Thứ Ba, 22 tháng 4, 2014

nghệ thuật


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "nghệ thuật": http://123doc.vn/document/569682-nghe-thuat.htm


Hình thức bao gồm các khía cạnh cấu trúc, kết cấu, xây dựng thể loại của nghệ thuật, nó gắn với nội dung và đôi
khi trở thành nội dung một cách trực tiếp. Hình thức cũng có thể là phương tiện vật chất được tổ chức theo một
cách thức nhất định để thể hiện nội dung.
Bố cục là phương thức xây dựng tác phẩm nghệ thuật, là nguyên tắc liên hệ giữa các thành tố và bộ phận cùng
kiểu và khác loại cho nhất trí với nhau và với chỉnh thể.
Cốt truyện là tổng hoà các sự kiện có liên hệ liền nhau theo thời gian và không gian, được miêu tả trong tác
phẩm.
Trong các loại hình nghệ thuật không gian (kiến trúc, điêu khắc) thì yếu tố không gian chuyển hóa thành nội dung
trực tiếp. Trong các loại hình nghệ thuật thời gian (văn chương, âm nhạc), yếu tố không gian chuyển hóa thành
nội dung gián tiếp. Ngược lại, thời gian nghệ thuật trở thành nội dung trực tiếp trong các nghệ thuật thiên về thời
gian và thành nội dung gián tiếp trong các loại hình thiên về không gian.
Chất liệu nghệ thuật là cơ sở vật chất của tác phẩm nghệ thuật, nhờ nó mà ý đồ nghệ thuật đươc khách quan
hóa, ta thường gặp các chất liệu như ngôn từ, vật liệu, đạo cụ nhà hát, sàn sân khấu, trường quay… Việc sử dụng
chất liệu nghệ thuật phụ thuộc vào ý đồ, thiên hướng, phong cách của nghệ sĩ.
Ngôn ngữ nghệ thuật là hệ thống các phương tiện vật chất biểu hiện ở một loại hình nghệ thuật nhất định. Thí
dụ, ngôn ngữ nghệ thuật của hội họa là màu sắc, bút pháp, bố cục, chiều sâu trên mặt phẳng…; ngôn ngữ nghệ
thuật của thơ ca là ngữ điệu, âm điệu, vần luật, âm hưởng, ngữ âm…
Giữa nội dung và hình thức nghệ thuật có sự thông nhất biện chứng, biểu hiện ở chỗ: Nội dung là nội dung của
hình thức, hình thức là hình thức của nội dung nhất định.
Nội dung nghệ thuật đóng vai trò chủ đạo, quyết định đối với hình thức nghệ thuật. Khi nội dung thay đổi thì hình
thức cũng thay đổi theo.
Nội dung có xu hướng đổi mới thường xuyên, bởi nó gắn bó trực tiếp hơn đối với thực tại đang phát triển và trạng
thái tinh thần của nghệ sĩ. Trong khi đó, hình thức kém năng động hơn, có xu hướng tụt lại sau nội dung, kìm
hãm sự phát triển của nội dungg. Chính vì vậy hình thức có ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến nội dung.
Các loại hình nghệ thuật và cách thưởng thức nghệ thuật
Thưởng thức nghệ thuật là thưởng thức các tác phẩm cụ thể, với một loại hình cụ thể.
Nghệ thuật có một số loại hình sau:
- Kiến trúc, điêu khắc, hội họa (thuộc nhóm nghệ thuật không gian)
- Văn học, kịch, âm nhạc (thuộc nghệ thuật thời gian)
- Múa, điện ảnh, phim truyền hình, sân khấu truyền hình…(thuộc các nghệ thuật không - thời gian).
Kiến trúc:
Lúc đầu con người sống trong các hang động, nhưng sau con người phát triển lên, nhiều lên hang động không
còn phù hợp nữa. Con người đã xuống đồng bằng và miền biển, nên họ tìm cách làm nhà để ở. Lúc đầu là sự mô
phỏng tự nhiên hang động và không gian sinh tồn của loài vật. Sau đó là sự sáng tạo kết hợp giữa cái tự nhiên và
tưởng tượng của con người. Nghệ thuật kiến trúc ra đời từ đó.
Như vậy, Kiến trúc là một nghệ thuật nhằm kết hợp cái đẹp với cái thực dụng để sáng tạo không gian sinh tồn
của con người.
Tất nhiên, cần hiểu hai cấp độ “không gian sinh tồn của con người”. Ở cấp độ thực dụng, đó là kiến trúc thỏa
mãn nhu cầu vật chất: nhà ở, cửa hàng, bến xe, bến cảng, nhà máy, xí nghiệp… Ở cấp độ sáng tạo “không gian
sinh tồn tinh thần”, kiến trúc thỏa mãn nhu cầu văn hóa như: rạp hát, quảng trường, công viên, đền, chùa, tháp,
nhà thờ…
Ngay từ thời cổ Hy Lạp, cách ta khoản 2.600 năm, con người đã xây dựng được một quần thể kiến trúc trên đồi
Acrôpôn. Trong quần thể này, có điện Páctênông (thờ thần Mặt trời), Điện Êrectêiông, Miếu thờ Nữ thần chiến
thắng (Nikê), và Cổng Prôpilây (một bản Sônát bằng đá). Ở Pháp có nhà thờ Đức Bà ở Pari. Ấn Độ có Taj Mahan,
Khajurahô, Xăng chi…Ở Việt Nam có chùa Tây Phương, chùa Bút Tháp, Nhà thờ lớn, Nhà thờ Kẻ Sặt…
Kiến trúc bao gồm các loại công trình nhà cửa, pháo đài, lăng mộ, nhà thờ, đền đài với các vật liệu khác nhau
như: gỗ, đã, kim loại… Kiến trúc phản ánh tư tưởng về cái đẹp thông qua việc tạo ra cảm xúc hoành tráng, cao
cả, nhỏ bé, âm u, tươi sáng, ấm áp hay lạnh lẽo. Nên không thể hiện phẩm chất thẩm mỹ và tư tưởng thì đó chỉ
là xây dựng đơn giản mà thôi.
Vì vậy, khi thưởng thức công trình kiến trúc, rất cần chú ý tới giá trị thẩm mỹ và giá trị sử dụng. Thưởng thức một
công trình kiến trúc là thưởng thức tổng thể các khía cạnh của nó như: sự chiếm lĩnh hợp lý của công trình trong
không gian; quy mô và tỷ lệ, hình tượng và phong cách, ý nghĩa tinh thần xã hội…
Điêu khắc:
Điêu khắc là nghệ thuật tạo hình bằng cách phối mảng, khối, nét trong không gian đa chiều để biểu hiện các giá
trị tinh thần của con người cũng như các phương tiện của đời sống.
Điêu khắc còn chia ra thành: Tượng đài kỷ niệm mang tính hoành tráng, thường đặt ngoài trời. Tượng trang trí
(gắn vào công trình kiến trúc, hoặc đặt ở trong phòng)…
Điêu khắc còn phân chia theo chất liệu: tượng đá, tượng gỗ, tượng đồng, tượng xi măng, tượng đất nung…
Thông thường, điêu khắc không dùng màu để tô điểm mà để màu của chất liệu phô ra. Tượng đá cẩm thạch
trắng tạo nên cảm xúc trang trọng, tinh khiết nhưng bền vững. Tượng đá đen tạo nên cảm xúc thâm trầm, lắng
đọng. Tượng gỗ tạo nên sự ấm cúng, gần gũi. Tượng đồng đen tạo nên cảm giác uy nghiêm, khâm phục… cũng
có những tượng tô màu như: tượng Phật, tượng Chúa. Tượng phật của Việt Nam thường làm bằng gỗ mít. Tượng
làm xong đem phủ sơn ta. Màu sơn phủ màu cánh dán đỏ sẫm, như các tượng chùa Tây Phương, các tượng chùa
Phúc Khánh trước cửa bưu điện quận Đống Đa (Hà Nội), hoặc phủ màu đen hoàn toàn như tượng Tuyết sơn tại
chùa Bút Tháp (Hà Bắc)…
Như vậy, màu sắc trong điêu khắc không đóng vai trò là một phương tiện cơ bản, nó chỉ có tính chất bổ trợ. Ngôn
ngữ cơ bản của điêu khắc là khối, mảng, nét, để tạo nên hình thể - thực thể trong không gian trực tiếp. Điêu khắc
tạo nên hình tượng cảm quan của thị giác mang tính biểu cảm cả về hình thái lẫn tỉ lệ của cơ thể, cùng điệu bộ và
tư thế trong trạng thái sống của tinh thần thời đại.
Điêu khắc mang tính “đối thoại ngầm”, nhưng trực tiếp giữa hình tượng và người xem. Chính vì thế, tượng vua
Quang Trung đặt ở sau gò Đống Đa bị khuất quá nên giảm tính đối thoại với con cháu đương thời.
Hội họa:
Là nghệ thuật của màu sắc, đường nét, sáng tối, được bố cục trong mặt phẳng, hội hoạ còn được tôn vinh là “bà
chúa” của cái đẹp màu sắc, quả thật chưa có nghệ thuật nào đòi quyền so sánh với hội họa trong lĩnh vực biểu
hiện sự phong phú của cuộc sống qua màu sắc.
Hội họa dùng các biện pháp phối màu, tạo hòa điệu hoặc đối chọi sáng, tối; tạo nhịp điệu của đường nét và hình
thái trong kết cấu tĩnh hoặc động để tạo nên sức mạnh biểu cảm.
Hội họa là nghệ thuật phát triển khả năng thưởng ngoạn tối đa của thị giác trực tiếp và cảm quan cụ thể đối với
nhân vật là hiện tượng tái hiện trong tranh.
Hội họa còn là một “lát cắt ngang” bắt cuộc sống dừng lại trong “khoảnh khắc” để vấn hỏi con người. Tác phẩm
Marát của danh họa Đavít (Pháp) cho ta thấy cái giây phút Marát vừa bị kẻ thù đâm chết. Máu đã loang đỏ trong
bồn tắm, đầu ông đã nghẹo sang một bên, nhưng tay phải vẫn chưa rời cây bút, tay trái vẫn chưa rời bức thư.
Song, qua khoảnh khắc này, Đavít đã thành công trong ý tưởng muốn thể hiện một mẫu người công dân anh
hùng - đến chết vẫn không rời nhiệm vụ.
Hội họa chia ra thành hội họa hoành tráng và hội họa giá vẽ. Loại hoành tráng kết hợp với kiến trúc nơi công
cộng. Loại này dùng các chất liệu bền vững để thể hiện như: ghép đá màu, ghép gốm, ghép đồng, có nơi dùng
vàng, bạc, đá quý để tạo nên các tranh thánh. Loại giá vẽ thể hiện một mặt nào đó của cuộc sống con người,
nhưng kích cỡ, cỡ vừa đủ treo được lên tường, trong phòng.
Người ta còn chia hội họa theo chất liệu như: tranh sơn dầu, tranh sơn mài, tranh lụa… Còn chia theo chủ đề
hoặc theo đối tượng thể hiện như: tranh phong cảnh, tranh lịch sử, tranh tĩnh vật, tranh chân dung, tranh thờ,
tranh cổ động, tranh minh họa sách báo…
Âm nhạc:
Âm nhạc là nghệ thuật thính giác, chuyên sử dụng âm thanh; cụ thể là nó sử dụng cơ cấu giai điệu, âm điệu, nhịp
điệu, âm sắc, cường độ…được phát ra từ giọng nói con ngươi, gắn liền với ngôn ngữ và lệ thuộc một mức độ
quan trọng vào ngôn ngữ; hoặc phát ra từ những công cụ nhân tạo đặc thù (gọi là nhạc cụ) – các nhạc cụ này
thực chất phù hợp rất nhiều với những quy luật âm thanh thuộc giọng người.
Sức biểu hiện của âm nhạc là sức chở nội dung cảm xúc, tình cảm, hình tượng mang tính thẩm mỹ cao của các
âm thanh, có ý nghĩa nhân văn.
Con người chỉ có hai cửa ngõ tâm hồn quan trọng nhất để giao tiếp thẩm mỹ là thị giác (mắt) và thính giác (tai).
Qua cửa ngõ thị giác, có tới hầu hết các loại hình nghệ thuật cùng đi chung như: kiến trúc, điêu khắc, hội họa,
múa… còn cửa ngõ thứ hai – thính giác, là cửa ngõ ưu tiên gần như hoàn toàn giành cho âm nhạc.
Hình tượng âm nhạc mang tính trừu tượng hơn và cũng trực tiếp hơn so với các loại hình nghệ thuật khác. Nghệ
thuật nào cũng hướng tới tâm hồn con người, nhưng âm nhạc là “ngôn ngữ trực tiếp của tâm hồn”, nó gõ vào tận
ngóc ngách của tâm linh. Chính vì thế, ngay từ thời cổ đại, nhà triết học kiêm toán học Pitago đã dùng âm nhạc
để chữa bệnh. Âm nhạc có thể biểu hiện những tâm trạng tế nhị, xa xăm cho đến những tư tưởng xã hội có ý
nghĩa lớn.
Âm nhạc đòi hỏi sự phát triển của đề tài, chủ đề và hình tượng liên tục trong thời gian.
Âm nhạc chia ra thành các loại thể: ca khúc, ca kịch, nhạc kịch, thanh nhạc, khí nhạc…
Hình thức “tinh khiết” điển hình của âm nhạc là khí nhạc. Hình thức “đồ sộ” của âm nhạc là giao hưởng. Nổi bật
có thể kể tới bản giao hưởng “Định mệnh” của Bettôven; bản giao hưởng số 6 của Traikốpxki; bản giao hưởng số
7 của Sôxtacôvích.
Bản giao hưởng “định mệnh” của Bettôven mở đầu băng tiếng gõ cửa và kết thúc cũng bằng tiếng gõ cửa ấy. Chủ
đề âm nhạc được triển khai từ tiếng gõ cửa này: cảm giác như con người đang sống trong căn phòng ấm áp của
mình, bỗng “định mệnh” đến gõ cửa; nó xo vào, dồn con người tới sát góc tường. Sau con người tổ chức lại, hợp
sức lại, đuổi được “định mệnh ra khỏi cửa; nó bật ra rồi, nhưng còn cố ngoái lại bảo rằng: “Nếu con người không
cảnh giác, một ngày kia nó sẽ qua trở lại”. Toàn bộ giao hưởng thể hiện một tinh thần anh hùng cao cả, nhưng
cũng đầy kịch tính. Hình tượng mà tác phẩm Bettôven muốn phản ánh là những biến cố cách mạng 1789 – 1794,
thời đại xuất hiện vai trò của quần chúng nhân dân, thời đại của những xung đột quân sự, kinh tế, chính trị, mà
kết quả rất quan trọng là dẫn tới sự hình thành ý thức dân tộc của các nước Châu Âu.
Âm nhạc có vai trò rất lớn đối với đời sống tinh thần, đặc biệt ảnh hưởng tới nhịp điệu sống sôi nổi, mạnh mẽ,
năng động không ngừng của thế hệ trẻ hôm nay. Với những phương tiện hiện đại, như các loại máy thu phát âm
nhạc, âm thanh đủ kiểu, nhất là âm thanh nổi đã nâng âm nhạc lên một vị trí cực kỳ quan trọng trong đời sống
hiện đại của con người.
Múa:
Là nghệ thuật tạo hình được xây dựng bằng những động tác chuyển động liên tục, giàu nhịp điệu, âm điệu, giàu
biểu cảm của chính cơ thể con người. nói một cách khác, múa là điêu khắc chuyển động trong nhịp điệu bằng
chất liệu của cơ thể diễn viên.
Múa không lời hoặc đi kèm với lời ca và nhạc đệm.
Múa chia làm nhiều loại: múa dân gian, múa cung đình. Múa giải trí (vũ hội), kịch múa… Cao nhất là vũ balê. Vũ
balê nảy sinh vào thế kỷ thứ XVIII. Balê là sự kết hợp nhảy múa với kịch câm. Balê cũng có thể coi là thành quả
kỹ thuật nhảy múa điêu luyện, tinh vi, phức tạp, kết hợp với âm nhạc tuyệt vời, nhằm diễn đạt những nội dung
đầy kịch tính, sâu xa, mãnh liệt của thế giới cảm xúc, của tình cảm muôn vẻ, và của cả tinh thần cao quý, đồ sộ
trong tâm hồn con người.
Với thành tựu âm nhạc của Traicốpxki, vũ balê đã mang theo tầm rộng lớn của nhạc giao hưởng, đó là sự hợp tấu
cực kỳ phong phú và tuyệt diệu về giai điệu.
Ở Việt Nam, nghệ thuật múa chưa thật sự phát triển. Trong kho tàng múa truyền thống, các dân tộc ít người của
ta lại có những điệu múa độc đáo. Người Thái, người Hơmông, các dân tộc vung Tây Nguyên, đều có những điệu
múa mang phong cách riêng. Song các động tác múa của các dân tộc anh em còn đơn giản, mang nặng tính trần
thuật, tính biểu cảm chưa cao.
Kịch:
Kịch là nghệ thuật tái hiện các cảnh huống của cuộc đời, các tính cách, các số phận con người đang hành động
trong hành lang của một cốt truyện đầy xung đột, với một bối cảnh thẩm mỹ nghiêm ngặt của không gian sân
khấu qua diễn xuất của diễn viên.
Thời cổ đại Hy Lạp, nhà mỹ học Aristốt (384 – 322 trước công nguyên) cho rằng, kịch có sáu phần cơ bản: cốt
truyện, tính cách, văn từ, ca khúc, trang trí, tư tưởng.
Như vậy kịch là một loại hình nghệ thuật mà ngoài âm nhạc, hội họa ra còn là những phương tiện để biểu đạt.
Muốn xây dựng một vở kịch, trước hết phải có kịch bản. Kịch bản phải dựa vào văn học, nên người ta thường gọi
là kịch bản văn học. Trong kịch bản văn học có cốt truyện, có văn từ. Kịch bản phải biểu hiện các tính chất của
nhân vật đang hành động. Các tính chất của các nhân vật đang hành động khác nhau nên làm thành các số phận
khác nhau. Các tính chất của các nhân vật bộc lộ thành các tính cách có cá tính khác nhau và va chạm với nhau.
Va chạm mạnh sẽ dẫn đến mâu thuẫn, mâu thuẫn gay gắt dẫn tới xung đột. Chính vì thế, kịch diễn ra ba bước: 1)
Thắt nút (các nhân vật có tính cách mạnh khi hành động đã va chạm với nhau), 2) Cao trào (va chạm mạnh mẽ
dẫn tới mâu thuẫn gay gắt và kéo thành xung đột), 3) Mở nút: xung đột được giải quyết (khi thì hòa bình, khi thì
dẫn tới cái chết của một trong hai phía xung đột với nhau, khi thì cả hai bên xung đột đều bị hủy hoại).
Vở Quan Âm Thị Kính là một vở chèo tuyệt tác Việt Nam có từ lâu đời. Thị kính lấy chồng là Thiện sĩ. Thị Kính nết
na, thùy mị, một lòng yêu thương chồng. Một tối, nàng ngồi vá áo; Thiện Sĩ ngả đầu đọc sách rồi ngủ thiếp đi.
Thị Kính thấy trên cằm chồng có chiếc râu mọc ngược; tiện có con dao nhỏ bổ trầu, Kính muốn lấy cái râu đó đi.
Nào ngờ Thiện Sĩ mở mắt, không biết trước sau, không thấu lòng vợ vu cho Thị Kính định giết chồng. Oan ức quá,
Thị Kính cắt tóc lên chùa giả trai nương cửa Phật. Trong làng có Thị Mầu (con gái phú ông) rất lẳng lơ, thấy chùa
có chú tiểu đẹp, ngày nào Thị cũng lên chùa tìm cách ghẹo Tiểu nhưng bị cự tuyệt. Khi Thị Mầu hoang thai, thị đổ
cho chú Tiểu. Tiểu Kính bị đẩy khỏi chùa, ôm bé ra ngoài cửa chùa lần hồi nuôi bé.
Cuối cùng một đêm mưa gió, rét buốt, Thị kính qua đời. Chỉ khi dân làng thay áo liệm cho “chú Tiểu”, người ta
mới biết tòan bộ nỗi oan cay nghiệt mà Thị Kính âm thầm chịu đựng bấy lâu từ nhà chồng đến ở chùa. Nỗi oan
của Thị Kính đến cửa Phật từ bi, bác ái đã đưa bà đến cõi Niết bàn.
Hiện nay ở nhiều chùa, trên bà thờ Phật, có tượng Thị Kính hiển Phật. Tượng này khác với các tượng Phật khác ở
chỗ, dưới chân bà có đứa bé, và phía trên bà có con vẹt (đó chính là anh chàng Thiện Sĩ) – một con vẹt hồ đồ
đến nỗi mất cả người vợ hiền.
Lối giải quyết xung đột của vở Quan Âm Thị Kính là lối kết thúc có hậu: “Ở hiền gặp lành, ác giả, ác báo”, đó là lối
kết thúc có đền đáp. Song cuộc đời rất đa dạng, lại cực kỳ phức tạp, không phải xung đột nào cũng được giải
quyết êm thấm, không phải số phận nào cũng được đền đáp. Khi con người bắt đầu bước vào chế độ tư bản,
những mâu thuẫn giữa người với người càng trở nên gay gắt, vì thế, ngay từ thế kỷ XVII, nhà viết kịch người Anh
là Xếchpia đã sáng tạo ra loại “sân khấu trắng”, nghĩa là khi màn nhung sắp sửa khép lại thì các nhân vật chính
đều chết hết. Vở Ôtenlô, khi sắp kết thúc, người ta khênh ra tới bốn xác chết. Vở Hămlét cũng vậy. Hămlét chết,
Ôphelia chết, anh và cha Ôphêlia chết, hoàng hậu và tên đầu độc vua cũng chết hết.
Kịch được chia thành nhiều loại thể: kịch nói, kịch hát, nhạc kịch (Ôpêra), vũ kịch…Trong kho tàng nghệ thuật dân
tộc, chúng ta có chèo, tuồng, cải lương – đều thuộc loại thể kịch hát. Chèo là sản phẩm sáng tạo điển hình của
đồng bằng Bắc Bộ. Tuồng tuy có “Tuồng Bắc”, “tuồng Nam”, nhưng nói đến tuồng là nói đến sản phẩm sáng tạo
điển hình của miền Trung. Còn cải lương là điển hình của sáng tạo Nam Bộ. Như vậy, rất công bình, mỗi miền
đóng góp vào kho tàng kịch hát dân tộc một loại thể độc đáo của mình làm nên sự phong phú của nền kịch hát
dân tộc.
Riêng kịch nói, khi chúng ta tiếp cận văn hóa Châu Âu – với cuộc sống có nhịp độ cao, với những xung đột gay
gắt, quyết liệt, bộc lộ trần trụi, kịch nói mới được hình thành ở nước ta. Các vở kịch nói đầu tiên ở nước ta là:
Chén thuốc độc của Vũ Đình Long (diễn buổi đầu tiên vào tối 22/10/1922 tại Nhà hát lớn Hà Nội đã được công
chúng nhiệt liệt tán thưởng). Sau đó, Vũ Đình Long lại cho ra đời tiếp vở: Tòa án lương tâm, Tây sương tân kịch.
Nguyễn Hữu Kim có các vở: Bạn và vợ, Thủ phạm là tôi, Giời đất mới. Vi Huyền Đắc sáng tác các vở: Uyên ương,
Hoáng Mộng Điệp, Hai tối tân hôn. Nhà viết kịch Nam Xương có các vở: Ông Tây An nam, Chàng ngốc. Trương Ái
Chủng có vở: Nghi ngốc. Đoàn Châu có: Dây oan…
Điện ảnh:
Có nhiều cách biểu hiện về điện ảnh:
- “Điện ảnh là nhiếp ảnh di động”.
- Điện ảnh là “nghệ thuật biến hình tượng tạo hình (hội họa, điêu khắc) đang từ bất động thành hình tượng
chuyển động phát triển trong thời gian”.
- Điện ảnh là “nghệ thuật sân khấu được trải rộng theo tòan bộ không gian và thời gian cuộc đời. Với điện ảnh,
toàn bộ cuộc đời là một sân khấu”.
- “Điện ảnh là nghệ thuật tái hiện hệ thống hình ảnh về cảm giác nổi đang chuyển động trong không gian ba
chiều”…
Các cách hiểu này có phần đúng, nhưng chưa tòan diện. Thực chất, điện ảnh là một nghệ thuật tổng hợp – nó
thu hút tất cả các nghệ thuật khác, biến chúng thành phương tiện biểu hiện, rồi kết hợp chặt chẽ với kỹ thuật
(phương tiện mang tính công nghệ), nhằm tái hiện cảm giác về các hình nổi trong không gian ba chiều đang diễn
ra một cách đầy cảm xúc, đầy biểu tượng, một cách liên tục, tòan diện về hoàn cảnh tạo ra biến cố, tạo ra tính
cách và số phận con người.
Nói một cách ngắn gọn, ta có thể thâu tóm bản chất của điện ảnh vào một hệ thống ba thành tố: 1) Tất cả các
nghệ thuật, 2) Kỹ thuật, 3) Hình tượng thị giác nổi và chuyển động (= điện ảnh). Như vậy, tất cả các nghệ thuật
khác đều bị hút vào điện ảnh như: văn hcọ (kịch bản điện ảnh), hội họa (trong phim màu, ta có cảm giác được
xem các bức tranh mầu chuyển động), điêu khắc (qua diễn viên), kiến trúc, kịch, âm nhạc, múa…
Biện pháp quan trọng nhất của điện ảnh là biện pháp dựng phim – thống hợp các cảnh, các đoạn đã quay từng
phần thành một chỉnh thể tác phẩm. Như vậy, dựng phim là một tất yếu thẩm mỹ của điện ảnh. Với dựng phim lại
càng chứng tỏ cách định nghĩa Điện ảnh bằng hệ thống ba thành tố là đúng.
Vì điện ảnh là một nghệ thuật tổng hợp, nên thành công của một bộ phim cũng là thành công của hàng loạt nghệ
sĩ, đạo diễn (đóng vai trò chủ chốt), biên kịch (viết kịch bản), diễn viên (trong điện ảnh ta chỉ thấy hình tượng
diễn viên chứ không phải bản thân diễn viên như trong kịch), quay phim, dựng phim, họa sĩ, nhạc sĩ, âm thanh,
ánh sáng…
Điện ảnh được chia ra: phim truyện, phim thời sự (theo tính thẩm mỹ và tính thông tin). Điện ảnh có thể chia
theo phương diện kỹ thuật như: phim trắng đen, phim màu, phim màn ảnh hẹp, phim màn ảnh rộng, điện ảnh
toàn cảnh, v.v…Riêng các thể loại còn chia theo đề tài, chủ đề như: Phim truyện có: phim lịch sử, phim “đời
thường” (về cuộc đời đang diễn ra), phim bi kịch, phim trinh thám, phim kinh dị, v.v…
Điện ảnh còn có những thể loại độc đáo như phim hoạt hình, phim búp bê. Hai thể loại này đều dựa trên nghệ
thuât tạo hình (tạo hình hội hoạ, và tạo hình con rối) được kết hợp với kỹ thuật quay và kỹ thuật diễn.
Điện ảnh là một nghệ thuật hấp dẫn và phổ biến nhất, sức tiệu thụ của xã hội cũng cao nhất. Đặc biệt khi kỹ
thuật Tivi và Video ra đời, nó tạo điều kiện cho khán giả thưởng thức rất tiện lợi các thành tựu của điện ảnh.
Văn học:
Trong số các loại hình nghệ thuật, văn học là một nghệ thuật khó định nghĩa nhất. Cũng vì văn học có vai trò rất
lớn trong xã hội nên các nhà nghệ thuật học đã tách văn học thành một lĩnh vực riêng, người ta thường nói “văn
học” và “nghệ thuật”. Như vậy, bảy nghệ thuật gộp chung lại còn văn học được “sánh vai” với cả bảy nghệ thuật
đó.
Sự phân chia như trên quả là có lý. Bời vì rất nhiều người không làm nhạc,diễn kịch, vẽ tranh, nhảy múa, v.v…
nhưng ai cũng có lúc làm văn học: cụ già kể chuyện cổ tích cho cháu nghe. Cháu bé mô tả lại câu chuyện của bà
mới kể tối qua cho bạn mình nghe. Vào trường các em phải học hai môn đầu tiên là văn và toán, v.v…
Như vậy, văn học thấm vào tất cả cuộc đời. Hơn thế các loại hình nghệ thuật đều phải có “chất văn”. Muốn dựng
phim hay, trước hết phải có kịch bản phim hấp dẫn. Muốn diễn kịch phải có kịch bản văn học hay. Muốn có chủ
đề sâu sắc, có tính triết luận cao như tác phẩm “thần tự do trên chiến luỹ”, hoạ sỹ Đờlacroa đã dựa vào văn học
của Vichtô Huygô. Để có họa phẩm như bức thần vệ nữ và thần sao hoả, danh hoạ Giooc Giôn đã dựa vào thần
thoại Hy Lạp cổ đại, v.v… Ngay nhạc không lời của bản giao hưởng số 3 của Bêttoven, bản giao hưởng số 6 của
Traicôpxki, v.v… đều có chất “văn ngầm” ở bên trong. Không có “chất văn” làm nền, không một nghệ thuật nào
có thể tồn tại được.
Thời cổ Phường Đông, các nhà nho cho rằng, Văn là để tải đạo “Văn dĩ tải đạo”; thơ để nói đến cái chí “thi dĩ
ngôn chí”.
Đến Nguyễn Đình Chiểu đã có một quan niệm mới về văn học. Cụ cho rằng, Văn để tải đạo, nhưng văn còn để
vạch mặt bọn gian ác, tay sai cho giặc:
“Chở bao nhiêu đạo thuyền không khảm
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”
Các nhà thơ lãng mạn chạy theo quan điểm “nghệ thuật vị nghệ thuật” nên đã xa rời thực tại:
“Là thi sĩ nghĩa là ru với gió
Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây”
Hoặc ví mình như một thứ chim lạ:
“Tôi là con chim
Đến từ núi lạ
Ngứa cổ hót chơi
Yêu tự nhiên nào biết sao ca
Tiếng to nhỏ chẳng xui chùm trái chín
Khúc huy hoàng không giúp nở hoa
Tôi réo rắt chẳng qua trời bắt vậy…”
(Xuân Diệu – Gửi hương cho gió)
Như thế, theo các nhà lãng mạn, họ là “đặc sản” của trời; nếu con tằm phải nhả tơ, con ong phải làm mật, thì thi
sĩ phải “réo rắt” thế thôi.
- Đến thời cách mạng, Bác Hồ đưa ra một quan niệm văn học mới, văn học chiến đấu cho Độc Lập - Tự Do- hạnh
Phúc - của Tổ Quốc và của nhân dân:
“Thơ xưa yêu cảnh thiên nhiên đẹp
Mây gió trăng hoa tuyết núi sông
Nay ở trong thơ nên có thép
Nhà thơ cũng phải biết xung phong
Sau này, qua hai câu nói về thơ của Bác, Hoàng Trung Thông đã khái quát được cả bản chất nền văn học cách
mạng và kháng chiến của Việt Nam:
“Vần thơ của Bác vần thơ thép
Mà vẫn mênh mông bát ngát tình”.
Như thế, văn học cách mạng và văn học kháng chiến của ta có hai phẩm chất: chất chiến đấu và thấm đẫm một
tình cảm bao la về dân tộc, về con người.
Song, qua tất cả các quan niệm về văn học, về thơ vừa nói, các bậc tiền bối mới chủ yếu nói về chức năng của
văn học, đặc biệt nhấn mạnh tác dụng xã hội, tình cảm của văn học, chưa đi sâu vào cấu trúc bản thể của văn
học.
Thực ra, văn học là nghệ thuật dùng ngôn từ (viết và nói) của chính con người làm phương tiện, đồng thời làm
thành chất mỹ cảm để tạo ra sự liên tưởng thẩm mỹ, tái hiện lại các tri giác, các biểu tượng về các sự kiện, các
biến cố, các xung đột ảnh hưởng đến số phận của con người, của lịch sử để con người cảm nhận chúng, đánh giá
chúng và tự định hướng cho mình theo lý tưởng cái đẹp và cái cao cả.
Tất cả các nghệ thuật khác đều ít nhiều có tính trực tiếp tác động hình ảnh lên thị giác, hoặc thính giác của con
người. Riêng văn học lại là một nghệ thuật gián tiếp, nó phải thông qua một phương tiện biểu đạt mà Mác gọi là
cái vỏ vật chất của tư duy đó là ngôn ngữ, để người đọc, (hoặc người kể) hình dung lại, rồi tái hiện ra trong đầu
óc, trong tâm hồn mình, cái điều mà ngôn ngữ đã “trần thuật”. Nào ai đã được xem Kiều tắm, nhưng qua bốn câu
thơ của Nguyễn Du:
“Buồng the phải buổi thong dong
Thang lan rủ bức trướng hồng tẩm hoa,
Rõ màu trong ngọc trắng ngà,
Dày dày sẵn đúc một toà thiên nhiên.
Bốn câu thơ này, nếu đứng ở góc độ ngôn ngữ thông thường, ta có cái “thông tin” cơ bản sau: Buồng the (buồng
của phụ nữ), Thong dong (rỗi rãi), Thang lan (nước tắm thơm mùi sả), Trướng hồng (màn che màu hồng), Đúc
(làm nên, tạo nên), v.v…
Đứng về phương diện văn học, các “thông tin” trên được biểu hiện theo lụât liên kết các biểu tượng về thanh âm
thẩm mỹ, tạo thành hình tượng một bức tranh tuyệt đẹp: Kiều đang tắm trong buồng riêng. Nàng tắm nước là
thơm, nước bốc hơi quanh màn như một “bức trướng hồng tẩm hoa”. Vẻ đẹp của nàng ẩn hiện, “trong như ngọc,
trắng như ngà”, đoa là một kiệt tác có một không hai của tạo hoá.
Thời đổi mới có một số nhà phê bình mỹ thuật chê các hoạ sĩ trẻ của ta học đòi phương Tây vẽ tranh khỏa thân.
Cái lỗi không phải là vẽ tranh khoả thân hay không khoả thân, mà ở chỗ vẽ có thanh nhã, có nghệ thuật bậc cao
hay không? Qua truyện Kiều, ta mới biết được “vẽ tranh” khoả thân đâu phải là mới. Cuối thế kỷ XVIII, Nguyễn
Du đã vẽ bằng nghệ thuật ngôn từ. Và qua cái vỏ ngôn ngữ, người đọc được nhà thơ Nguyễn Du giúp tái hiện lại
trong hình ảnh, màu sắc, mùi vị thơm tho quyện quanh người đẹp đang tắm. Đây chính là một trong những bản
chất của văn học.
Về thể loại, văn học chia thành: văn xuôi, thơ, kịch. Văn xuôi chia thành: ký sự, truyện ngắn, truyện vừa, tiểu
thuyết (riêng phóng sự ngày nay người ta có xu hướng xếp vào loại văn thông tấn, báo chí). Thơ chia thành: Thơ
sử thi, Thơ trữ tình, v.v…Kịch chia thành: Kịch tự sự (kịch văn xuôi) , kịch thơ (ở đây chỉ nói những tác phẩm kịch
mang giá trị văn học cao, chưa cần diễn, chỉ dọc thôi, người ta đã thoả mãn hoàn toàn về phương diện nó là một
tác phẩm văn học độc lập).
GIÁO DỤC THẨM MỸ
Bản chất của giáo dục thẩm mỹ
Khái niệm giáo dục thẩm mỹ trong mỹ học Mác – Lênin được xác định ở hai nghĩa:
Ở nghĩa hẹp, đó là giáo dục quy về cái đẹp: giáo dục cho con người biết thụ cảm, đánh giá và sáng tạo cái đẹp.
Ở nghĩa rộng, đó là sự giáo dục và tự giáo dục, phát huy mọi năng lực bản chất người theo quy luật của cái đẹp.
Như vậy, giáo dục thẩm mỹ tồn tại mọi lúc, mọi nơi trong cuộc sống, nó đồng nghĩa với sự hình thành thẩm mỹ.
Giáo dục thẩm mỹ bao giờ cũng nhằm làm hình thành một chủ thể thẩm mỹ biết hưởng thụ, đánh giá và sáng tạo
trên mọi mặt của cuộc sống theo quy luật của cái đẹp.
Như vậy, giáo dục thẩm mỹ theo nghĩa hẹp hay nghĩa rộng đều hướng tới làm cho con người phát triển phong
phú và hài hòa và làm cho văn hóa thẩm mỹ được xác lập trong các quan hệ xã hội.
Hay nói cách khác, bản chất của giáo dục thẩm mỹ theo quan điểm của mỹ học Mác – Lênin gắn liền với các hoạt
động sáng tạo, nghĩa là con người luôn hướng tới những giá trị mới. Giáo dục thẩm mỹ làm hình thái năng động
của chủ thể thẩm mỹ phát triển mạnh mẽ và tự do trên cơ sở nhân sinh quan và thế giới quan đúng đắn. Mỹ học
Mác – Lênin khẳng định giáo dục thẩm mỹ là một bộ phận hợp thành sự nghiệp giáo dục toàn xã hội. Nó gắn bó
chặt chẽ với giáo dục lao động, giáo dục chủ nghĩa yêu nước, tinh thần quốc tế và sự hài hoà giữa truyền thống
với hiện đại, cá nhân với xã hội, thể xác với tinh thần. Nhưng giáo dục thẩm mỹ có tính đặc thù khác với mọi
phương tiện giáo dục khác là ở bản chất của cái thẩm mỹ của nó. Tuy nhiên giáo dục thẩm mỹ và các hình thức
giáo dục khác có mối liên hệ biện chứng với nhau và đều có một mục đích chung đó là sự hoàn thiện nhân cách
con người.
Nội dung xã hội của giáo dục thẩm mỹ
Giáo dục thẩm mỹ mang nội dung xã hội sâu sắc trước hết phải nói đến tính dân tộc. Các chủ thể thẩm mỹ hưởng
thụ, đánh giá và sáng tạo cái đẹp bao giờ cũng ở một dân tộc nhất định. Xa rời nội dung tính dân tộc, giáo dục
thẩm mỹ sẽ đánh mất bản chất xã hội của nó.
Mỗi dân tộc trong xã hội có giai cấp đều có những quan hệ giai cấp khác nhau. Các tình cảm thẩm mỹ, thị hiếu
thẩm mỹ và lý tưởng thẩm mỹ của giai cấp đều phụ thuộc vào điều kiện sinh sống và mục tiêu giáo dục của giai
cấp đó. Trong xã hội có giai nhiều cấp khác nhau cùng tồn tại thì thước đo giá trị thẩm mỹ bao giờ cũng thuộc về
giai cấp thống trị.
Tĩnh xã hội của giáo dục thẩm mỹ còn gắn liền với tính thời đại, mỗi thời đại có mục tiêu, hình thức, biện pháp
giáo dục và xây dựng các chủ thể thẩm mỹ khác nhau. Thời nô lệ, phong kiến, tư bản và ngày nay, các chủ thể
đều mang dấu ấn của thời đại mình.
Các hình thức giáo dục thẩm mỹ
Giáo dục thẩm mỹ với chức năng mục đích:
Thứ nhất, tạo lập sự định hướng giá trị thẩm mỹ cho nhân cách; Thứ hai, phát triển năng lực sáng tạo thẩm mỹ
cho nhân cách ấy. Với chức năng và mục đích như vậy, đòi hỏi phải có hình thức giáo dục thẩm mỹ cho phù hợp.
Mỹ học Mác – Lênin khẳng định giáo dục thẩm mỹ gắn bó chặt chẽ với giáo dục lao động. Lao động trong xã hội,
trong cộng đồng là hình thức giáo dục thẩm mỹ đầu tiên. Ngoài việc lao động làm hoàn thiện con người ở cả mặt
vật chất lẫn tinh thần mà còn bởi lẽ lao động làm nảy sinh tình cảm con người, tình cảm cộng đồng, nó làm cho
con người quý trọng sản phẩm của bản thân mình cũng như của người khác trong xã hội. Từ đó, con người biết
quý trọng những giá trị kết tinh trong lao động, trong đó có giá trị thẩm mỹ. Hơn nữa, trong thực tiễn lao động xã
hội còn là cội nguồn của cảm hứng vô tận cho thưởng thức và mọi sự sáng tạo nghệ thuật với tư cách là đỉnh cao
của sáng tạo thẩm mỹ.
Hình thức giáo dục thẩm mỹ thứ hai là thông qua cải thiện môi trường thẩm mỹ, trong đó có văn hoá giao tiếp, ăn
mặc, quan hệ đối với vật dụng và với môi trường sống. Trong xã hội hiện đại, con người giữa biển rừng của tiện
nghi do mình tạo ra, môi trường tự nhiên dường như thu hẹp lại và nhỏ bé hơn. Vì vậy vấn đề mỹ thuật của công
nghệ, mỹ thuật của môi trường ngày càng trở nên quan trọng để tránh tình trạng kỹ trị, cơ giới một cách đơn
điệu, chật hẹp…những phẩm chất tinh thần của con người.
Hình thái giáo dục bằng nghệ thuật giữ vị trí trung tâm trong số các hình thức giáo dục thẩm mỹ. Có thể nói xuất
phát từ chức năng giáo dục của nghệ thuật nó còn là phương tiện của giáo dục thẩm mỹ. Nghệ thuật nhận ra, rút
ngắn, tập hợp các lối sống khác. Nghệ thuật hướng về cái đẹp, cái tốt mà giáo dục con người. Khác với các hình
thức giáo dục khác, nghệ thuật thông qua hình tượng của mình để cảm hoá con người. Các tác phẩm có nội dung
nhân đạo cao cả là những sáng tạo nghệ thuật có tư cách giáo dục tốt (và ngược lại). Giáo dục nghệ thuật còn có
thể tạo nên nhu cầu thưởng thức nghệ thuật ở mỗi con người, nó làm tăng khả năng cảm xúc, khơi gợi khả năng
sáng tạo của con người được tiếp xúc thường xuyên với nghệ thuật sẽ làm cho con người có tâm hồn thanh cao
hơn và tính người hơn.
Giáo dục thẩm mỹ bằng các tư tưởng mỹ học là hình thức giáo dục cao nhất, nó cung cấp cho chủ thể thẩm mỹ
những quan niệm cơ bản và đúng đắn để phân tích các giá trị thẩm mỹ. Giáo dục thẩm mỹ bằng các tư tưởng mỹ
học dặc biệt quan trọng đối với các chủ thể đánh giá và sáng tạo thẩm mỹ, nó sẽ tạo cơ sở để hình thành một thị
hiếu thẩm mỹ phát triển và lành mạnh, một lý tưởng thẩm mỹ cao đẹp để góp phần định hướng thẩm mỹ cho
chúng với tư cách là chủ thể thẩm mỹ.
Giáo dục thẩm mỹ là một bộ phận hợp thành sự nghiệp giáo dục trí, đức, thể mỹ của Đảng ta trong quá trình hình
thành nhân cách con người trong quá trình đổi mới. Các nguyên lý mỹ học Mác – Lênin soi sáng mục tiêu giáo dục
thẩm mỹ, hình thành sự phát triển hài hoà và toàn diện của con người ở đất nước ta trong giai đoạn hiện nay.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Phần III
NGHỆ THUẬT TỪ GÓC NHÌN THẨM MỸ
Chương I: ĐẶC TRƯNG CỦA NGHỆ
THUẬT
I.1. Nghệ thuật là gì?

 !"#  $%&'()&*+
 ,-$./01234567+(Theo nghĩa rộng
nhất, nghệ thuật đồng nghĩa với tài nghệ.8'%'.6+ 6
.6.'% 6 .6.96  (:$+*
$.;<=&;..>&(Hẹp
hơn và phổ biến hơn?$.+ ,-để chỉ mọi hoạt động, mọi
sản phẩm được sáng tạo theo qui luật của cái đẹp.6" @
!A@!BC=DEC=)F()
;@2F6=)F@?@'.6+
$.@./?(GH'$IJ'K.'
L2M 6B2.NL?@?techne.:;0.O
?;/! '.?  6M;$.6';23
;>+(PF@0?%?$Q2 6" +
6*@(:? $)(R'
+LS T=6F 'U ?VS .N TU
W+A%OXYY'+(
,:-theo nghĩa hẹp nhất, chặt chẽ nhất là chỉ hoạt động và thành phẩm
sáng tạo của người nghệ sỹ. Z.F.6 >.[MR '
# .6\(.\5@%O.@
"]5?()+A!./" 
,*??^-(_T?J()Nghệ thuật là gì?A.O`Y.\

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét