
thống NH đã có những thay đổi theo hớng coi trọng hoạt động cho vay đối với
13
doanh nghiệp ngoài quốc doanh, điều mà các NH thực hiện rất hạn chế trong
thời kì bắt đầu đổi mới.
Nhân tố chủ quan: đây chính là những nhân tố nằm trong hai đối tợng
chính của hoạt động cho vay doanh nghiệp ngoài quốc doanh đó là: các doanh
nghiệp ngoài quốc doanh và các NHTM.
*Đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh: Đây chủ yếu là các
doanh nghiệp vừa và nhỏ (90% doanh nghiệp vừa và nhỏ là doanh nghiệp
ngoài quốc doanh ), có quy mô vốn nhỏ, số lợng lao động không lớn. Doanh
nghiệp ngoài quốc doanh hoạt động trong nhiều lĩnh vực, nhiều ngành nghề,
nhu cầu vốn tuy nhỏ đối với từng đơn vị nhng lại rất lớn đối với nền kinh tế.
Tuy nhiên khu vực này lại hạn chế về khả năng tích luỹ vốn, ít có điều kiện
đầu t khoa học công nghệ hiện đại. Đa số các doanh nghiệp ngoài quốc doanh
sử dụng công nghệ cũ, chất lợng sản phẩm thấp, khó khăn trong tiêu thụ sản
phẩm nh vậy nhu cầu đổi mới trang thiết bị để tiến lên bán tự động và tự
động hoá của doanh nghiệp ngoài quốc doanh là rất lớn, đòi hỏi một lợng lớn
vốn đầu t, đặc biệt khi chúng ta đang phải nhanh chóng cải thiện và tăng sức
cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nớc để có thể đứng vững và phát triển
trớc những thách thức của hội nhập kinh tế quốc tế. Doanh nghiệp ngoài quốc
doanh còn thiếu các phơng án sản xuất kinh doanh có hiệu quả để từ đó có thể
thuyết phục các cán bộ tín dụng trong việc xét duyệt các đơn xin vay. Trình độ
quản lí của các chủ doanh nghiệp ngoài quốc doanh còn yếu kém, điều đó có
ảnh hởng trực tiếp tới hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp và đôi khi
những tổn thất của Ngân hàng là xuất phát từ phía ngời sử dụng vốn khi ngời
vay vốn dùng vốn sai mục đích, làm ăn phi pháp, biển thủ vốn vay, không
muốn trả nợ NH gây khó khăn cho việc thu nợ cuả NH.
*Đối với NHTM: có thể nhận thấy một số nhân tố bên trong NHTM có
ảnh hởng tới hoạt động cho vay doanh nghiệp ngoài quốc doanh nh sau:
Đội ngũ cán bộ tín dụng NH: Đây là lực lợng trực tiếp tiếp xúc và cho
vay đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Dới con mắt của khách hàng thì
cán bộ tín dụng chính là hình ảnh của NH vì vậy phong cách giao tiếp với
khách hàng là một yếu tố quan trọng trong việc thu hút khách hàng mới cho
NH. Hoạt động của đội ngũ này quyết định mức d nợ tín dụng của các doanh
nghiệp ngoài quốc doanh bởi trình độ của đội ngũ này là yếu tố quan trọng
đảm bảo quá trình thực thi nhiệm vụ một cách nhanh chóng, chính xác, linh
hoạt trong mọi tình huống. Trong điều kiện cạnh tranh của hệ thống NHTM
đang có xu hớng tăng nh hiện nay, đòi hỏi đội ngũ cán bộ tín dụng phải không
ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, tăng cờng công tác tiếp xúc với khách
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét