LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Tài liệu TIỂU LUẬN: Một số giải pháp và điều kiện chủ yếu nhằm lựa chọn công nghệ phù hợp khi chuyển giao công nghệ ở nước ta doc": http://123doc.vn/document/1050010-tai-lieu-tieu-luan-mot-so-giai-phap-va-dieu-kien-chu-yeu-nham-lua-chon-cong-nghe-phu-hop-khi-chuyen-giao-cong-nghe-o-nuoc-ta-doc.htm
chung của đất nước nếu xí nghiệp sử dụng công nghệ tiên tiến để mang lại lợi ích
cho xí nghiệp và góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế của đất nước. Thêm vào
đó, vì là người tiêu dùng, chúng ta không thể tiêu dùng quá khả năng của mình,
nghĩa là chúng ta mua công nghệ nhằm phát triển kinh tế đất nước với những
ràng buộc về tài chính, trình độ kỹ thuật và quản lý hiện thời của mình. Do vậy,
để phát triển kinh tế đất nước, chúng ta cần phải lựa chọn nhưng công nghệ tốt
nhất nhưng phải phù hợp với điều kiện của ta. Vậy công nghệ nào là công nghệ
thoả mãn những tiêu chuẩn vừa nêu trên - Có rất nhiều ý kiến trái ngược nhau
được đưa ra. Chính vì điều đó, chúng ta cần phải có các tiêu thức lựa chọn công
nghệ thích hợp.
3. Các tiêu thức lựa chọn công nghệ thích hợp.
Công nghệ thích hợp có mục tiêu cơ bản là đáp ứng nhu cầu cos bản của
nhân dân, đặc biệt dân nông thôn.
Công nghệ thích hợp có khả năng thu hút số lượng lớn lao động, trong đó
có lao động nữ.
- Công nghệ thích hợp bảo tồn và phát triển công nghệ truyền thống và tạo
ra các ngành nghề mới.
- Công nghệ thích hợp đảm bảo chi phí thấp, kỹ năng thấp.
- Công nghệ thích hợp tạo ra khả năng hoạt động cho các cơ sở sản xuất
nhỏ vừa lớn kết hợp.
- Công nghệ thích hợp tiết kiệm tài nguyên.
- Công nghệ thích hợp có khả năng thu hút sử dụng dịch dụ và nguyên vật
liệu trong nước.
- Công nghệ thích hợp phải sử dụng được phế liệu và không gây ô nhiễm
môi trường
- Công nghệ thích hợp tạo cơ hội tăng trưởng kinh tế xã hội và đông đảo
quần chúng nhân dân.
- Công nghệ thích hợp tạo ra sự phân phối rộng rãi và giảm sự không bình
đẳng trong thu nhập.
- Công nghệ thích hợp không gây xáo trộn đối với VHXH.
- Công nghệ thích hợp tạo tiền đề để tăng cường xuất khẩu, phân công hợp
tác quốc tế.
- Tạo tiềm năng nâng cao dần năng lực công nghệ.
- Công nghệ thích hợp được hệ thống chính trị chấp nhận.
Tóm lại, sự thích hợp của công nghệ không phải là bản chất nội tại của bất
kỳ một công nghệ nào mà nó xuất phát từ môi trường xung quanh trong đó công
nghệ được sử dụng. Chính con người xác định sự thích hợp bằng cách phối hợp
tối đa hiệu quả và tối thiểu hậu quả của công nghệ cho hiện tại cũng như tương
lai, hơn nữa môi trường xung quanh đòi hỏi được xem xét một cách toàn diện.
II. Phần thứ hai
Thực trạng chuyển giao công nghệ ở Việt Nam
1. Thực trạng công nghệ nước ta.
Bức tranh về công nghệ có thể được khắc hoạ qua các khía cạnh sau:
- Tuổi trung bình của máy móc thiết bị là cao, khoảng vài chục năm. Mức
hao mòn hữu hình của MMTB phổ biến khoảng 10 - 60%, có nơi còn nhiều hơn
như thế. Số thiết bị máy móc đạt trình trung bình của thế giới còn ít. Nhìn chung
còn lạc hậu và thủ công. Hệ số cơ bản khí hoá chung trong nền kinh tế chỉ vào
khoảng 20%. Chính tình trạng lạc hậu của MMTB làm chung không đáp ứng
được yêu cầu của sản xuất - kinh doanh. Thêm vào đó, những biến động của nhu
cầu và tình thế đòi hỏi các doanh nghiệp phải chuyển hướng kinh doanh.
- Năng lực nghiên cứu, triển khai và tiếp thu phát triển công nghệ ở các
doanh nghiệp còn yếu, thiếu. Đặc biệt là ở những dây truyền, công đoạn, quy
trình sản xuất đòi hỏi tay nghề và kiến thức về công nghệ cao. Hiện tại trong nền
kinh tế mới chỉ có khoảng hơn 10% lực lượng lao động đã qua đào tạo nhưng
trong số đó một bộ phận không nhỏ cần phải đào tạo lại và cập nhật kỹ năng mới.
- Cơ cấu nhân lực còn bất hợp lý và mất cân đối nghiêm trọng, không đáp
ứng được yêu cầu của CNH - HĐH.
- Kỷ luật và tác phong lao động còn lỏng lẻo, thiếu nghiêm túc đối với công
việc, thiếu động lực để sáng tạo và lao động.
- Mức độ và trình độ tin học hoá và xử lý thông tin còn thấp và chậm làm
cho các quyết định về quản lý sản xuất, kinh doanh còn kém chính xác, chậm trễ,
chắp vá dẫn đến ảnh hưởng lớn tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp trong bối cảnh cạnh tranh thị trường.
- Điều kiện lao động nhìn chung còn chưa đáp ứng tiêu chuẩn về vệ sinh, an
toàn lao động, cũng như về môi trường lao động.
Ngoài ra thì còn có một số vấn đề vướng mắc:
- Tiêu hao nhiều nguyên vật liệu, năng lượng. Giá thành sản phẩm cao, các
chỉ tiêu này so với mức trung bình của thế giới và khu vực thì thua kém từ vài lần
cho đến vài chục lần tuỳ theo loại sản phẩm.
- Chất lượng sản phẩm sản xuất ra còn thấp, khó cạnh tranh với các sản
phẩm cùng loại của nước ngoài.
- Mẫu mã đơn điệu, kém hấp dẫn và chắp vá.
- Chi phí quản lý trong các ngành sản xuất cao: lắp ráp điện tử: 21 - 37%;
thi công bê tông: 14,5%; thủy tinh 11%.
- Năng lực và khả năng cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ Việt Nam yếu.
- Thị trường cho sản phẩm và dịch vụ Việt Nam còn hạn hẹp.
- Sức tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ Việt Nam còn chậm, hàng hoá ứ đọng
nhiều.
Qua số liệu trên đây đã phần nào khẳng định bức tranh công nghệ khong
mấy sáng sủa của các doanh nghiệp Việt Nam.
Sau đây là kết quả nghiên cứu, một vài nhận xét có liên quan đến công nghệ
ở các doanh nghiệp chọn lựa ở Việt Nam rút ra từ một dự án do Tổ chức phát
triển công nghiệp của Liên hợp quốc (UNIDO) tài trựo và Viện chiến lược phát
triển thuộc Bộ kế hoạch và đầu tư thực hiện 1998 như sau:
* Các doanh nghiệp chế biến thực phẩm : Vốn cố định nhỏ, quy mô doanh
nghiệp nhỏ (62% các doanh nghiệp này có số lao động ít hơn 10 công nhân).
Công nghệ đơn giản cũ kỹ, khả năng cạnh tranh của sản phẩm không chấp nhận
được.
Các doanh nghiệp xay sát gạo cho xuất khẩu: Chỉ có một số ít nhà máy này
loại lớn là có khả năng, bảo đảm chất lượng cho xuất khẩu. Nhưng hạ tầng, bến
cảng nơi xuất khẩu gạo Việt Nam còn kém, chi phí bốc xếp cao gấp đôi ở
Băngkoc, Thái Lan, trong khi đó tốc độ bốc dỡ lại rất chậm.
* Các doanh nghiệp chế biến cà phê: Chất lượng (chỉ có 2% số lượng cà
phê xuất khẩu ở Việt Nam thoả mãn yêu cầu ngặt nghèo của loại 1). Máy móc
chế biến tương đối đơn giản, hệ thống nghiên cứu và triển khai không phù hợp
với tầm quan trọng của ngành này.
* Các doanh nghiệp chế biến rau quả: Chất lượng sản phẩm còn là một vấn
đề lớn. Công nghệ đóng hộp rất lạc hậu (vẫn sử dụng phương pháp hàn thiếc )
* Doanh nghiệp chế biến hải sản: Bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh sản phẩm hải
sản chế biến. Tỷ lệ sản phẩm có giá trị giá tăng cao còn thấp. Công nghệ chế biến
còn chưa cao và không đồng bộ (rất ít nhà máy có trang thiết bị hợp lý để xử lý
nguyên liệu thô trước khi đưa vào chế biến)
* Doanh nghiệp dệt may: máy móc thiết bị lạc hậu, đặc biệt là ngành dệt
(trong số các doanh nghiệp quốc doanh, có khoảng 15% máy móc đạt chất lượng
sản xuất, 45% cần được sửa chữa, 40% còn lại cần được thay thế). Công nghệ
quản lý doanh nghiệp nhà nước xơ cứng, kém năng động.
* Các doanh nghiệp ngành điện tử: chưa có phát triển thiết kế gốc và chế
tác mang tính thương mại. ít công nhân đa kỹ năng. Chất lượng sản phẩm chưa
hoặc ít có sản phẩm đạt tiêu chuẩn ISO 9000. Chưa có khả năng cạnh tranh quốc
tế.
* Các doanh nghiệp công nghiệp ô tô: Đầu tư cơ bản nhỏ so với mức cần
thiết để đảm bảo chất lượng sản phẩm. Công nghệ hầu như là lắp ráp (100% ô tô
được lắp ráp dưới dạng CKD). Chi phí lắp ráp cao (gấp 5 lần so với chính quốc).
Tỷ lệ khai thác năng lực máy móc thiết bị thấp.
* Các doanh nghiệp cơ khí: Máy móc cũ kỹ và hỗn tạp, hệ thống sản xuất
lỗi thời. Trình độ công nghệ ở tất cả các giai đoạn của quá trình sản xuất cơ khí
không phù hợp để sản xuất các sản pamr có chất lượng và hiệu quả cao
Từ những số liệu trên cho ta thấy nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó là do:
- Công nghệ không đồng bộ, mất cân đối làm cho nhiều loại máy móc thiết
bị ít hoặc không được sử dụng.
- Máy móc thiết bị cũ kỹ, lạc hậu, hay hư hỏng, thời gian ngừng việc để sửa
chữa lớn.
- Sức ép của đối thủ cạnh tranh nước ngoài, làm doanh nghiệp phải giảm
hoặc ngừng sản xuất dẫn đến tình trạng không dùng hết công suất của máy móc
thiết bị. Đánh giá một cách khách quan tình hình lạc hậu, yếu kém của công nghệ
và thiết bị, sự cạnh tranh gay gắt đã tạo ra sức ép.
2. Thực trạng về chuyển giao công nghệ ở nước ta:
a. Công nghệ được chuyển giao chưa phải thuộc loại tiên tiến, hiện đại như
đã nên ở trên theo đánh giá chung, số máy móc, thiết bị trong các doanh nghiệp
Nhà nước đạt trình độ hiện đại trung bình của TG nhìn chung còn ít. Số công
nghệ nhập đạt trình độ hiện đại, tiến tiến lại càng hiếm. Nguyên nhân của thực
trạng này có nhiều, cos trừ giá chuyển giao, cả từ giá nhận chuyển giao công
nghệ.
- Về giá chuyển giao công nghệ, các đối tác nước ngoài vì mục tiêu tìm
kiếm lợi nhuận cao và nhanh nên ít chịu đầu tư chuyển giao loại công nghệ hiện
đại tiên tiến thường là đắt tiền, thời gian hoàn vốn dài hơn,. Thậm chí có nhiều
trường hợp lợi dụng sự kém hiểu biết của bên nhận chuyển giao để trục lợi. Theo
ý kiến đánh giá của chuyên gia, có tới 25% trong số hàng vạn thiết bị đã nhập về
là đã qua sử dụng, được tân trang lại và nâng cấp bằng các cơ cấu điều khiển bán
tự động hoặc tự động và trong số các dự án đầu tư nước ngoài đang hoạt động
vẫn còn khá nhiều dây chuyền sản xuất sử dụng nhiều lao động thủ công hoặc có
trình độ cơ khí hoá thấp.
- Về phía nhận chuyển giao công nghệ thường là các doanh nghiệp nhà
nước, cũng có 2 loại nguyên nhân: chủ quan và khách quan.
* Những nguyên nhân chủ quan là:
+ Tâm lý ỷ lạim, trông chờ nhiều vào nhà nước.
+ Trình độ hiểu biết về công nghệ mới còn rất hạn hẹp.
+ Động cơ trục lợi cá nhân.
+ Thiếu đội ngũ cán bộ chuyên môn.
+ Thụ động trong công việc tìm kiếm công nghệ và trong đàm phán, ký kết.
+ Thiếu định hướng chiến lược lâu dài về sản xuất kinh doanh.
* Những nguyên nhân khách quan đối với doanh nghiệp là:
+ Môi trường kinh tế xã hội (luật, chính sách tài chính, tiền tệ, lao động, đất
đai, sở hữu công nghiệp ) còn chưa thật phù hợp và hấp dẫn.
+ Bộ máy quản lý nhà nước hoạt động còn nhiều yếu kém, bất cập đối với
hoạt động chuyển giao công nghệ.
+ Thiếu hệ thống mạng lưới thông tin về công nghệ và các dịch vụ hỗ trợ
cần thiết và hữu hiệu khác cho hoạt động chuyển giao công nghệ của các doanh
nghiệp nói chung và doanh nghiệp nhà nước nói riêng.
+ Năng lực nghiên cứu và triển khai về khoa học công nghệ của đất nước
còn nhiều yếu kém và bất cập, chưa đủ “nội lực” cần thiết để làm cơ sở cho việc
tiếp thụ và phát triển các công nghệ nhập trong điều kiện cụ thể của Việt Nam.
* Theo thống kê những vấn đề chủ yếu đang cản trở hoạt động đổi mới
công nghệ ở các doanh nghiệp nhà nước cũng như các doanh nghiệp không phải
nhà nước là:
- Thiếu nguồn lực cần thiết (vốn, nhân lực )
- Thiếu thông tin về công nghệ
- Nhiều vướng mắc và cản trở trong môi trường sản xuất, kinh doanh còn
chưa được tháo gỡ.
- Thiếu các dịch vụ hỗ trợ cần thiết (tài chính, tín dụng, ngân hàng, thị
trường )
- Thiếu phối hợp giữa các nguồn lực cũng như các tổ chức quản lý và sản
xuất kinh doanh.
b. Chưa có thiết kế tổng thể về vấn đề lựa chọn công nghệ.
+ Sự thiếu hụt này bao gồm từ định hướng chiến lược với những ưu tiên
công nghệ cho tới việc xây dựng khung chính sách, tạo môi trường thuận lợi cho
các doanh nghiệp.
+ Về phía nhà nước, còn thiếu một chiến lược phát triển khoa học công
nghệ dài hạn ở tầm quốc gia những quan điểm, định hướng, phối hợp hành động
ở cấp bộ, ngành và các doanh nghiệp. Do vậy mà sự trùng lắp, thừa thiếu đồng
bộ, sự thiệt hại lớn về kinh tế trong các hợp đồng mua bán công nghệ, là hệ quả
tất yếu của sự thiếu hụt này.
+ Chưa có sự hỗ trợ cần thiết về chính sách, cơ chế cũng như các hỗ trợ
khác (những ưu đãi hoặc bảo hộ, hệ thống thông tin về công nghệ) sự lúng túng
trong quản lý công nghệ ở các bộ, ngành có nguyên nhân quan trọng bắt nguồn từ
thiếu hụt này.
+ Tình trạng thiếu đồng bộ, chắp vá, chồng chéo thậm chí còn mâu thuẫn
nhau là những biểu hiện của thiếu hụt này.
- Còn chưa xây dựng được một năng lực nội sinh của quốc gia về khoa học
công nghệ, trước hết là về nghiên cứu, triển khai, đủ sức hỗ trợ cho việc tiếp thu
công nghệ trong nền kinh tế nói chung và trong doanh nghiệp nói riêng.
- Về phía các doanh nghiệp nhà nước:
+ Còn thiếu một chiến lược sản phẩm làm cơ sở định hướng. Nhìn chung,
những khó khăn chung, hiện tại vẫn làm cho các doanh nghiệp nhà nước chủ yếu
loay hoay và xoay sở để tồn tại chứ chưa phải là để phát triển.
+ Còn thiếu đội ngũ cán bộ KHCN và công nhân kỹ thuật lành nghề đủ sức
và đủ trình độ nắm bắt, lựa chọn, tiếp thụ và vận hành công nghệ mới, tiên tiến.
c. Những công nghệ được chuyển giao đổi mới trong thời gian qua chưa
tạo được lực đẩy cần thiết cho việc tiếp tục nâng cao năng lực công nghệ và tự
đổi mới công nghệ thể hiện như sau:
- Những chuyển giao về công nghệ cho đến nay được thực hiện chủ yếu
trong lĩnh vực lắp ráp, gia công, chế biến (sản xuất hàng tiêu dùng). Trong lĩnh
vực công nghiệp chế biến máy, đặc biệt là máy công cụ, việc chuyển giao công
nghệ được thực hiện chưa được bao nhiêu. Nhà máy công cụ số 1 - một doanh
nghiệp nhà nước đứng hàng đầu của cả nước với 527 thiết bị gia công cơ khí chủ
yếu nhưng lại không có thiết bị nào mới được chế tạo cách đây 10 năm.
- Những chuyển giao công nghệ trong thời gian qua còn dừng lại ở khâu
tiếp nhận, vận hành, chứ chưa tạo ra được mối quan hệ chặt chẽ với các cơ quan
nghiên cứu, và triển khai công nghệ để nghiên cứu thích nghi, cải tiến công nghệ.
- Những công nghệ được chuyển giao cho đến nay phần lớn do phía nước
ngoài giới thiệu. Nhiều hợp đồng về chuyển giao công nghệ được ký kết với sự
soạn thảo sẵn của bên nước ngoài, kèm theo những điều khoản có lợi cho bên
chuyển giao công nghệ. Có thể nói rằng ở lĩnh vực này, doanh nghiệp nhà nước
đa phần bị động và thụ động.
d. Năng lực nội sinh của các doanh nghiệp nhà nước còn yếu, chưa đủ
khả năng tự ra quyết định trong vấn đề công nghệ được thể hiện:
- Năng lực nắm bắt và cập nhật cũng như xử lý thông tin có liên quan đến
công nghệ còn rất hạn hẹp, do đó sự thiếu hụt này có ảnh hưởng tiêu cực và lâu
dài không chỉ tới hướng phát triển của doanh nghiệp mà trong nhiều trường hợp
còn cả tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Năng lực lựa chọn và quyết định về công nghệ còn rất hạn chế. Sự thiếu
hụt này một phần bắt nguồn từ những thiếu hụt về thông tin, về đội ngũ cán bộ
một phần khác cũng rất quan trọng, đó là ý thức, phẩm chất những cán bộ có
trách nhiệm và liên quan tới việc lựa chọn và quyết định công nghệ.
- Năng lực đàm phán trong hoạt động công nghệ còn yếu, điều này thể hiện
ở sự bị động, thụ động trong đàm phán ký kết các hợp đồng về chuyển giao công
nghệ.
Một báo cáo gần đân của Bộ khoa học công nghệ và môi trường cho thấy:
Trong số hơn 2000 dự án đầu tư nước ngoài được cấp phép mới chỉ có 94 hợp
đồng chuyển giao công nghệ (chiếm 0,047%) được trình lên Bộ khoa học công
nghệ và môi trường.
e. Sự thiếu đồng bộ, thiếu hoàn chỉnh của cơ sở hạ tầng kinh tế cho hoạt
động chuyển giao công nghệ thể hiện:
- Hệ thống giao thông vận tải yếu kém không chỉ làm nản lòng các nhà đầu
tư chuyển giao công nghệ mà làm cho hoạt động đổi mới công nghệ bị hạn chế
phát huy tác dụng vừa được phân bổ không đều giưã các vùng, khu vực và lãnh
thổ của đất nước,.
- Hệ thống dịch vụ hỗ trợ (tài chính ngân hàng, xúc tiến đầu tư) còn yếu
kém.
3. Những tồn tại và mâu thuẫn chủ yếu trong chuyển giao công nghệ ở
nước ta trong thời gian qua.
a. Chuyển giao công nghệ trong điều kiện đổi mới công nghệ lẻ tẻ.
Thiếu quy hoạch và chiến lược, thiếu sự gắn bó giữa phương hướng đổi
mới, chuyển giao công nghệ với chiến lược phát triển cũng như chiến lược kinh
doanh. Điều này thể hiện qua các mặt sau:
- Các doanh nghiệp thực hiện chuyển giao công nghệ do sức ép của thị
trường chứ không phải do chủ động theo kế hoạch.
- Các công nghệ được chuyển giao phần lớn do phía nước ngoài giới thiệu
chứ không phải tự các doanh nghiệp tìm kiếm hoặc tự nghiên cứu thiết kế.
- Công nghệ được chuyển giao trong lúc còn nhiều điều kiện, tiền đề cần
thiết (về cơ sở hạ tầng, thị trường, lao động, tièn vốn )
- Tình trạng nhập máy móc, thiết bị lẻ nhiều và phổ biến hơn là các dây
chuyền đồng bộ và khép kín.
- Các phương hướng, chủ trương và chiến lược của các cơ quan quản lý
ngành chưa gắn bó với phương hướng, dự án đổi mới công nghệ và kỹ thuật của
các doanh nghiệp.
- Các doanh nghiệp đang gặp nhiều lúng túng trong việc xác định hướng
doanh nghiệp và chiến lược kinh doanh. Nhiều doanh nghiệp thực hiện chọn
công nghệ mới cũng chính làthực hiện sự chuyển hướng kinh doanh.
Tình trạng này không chỉ hạn chế hiệu quả sản xuất kinh doanh, mà còn
hạn chế trình độ kỹ thuật của sản xuất (trong mỗi dây chuyền luôn có những
thiết bị lạc hậu so với những loại khác) và làm giảm tính đồng bộ cần thiết của
công nghệ.
b. Trình độ công nghệ và trình độ thiết bị, máy móc sau khi chuyển giao
vẫn thấp; chưa phải là hiện đại. Một cuộc khảo sát với hơn 700 thiết bị, 3 dây
chuyền tại 42 nhà máy cho thấy kết quả sau:
- 76% số máy mới nhập thuộc thế hệ máy 1950 - 1960.
- Hơn 50% máy móc thiết bị là đồ cũ tân trang lại.
Kết quả điều tra, đánh giá trình độ công nghệ trong ngành công nghiệp nhẹ
cũng cho thấy:
- 46% doanh nghiệp có trình độ công nghệ ở mức trung bình khá.
- 40% doanh nghiệp có trình độ công nghệ trung bình cần được cải tiến.
- 14% doanh nghiệp có trình độ công nghệ thấp cần được đổi mới.
Kết quả này phản ánh trình độ công nghệ của các doanh nghiệp đã có sự
đầu tư, đổi mới công nghệ (cũng bằng con đường chuyển giao là chính) ở các
doanh nghiệp khác, trình độ công nghệ còn thấp hơn, nghĩa là mục tiêu đổi mới
công nghệ nâng cao trình độ kỹ thuật về cơ bản là chưa đạt hoặc đạt mức thấp,
ngay sau khi chuyển giao công nghệ đã nảy sinh nhu cầu đổi mới hoặc tìm kiếm
công nghệ khác để thay thế.
Thực tế này không những gây lãng phí mà còn làm tăng thêm sự lạc hậu về
công nghệ của nền kinh tế. ở đây có hai nguyên nhân chủ yếu là phía Việt Nam
thiếu thông tin về các loại công nghệ cần thiết có thể chuyển giao và những tiêu
cực nảy sinh trong quá trình chuẩn bị và thực hành chuyển giao công nghệ.
c. Những nhân tố tạo ra sức cản nhất định đối với chuyển giao công
nghệ. Những nhân tố chủ yếu, quan trọng nhất là:
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét