Thứ Tư, 9 tháng 4, 2014

một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả xuất khẩu cà phê của việt nam


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả xuất khẩu cà phê của việt nam": http://123doc.vn/document/1047983-mot-so-giai-phap-nham-nang-cao-hieu-qua-xuat-khau-ca-phe-cua-viet-nam.htm


Cà phê được truyền bá từ Châu phi đến Arập, đây cũng chính là nơi
đầu tiên chế biến và sử dụng cà phê như một loại thuốc, loại thức ăn trước
khi trở thành thức uống được ưa chuộng như ngày nay.Người Arập giữ cà
phê như một bí quyết trong nhiều năm…Sau đó thì cây cà phê đã được phổ
biến ở Thổ nhĩ kỳ, Ý, Pháp ….rất nhiều đồn điền cà phê rộng lớn đầu tiên ở
miền nam Mỹ và xuất khẩu ra toàn thế giới.
Cây cà phê được trồng thành những bụi cây lớn ,nó có thể sinh trưởng
và phát triển rất tôt với độ cao từ 3 đến 9 mét trong tự nhiên.Hoa cà phê
mầu trắng tinh khiết xuất hiện trên các cành cây giống như những bông
tuyết.Vài ngày sau đó,những bong hoa bắt đầu thơm ngào ngạt báo hiệu lúc
những trái cà phê bất đầu xuất hiện.Trong 6 tháng những trái cà phê từ mầu
xanh chuyển sang chin mọng đỏ rực. đó chính là lucá những trái cà phê được
thu hoạch và chế biển.Những hột cà phê được sơ chế tẩm ướp và rang say
theo phương pháp của từng nơi những vẫn luôn lưu giữ được cái mùi hương
quyến rũ đặc trưng của nó.Trên thế giới hiện nay người ta trồng phổ biến hai
dòng cây cà phê chính là Coffea arabica (Cà phê Arabica) – cà phê chè – và
Coffea canephora (Robusta) – cà phê vối – với nhiều loại khác nhau. Chất
lượng hay đẳng cấp của cà phê khác nhau tùy theo từng loại cây, từng loại
hạt và nơi trồng khác nhau. Cà phê Robusta được đánh giá thấp hơn so với
cà phê Arabica do có chất lượng thấp hơn và giá cả theo đó cũng rẻ hơn.
Loại cà phê đắt nhất và hiếm nhất thế giới tên là Kopi Luwak (hay cà phê
chồn) của Indonesia và Việt Nam. Giá mỗi cân cà phê loại này khoảng 20
triệu VND (1300 USD) và hàng năm chỉ có trên 200 kg được bán trên thị
trường thế giới.
1.2.1.2_Lịch sử hình thành và phát triển cây cà phê ở Việt nam.
Cây cà phê lần dầu tiên đưa vào Việt Nam từ năm 1897 và được
trồng thử từ năm 1888. Giai đoạn đầu, cà phê chủ yếu trồng ở Ninh Bình,
Quảng Bình… đến đầu thế kỷ 20 mới được trồng ở Nghệ An và một số nơi ở
Tây Nguyên. Từ 1920 trở đi, cây cà phê mới có diện tích đáng kể đặc biệt ở
Buôn Ma Thuật, Đăklăk. Khi mới bắt đầu, qui mô các đồn điền từ 200-
300ha và năng suất chỉ đạt từ 400-600kg/ha. Cho đến nay, diện tích cà phê
5
trên cả nước khoảng 500.000 ha và sản lượng có khi lên đến 900.000 tấn.
Hiện nay Việt Nam là nước xuất khẩu cà phê đứng thứ 2 trên thế giới.
Cà phê trồng ở nước ta có bao gồm cà phê vối (Robusta) chiếm 90%
diện tích, cà phê chè (Arabica) 10% và cà phê mít (Excelsa) 1%. Do cà phê
vối có hàm lượng caffeine cao (2-4%) nên hương vị không tinh khiết bằng
cà phê chè (caffein 1-2%) nên giá chỉ bằng một nửa. Cây cà phê chè ưa sống
ở vùng núi cao và thưòng được trồng độ cao từ 1000-1500 m, nhiệt độ từ 16-
25°C, lượng mưa khoảng trên 1000 mm. Cà phê vối ưa sống ở vùng nhiệt
đới, độ cao thích hợp dưới 1000 m, nhiệt độ khoảng 24-29°C, lượng mưa
khoảng trên 1000 mm và cần nhiều cần nhiều ánh sáng mặt trời hơn so với
cây cà phê chè.
Một trong nhưng lý do diện tích cà phê vối cao hơn rất nhiều do chúng có
sức sinh trưởng tốt và kháng được bệnh. Còn cà phê chè lại rất mẫn cảm với
các bệnh như bệnh gỉ sắt (do nấm Hemileia vastatrix), bệnh khô cành, khô
quả (do nấm Colletotrichum coffeanum và vi khuẩn Pseudomonas syringea,
P. garcae), bệnh nấm hồng (Corticium salmonicolor)…
Phương pháp cổ điển nhất để chọn giống cà phê bao gồm các bước
tuyển chọn quần thể hoang dại tiếp theo lai, đánh giá sản lượng, lai ngược và
lai giữa các loài. Nhược điểm của phương pháp này là thời gian lâu, thường
khoảng 30 năm mới chọn ra được giống mới. Ngày nay, công nghệ sinh học
đã được ứng dụng rộng rãi trong cải tạo và chọn giống cà phê như nuôi cấy
mô, chuyển nạp gen và đánh giá chất lượng cây giống bằng một số phương
pháp sinh học phân tử cho kết quả nhanh chóng như RFLP, RAPD, SSR,
STS
Theo chiến lược của ngành cà phê Việt Nam sẽ giảm diện tích cà phê
vối và tăng diện tích cà phê chè tuy nhiên vấn đề giống là vấn đề quan trọng
nhất. Trước đây giống cà phê chè ở Việt Nam là giống Typica, Bourbon,
Caturra amarello hoặc một số giống được trồng mang tính thí nghiệm như
Mundo Novo, Catuai. Hiện nay, các vùng mới trồng cà phê chè đều thuộc
giống Catimor nhưng giống này có nhược điểm hương vị thiên về cà phê vối
6
nên cần phải nghiên cứu thêm. Với nhu cầu cấp bách hiện nay là cần có
giống cà phê chè mới có hương vị thơm ngon và kháng được bệnh thì cần
phải ứng dụng các tiến bộ khoa học trong tuyển chọn và nhân giống cà phê
từ các nguồn nhập ngoại và sẵn có ở Việt Nam.
1.2.2_Vai trò của xuất khẩu cà phê đối với nền kinh tế quốc dân
Qua thực tế nhiều năm xuất khẩu cà phê ta có thể thấy rằng nó đóng
vai trò vô cùng to lớn trong việc ổn định và phát triển kinh tế cho Đắk lăk,
Tây Nguyên nói riêng và Viêt Nam nói chung.Xuất khẩu cà phê đã phần
đáng kể trong việc tăng kim ngạch xuất khẩu cửa cả nước qua các năm ngày
một rõ rệt.Cà phê là một trong những mặt hàng xuất khẩu trọng điểm của
Việt Nam. Cà phê giữ một vị trí quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam: xuất
khẩu hằng năm xấp xỉ 1 triệu tấn, cà phê là nông sản có kim ngạch xuất khẩu
chiếm hàng đầu, trên một tỉ đô la Mỹ.Cũng từ xuất khẩu cà phê mà ngày
nay, Việt Nam đã được cả thế giới biết đến là cường quốc xuất khẩu cà phê
và thương hiệu Cà phê Việt Nam ngày càng khẳng định vị trí trên thị trường
quốc tế. Ta có thể liệt kê một số vai trò cơ bản của xuất khẩu cà phê đói với
nền kinh tế quốc dân:
Một là, XK cà phê tác động đến việc mở rộng quy mô sản xuất nông
nghiệp. Khi XKcà phê tăng, khối lượng cà phê được sản xuất ra ngày càng
lớn, do đó sẽ tạo điều kiện cho việc mở rộng quy mô sản xuất cà phê. Mặt
khác, khi XK cà phê tăng còn tạo nguồn thu lớn cho người sản xuất, từ đó họ
có thể tăng vốn để tái sản xuất mở rộng, tăng năng suất lao động, tăng chất
lượng sản phẩm, nâng cao giá trị hàng xuất khẩu.
Hai là, xuất khẩu góp phần giải quyết tốt vấn đề công ăn, việc làm.
Một trong những đặc điểm rất quan trọng của Tây Nguyên , Đắc lắc… cũng
như cả nước là tốc độ tăng lực lượng lao động nhanh, từ đó việc làm luôn là
vấn đề nóng và cần quan tâm của nền kinh tế. Để giải quyết tình trạng này
phải tăng cầu lao động và xuất khẩu tăng cũng là một trong những biện pháp
để mở rộng quy mô ngành sản xuất cà phê, từ đó tạo thêm việc làm cho
7
người lao động. Mặt khác, XKcà phê tăng kéo theo sự phát triển của ngành
công nghiệp chế biến, công nghiệp phục vụ nông nghiệp, từ đó nhu cầu lao
động bổ sung tăng lên. Khi người lao động có việc làm, thu nhập ổn định sẽ
tạo tâm lý yên tâm phấn khởi và người lao động (đặc biệt là lao động nông
nghiệp) sẽ làm việc ngay tại quê hương mình, giảm tải tình trạng di cư của
lao động ra các khu công nghiệp, thành thị để tìm kiếm việc làm.
Ba là, XKcà phê góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực
trong nông nghiệp. Nguồn lực trong nông nghiệp bao gồm: đất đai, cơ sở hạ
tầng, người lao động, kinh nghiệm sản xuất…
Bốn là, XK cà phê góp phần thúc đẩy quá trình CNH-HĐH nông
nghiệp nông thôn. CNH-HĐH nông nghiệp là quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá quy mô lớn gắn với công
nghiệp chế biến và thị trường, đưa thiết bị, công nghệ hiện đại vào các khâu
sản xuất nông nghiệp, thực hiện cơ khí hoá, điện khí hoá, thuỷ lợi hoá, ứng
dụng các thành tựu khoa học, công nghệ sinh học và công nghệ thông tin
nhằm nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh của cà phê trên thị trường. Vì vậy,
XKcà phê tạo điều kiện giải quyết tốt vấn đề đầu ra cho cà phê , thúc đẩy
kinh tế nông nghiệp phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá quy mô lớn,
điều này rất phù hợp với điều kiện hội nhập kinh tế hiện nay. Mặt khác, XK
cà phê còn có vai trò tích cực trong việc cung cấp thông tin cho người sản
xuất, tạo ra sự phù hợp tốt hơn giữa người sản xuất và thị trường.
3. Các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu cà phê.
Trước hết ,,ta phải xét tới những điều kiện thuận lợi về đất đai khí hậu
đã tạo điều kiện cho cà phê sinh trưởng và phát triển tốt ở Việt Nam. Điều
kiện khí hậu của Việt Nam cho phép nhiều địa phương có thể trồng được cả
hai loại cà phê robusta và arabica. Theo ông Nhạn, ở vùng khí hậu nóng ẩm
phía Nam thích hợp để canh tác cà phê robusta trong khi ở vùng khí hậu ôn
hòa miền núi phía Bắc và rải rác ở một số vùng có độ cao so với mặt biển
800-900 mét trở lên có thể trồng cà phê arabica. Thực tế hiện nay đã hình
thành một số vùng sản xuất cà phê arabica phát triển tốt, có nhiều triển vọng.
Đó là các vùng Tây Bắc, chủ yếu là Điện Biên và Sơn La; ở miền Trung là
8
các tỉnh Nghệ An, Quảng Trị và Thừa Thiên-Huế; phía Nam có các vùng
Gia Lai, Đăk Nông và đặc biệt là Lâm Đồng. Theo nhiều người rành cà phê,
hương vị cà phê Bourbon ở Lâm Đồng có thể sánh ngang các loại cà phê có
vị dịu của vùng Trung Mỹ. Hiện cả nước có hơn 500.000 héc ta cà phê,
trong đó chủ yếu là robusta, còn arabia chỉ khoảng 20.000 héc ta. Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn (NN-PTNT) từ nhiều năm qua đã khuyến cáo
các địa phương nên giảm bớt những diện tích cà phê robusta kém hiệu quả
và mở rộng diện tích cà phê arabica ở những vùng có điều kiện sinh thái
thích hợp. Bộ đặt mục tiêu trong thời gian tới, Việt Nam vẫn giữ 500.000
héc ta mà không cần tăng thêm diện tích nhưng thay đổi cơ cấu theo hướng
tăng arabica lên 100.000 héc ta và robusta giảm xuống còn 400.000 héc ta.
Ngoài những yếu tố về tự nhiên thì yếu tố tác động từ viêc hội nhập
kinh tế quốc tế là vô cùng to lớn.Với nhu cầu cao về cà phê trên toàn thế
giới,Việt nam có những thuận lợi trong xuất khẩu cà phê nhưng cũng chịu
những tác động đáng kể.Ta có thể lấy những ví dụ cụ thể như: Năm 1994 do
sương muối tàn phá cà phê ở Brazil đã khiến thị trường thế giới thiếu hụt cà
phê rất lớn đẩy giá lên cao ngất ngưởng. Do đó, người ta đổ xô đi trồng cà
phê, diện tích nhanh chóng tăng lên vượt ngoài tầm kiểm soát của Nhà nước.
Từ năm 1994-1998, cây cà phê đã che phủ tới hơn nửa triệu héc ta đất đỏ
bazan màu mỡ ở Tây Nguyên, Đông Nam bộ.Hàng năm, các doanh nghiệp
Việt Nam đã tung ra thị trường thế giới lượng lớn cà phê robusta, có năm đạt
hơn 1 triệu tấn, tác động mạnh đến cân bằng cung cầu và giá cả. Điều đó
không chỉ gây nên những khó khăn cho gần 1 triệu nông dân trồng cà phê ở
Việt nam mà 25 triệu nông dân trồng cà phê trên thế giới cũng bị ảnh hưởng.
Từ năm 2000 trở đi, giá cà phê thế giới tụt giảm thảm hại, có lúc chỉ còn 300
đô la Mỹ/tấn (FOB TPHCM), tức chỉ bằng một phần mười so với lúc đỉnh
cao. Do giá xuống quá thấp, nhiều nơi nông dân không còn mặn mà đầu tư
chăm sóc và không ít nơi người vụ 2004-2005, khi giá cà phê xuất khẩu vượt
qua mốc 600 đô la Mỹ/ tấn, mức giá ít nhiều đủ để nông dân trồng cà phê
cầm cự và sàng lọc các diện tích cà phê năng suất thấp, già cỗi. Ước tính
diện tích cà phê Việt Nam giảm ít nhất 50.000 héc ta trong năm năm đầu
thập kỷ này. Hai năm qua, giá cà phê thế giới hồi phục khá nhanh, thời điểm
9
này mỗi tấn cà phê nhân xuất khẩu thu được hơn 1.500 đô la Mỹ, kim ngạch
xuất khẩu cà phê của cả nước năm nay vọt lên hơn 1,4 tỉ đô la Mỹ và tình
trạng đua nhau trồng cà phê lại lặp lại. Tính sơ bộ ở Daklak, Lâm Đồng, Gia
Lai, diện tích cà phê đã tăng thêm khoảng 30.000 héc ta.
Theo xu thế hội nhập chung của thế giới ,nước ta sau khi gia nhập các
hiệp hội kinh tế…đặc biệt là trở thành thành viên chính thức của WTO ,mở
ra những khó khăn và thách thức mới và xuất khẩu cà phê cũng không nằm
ngoài xu thế đó.Mà điển hình là khó khăn trong việc thay đổi để đạt chuẩn
của Hiệp hội cà phê thế giới về chon lựa hạt cà phê. Có nhiều nguyên nhân.
Trước hết, theo Luật tiêu chuẩn và qui chuẩn kỹ thuật số 68/2006/QH 11, tại
khoản 1, Điều 23 qui định: “Tiêu chuẩn được áp dụng trên nguyên tắc tự
nguyện”. Đến nay, vẫn chưa có văn bản qui phạm pháp luật hoặc qui chuẩn
kỹ thuật bắt buộc áp dụng TCVN 4193:2005 đối với cà phê nhân. Trong
thực tế, do chưa có sự vào cuộc của nhiều doanh nghiệp và người sản xuất,
nên chưa có những biện pháp khắc phục khó khăn, khó áp dụng trọn vẹn
TCVN 4193:2005 Do đ ó làm cho không ít doanh nghiệp còn lần khân là
phần lớn các hợp đồng xuất khẩu cà phê hiện nay vẫn theo hình thức thoả
thuận về chất lượng, dựa theo cách phân loại cũ, chủ yếu dựa vào 3 tiêu chí
giản đơn: độ ẩm, tỉ lệ hạt đen, tỉ lệ hạt vỡ vì thế họ lo ngại nếu đồng loạt áp
dụng kiểm tra chất lượng cà phê xuất khẩu trước khi thông quan ngay tại
thời điểm này sẽ đảo lộn kế hoạch xuất khẩu cà phê, đặc biệt là các hợp
đồng đã ký kết trước đây…Nhưng cung không phải môtj sớm một chiều mà
chúng ta có thể thay đổi được tập quán canh tác của những người dân địa
phương .Có thể nói đây cũng là một nhân tố ảnh hưởng lớn đến chất lượng
cà phê xuất khẩu .
Nhìn nhận được tất cả những yếu tố tác động đến xuất khẩu cà phê dù
trực tiếp hay gián tiếp,nó cũng giúp chúng ta tìm ra những biện pháp khắc
phục để tăng chất lương và số lượng trong xuất khẩu cà phê.
10
Chương II
Phân tích thực trạng của xuất khẩu cà phê
của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế
quốc tế
2.1. Tình hình xuất khẩu cà phê của Việt Nam những năm đầu hội
nhập (số liệu của các năm 2004,2005,2006,2007, đầu năm 2008).
Bảng: Kinh ngạch xuất khẩu cà phê Việt Nam từ năm 2004 đến 2008
STT Năm KNXK
1 2004 590 triệu USD
2 2005 700-800 triệu USD
3 2006 950 triệu USD
4 2007 1878 triệu USD
5 2008 Dự kiến trên 1800 triệu USD
Bảng số liệu trên đã khái quát tình hình xuất khẩu cà phê của Việt
nam trong những năm đầu hội nhập kinh tế quốc tế.Có thể nói xuất khẩu cà
phê của ta đã trải qua những bước thăng trầm với những khó khăn đến đỉnh
điểm và rồi ngoạn mục tăng vọt với những con số đến bất ngờ.Vào năm
2004,chịu tác động lớn của tình hình xuất khẩu cà phê trên thế giới,xuất
khẩu cà phê của việt nam cũng gặp khá nhiều khó khăn.Tuy nhiên năm 2004
cũng là năm đầu tiên xuất khẩu cà phê bắt đầu có dấu hiệu hội phục sau 4
năm thua lỗ nặng nề(2000-2003) .Kim ngạch xuất khẩu cà phê của Việt Nam
11
trong nửa đầu năm nay đã lên tới 602 triệu đô la, tăng 31,1% so với cùng Kỳ
năm ngoái tuy lượng xuất khẩu có sút giảm.
Bản tin hôm thứ tư của Tân hoa xã trích dẫn các số liệu của Bộ
Thương mại ở Hà Nội cho biết từ tháng giêng đến tháng 6, các công ty Việt
Nam đã bán ra nước ngoài 525 ngàn tấn cà phê, chủ yếu là bán cho các nước
thuộc Liên hiệp Âu Châu, Hoa Kỳ, Nhật Bản và Singapore.
Lượng cà phê xuất khẩu đã giảm 12,4%. Tính đến giữa năm 2005,
Việt Nam có khoảng nửa triệu héc ta trồng cà phê và là nước xuất khẩu cà
phê lớn hàng thứ nhì thế giới. Theo các số liệu của Tổng cục Thống kê ở Hà
Nội, năm 2005 Việt Nam xuất khẩu 885 ngàn tấn cà phê, thu về 725 triệu đô
la.
Năm 2007, sau khi sụt giảm vào cuối tháng 8, trong tháng 9 giá cà phê
xuất khẩu của Việt Nam phục hồi mạnh. Giá trung bình tháng 9 ở mức 1738
USD/tấn, tăng 50 USD/tấn so với giá mức trung bình 1679 USD của tháng
8. Giá xuất khẩu bình quân chung 9 tháng đầu năm đạt 1.507 USD/tấn, tăng
29% cùng kỳ năm trước (khoảng 340 USD/tấn). Hiện nay cà phê xuất khẩu
của Việt Nam được định giá dựa theo biến động giá trên thị trường robusta
kỳ hạn tại Luân Đôn. Giá cà phê tại Luân Đôn tăng cao kéo giá cà phê xuất
khẩu của Việt Nam tăng theo. Nguyên nhân tăng giá do lo ngại về tình trạng
thiếu hụt cung robusta trong ngắn hạn trước vụ thu hoạch mới của Việt Nam.
Thu hoạch cà phê ở nước ta, nước xuất khẩu cà phê lớn thứ hai thế giới bắt
đầu vào cuối tháng 10 trong khi những dự báo cho thấy La Nina đang hình
thành ở khu vực Cao nguyên Trung bộ kèm theo mưa và lũ, có thể sẽ gây
khó khăn cho việc phơi khô và ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cà
phê. Nguy cơ trời sẽ mưa vào giai đoạn cuối cuả vụ thu hoạch kèm theo dự
báo về việc thâm hụt cà phê trên thế giới khiến giới kinh doanh trên thị
trường Luân Đôn đẩy giá cà phê robusta lên cao. Thêm vào đó đà tăng giá
mạnh trên thị trường arabica kỳ hạn tại Niu Yóoc trong bối cảnh mùa vụ cà
phê của Braxin có thể bị thiệt hại do hạn hán kéo dài đã tác động đáng kể lên
giá cà phê robusta của Việt Nam. Tại thị trường Đắk Lắk, giá cà phê nhân xô
trong tháng 9 tăng so với tháng 8 nhưng biến động thất thường. Vào những
12
ngày đầu tháng, giá cà phê đứng ở mức 25.850 đồng/kg (4/9/07) và tăng ở
giữa tháng, đạt 26.900 đồng/kg, tăng 1.000 đồng/kg so với ngày đầu tháng
nhưng lại có xu hướng giảm nhẹ vào cuối tháng. Tính chung giá bình quân
tháng 9 đạt mức 26.691 đồng/kg, tăng 304đồng/kg so với tháng trước và
tăng 4.844 đồng/kg so với cùng kỳ năm trước.Ư ơc t ính xuất khẩu cà phê
tháng 9/2007 đạt khoảng 40 ngàn tấn, kim ngạch đạt 67 triệu USD, so cùng
kỳ năm trước lượng giảm khoảng 17%, kim ngạch tăng gần 9%. Xuất khẩu
cà phê 9 tháng đầu năm 2007 thuận lợi về giá cả và thị trường, giá cà phê tuy
có biến động ngắn hạn nhưng ở xu hướng chung là tăng về dài hạn. Năm
2007 là năm đầu tiên kim ngạch XK cà phê vượt kim ngạch XK gạo với mức
13%. Ước lượng cà phê XK 9 tháng đạt 975 ngàn tấn, kim ngạch 1,47 tỉ
USD. So cùng kỳ năm trước lượng tăng 45%, kim ngạch tăng 87%.
Về thị trường xuất khẩu cà phê 9 tháng đầu năm: các thị trường truyền
thống về cơ bản ổn định, một số thị trường được mở rộng. Trong bảng xếp
hạng các nước nhập khẩu cà phê từ Việt Nam, Đức tiếp tục giữ vị trí số 1 với
thị phần trên 14%, tiếp theo là Mỹ trên 10%, Ý, Tây Ban Nha, Thuỵ Sĩ với
mức thị phần trên 7% mỗi nước.
Tuy đạt giá trị kim ngạch xuất khẩu cao nhưng giá cà phê xuất khẩu
của Việt Nam vẫn thấp hơn các nước sản xuất cà phê khác khoảng 50-70
USD/tấn. Theo phó chủ tịch Hiệp hội Cà phê ca cao Việt Nam Đoàn Triệu
Nhạn, nguyên nhân là do Việt Nam mua bán cà phê không theo qui trình,
tiêu chuẩn của thị trường thế giới. Nông dân trồng cà phê vẫn chưa bỏ thói
quen thu hái cà phê cả hạt xanh lẫn hạt chín, phơi và chế biến thủ công khiến
chất lượng giảm. Cả người bán và người mua vẫn có thói quen sử dụng tiêu
chuẩn cũ chỉ đánh giá chất lượng cà phê dựa trên ba tiêu chí là hàm lượng
ẩm, hạt đen vỡ và tạp chất. Trong khi đó, tiêu chuẩn mới đánh giá theo số lỗi
của hạt cà phê.
Việc chưa áp dụng tiêu chuẩn mới phù hợp với quốc tế phản ánh
những yếu kém trong quản lý chất lượng hàng hóa xuất khẩu của ngành cà
phê Việt Nam. Trước sự bất cập này, Nhà nước cần đưa mặt hàng cà phê vào
13
danh mục bắt buộc phải kiểm tra chất l ư ợng s ản ph ẩm tr ư ớc khi th ông
qua.
Từ cuối tháng 01/2008 đến nay, giá cà phê trên thị trường thế giới
đồng loạt tăng rất mạnh. Trên thị trường London, giá cà phê robusta giao kỳ
hạn tháng 3/2008 đạt mức 2.242 USD/tấn, tăng 12,78% so với trung tuần
tháng 01/2007 và tăng 41,36% so với cùng kỳ năm ngoái.
Trên thị trường New York, giá cà phê arabica giao kỳ hạn gần nhất đã
tăng lên đến 157,2 Uscent/lb (3.462,48 USD/tấn) – mức cao kỷ lục trong 10
năm qua, tăng 16,5% so với trung tuần tháng trước và tăng 37,89% so với
cùng kỳ năm ngoái. Cùng với những diễn biến trên thị trường thế giới, giá cà
phê robusta xuất khẩu của nước ta tiếp tục tăng rất mạnh. Cụ thể, giá cà phê
robusta loại II của nước ta đã vượt ngưỡng 2.000 USD/tấn, lên mức 2.130 –
2.150 USD/tấn, tăng 21,13% so với đầu năm 2008 và tăng 19,44% so với
cùng kỳ năm ngoái.
Bên cạnh đó, sau khi vượt ngưỡng 30,000 đồng/kg vào trung tuần
tháng 01/2008, trung tuần tháng 02/2008, giá thu mua cà phê nhân trong
nước tiếp tục tăng từ 1.500 – 2.000 đồng/kg so với cuối tháng 01/2008, lên
mức 33.000 – 33.200 đồng/kg, và tăng gần 50% so với cùng kỳ năm ngoái.
Theo số liệu thống kê, trong 20 ngày đầu tháng 01/2008, cả nước đã
xuất khẩu 108 nghìn tấn cà phê với trị giá 193,93 triệu USD, giảm 32,27%
về lượng và giảm 15,45% về trị giá so với cùng kỳ năm ngoái.
Giá cà phê có thể đạt mức kỷ lục !(20/02/2008 08:32)Giá cà phê
trong nước đã leo lên mức cao mới: 32.000-35.000 đồng/kg. Nhiều chuyên
gia dự báo, do sản lượng cà phê Việt Nam sụt giảm nên mức giá này có thể
đạt mức 40.000 đồng/kg. Nhiều DN đang găm hàng, chờ giá lên cao hơn
mới bán. C ó th ể n ói th ị tr ư ờng xu ất kh ẩu c à ph ê ch ưa bao gi ờ s ôi đ
ộng đ ến v ậy. Nguyên nhân khiến giá cà phê leo thang ngay trong những
ngày đầu năm là do sản lượng cà phê Việt Nam - nước sản xuất cà phê
robusta hàng đầu thế giới, niên vụ 2007-2008 hao hụt 20-30% so với dự
tính. Hạn hán đầu vụ cộng với mưa lũ trong tháng 8/2007 đã làm nhiều vườn
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét