Thứ Sáu, 18 tháng 4, 2014

nâng cao hiệu quả sử dụng các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh bắc ninh đến năm 2010


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "nâng cao hiệu quả sử dụng các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh bắc ninh đến năm 2010": http://123doc.vn/document/1054289-nang-cao-hieu-qua-su-dung-cac-khu-cong-nghiep-tren-dia-ban-tinh-bac-ninh-den-nam-2010.htm


là lao động phụ nữ trẻ chưa lập gia đình, không có tay nghề và một bộ phận
lớn lao động chuyển từ nông thôn ra làm việc (theo kết quả điều tra của
Ngân hàng Thế giới, đến nay trung bình số việc làm trong các KCN của tất
cả các nước trên thế giới chiếm khoảng trên 40% tổng số việc làm).
Hầu hết các nước đang phát triển, đều là các nước có nền kinh tế lạc
hậu, có tỉ lệ bán thất nghiệp cao. Ngoài ra, do sức ép phát triển kinh tế, tại
các nước này có tốc độ đô thị hoá nhanh chóng, dẫn tới tình trạng diện tích
đất đai dùng cho phát triển nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp.Thêm vào đó,
số người thất nghiệp ở đô thị ngày càng tăng và chủ yếu là những người vừa
đến tuổi lao động do dân số tăng nhanh.
Chính vì vậy, một trong những vấn đề cấp thiết nhất hiện nay là phải
tạo công ăn việc làm, góp phần giải quyết tình trạng thất nghiệp và nâng cao
thu nhập cho người dân. Do đó, phát triển các KCN nhằm thu hút lao động
từ khu vực nông nghiệp sang công nghiệp là một trong những biện pháp hữu
hiệu nhất nhằm giải quyết tình trạng trên và phát triển kinh tế theo hướng
công nghiệp - dịch vụ.
1.3 Tiếp nhận kỹ thuật công nghệ tiên tiến và phương pháp quản lý
hiện đại
Theo thống kê, hiện nay hầu hết các nước đang phát triển đều rơi vào
tình trạng phổ biến là thiết bị sản xuất cũ, quy trình công nghệ lạc hậu.
Trong khi những yếu tố này lại đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình
CNH-HĐH đất nước. Do đó, họ coi việc tiếp thu công nghệ và kỹ năng quản
lý hiện đại một cách nhanh chóng và hiệu quả nhất không chỉ là nhiệm vụ
truớc mắt mà còn là mục tiêu có tính chiến lược.
Kinh nghiệm phát triển kinh tế của các nước đi trước cho thấy, việc
ứng dụng tiến bộ công nghệ của nước ngoài là một trong những bí quyết
phát triển. Sao chép những phương pháp hiệu quả hơn, đưa chúng vào áp
dụng trong nước thường là một giải pháp mang tính truyền thống của các
nước phát triển. Bởi các nước phát triển có nguồn vốn, công nhân và kỹ sư
lành nghề,…thường rất dồi dào.
Nhưng đối với các nước nghèo thì phương pháp trên lại không thể dễ
dàng áp dụng được. Bởi cho dù các nước nghèo có thể có các chuyên gia kỹ
thuật được trang bị những tri thức công nghệ tiên tiến nhưng vẫn không thể
thực hiện được vì còn quá nhiều hàng rào ngăn cản như: vốn đầu tư thấp,
công nhân và nhiều kỹ sư lành nghề hầu như rất ít,…không đáp ứng được
yêu cầu. Chính vì vậy, một phương pháp thay thế hữu hiệu phương pháp
“sao chép” mà các nước phát triển vẫn làm là phát triển các KCN. Qua đó,
5
các nhà đầu tư nước ngoài sẽ đưa vào KCN những thiết bị kỹ thuật tiên tiến,
quy trình công nghệ hiện đại nhằm sản xuất ra các sản phẩm đạt tiêu chuẩn
quốc tế có đủ sức mạnh cạnh tranh trên thị trường. Từ đó, góp phần thúc đẩy
các doanh nghiệp của các vùng, các khu vực đổi mới thiết bị và công nghệ,
nâng cao từng bước chất lượng sản phẩm.
Xuất phát từ trang thiết bị hiện đại, công nghệ kỹ thuật tiên tiến, các
cán bộ quản lý, các công nhân kỹ thuật và viên chức làm việc tại các KCN sẽ
được đào tạo lại, đào tạo bổ xung cho thích hợp. Và họ cũng là lực lượng
trực tiếp tiếp thu tác phong công nghiệp, kinh nghiệm quản lý, phương pháp
kiểm tra chất lượng hiện đại,… nhằm thích ứng với cơ chế thị trường và đạt
hiệu quả cao. Những kết quả này không chỉ mang lại tại các KCN mà theo
hiệu ứng lan truyền nó còn tác động mạnh đến sự thay đổi đến các doanh
nghiệp hoạt động bên ngoài KCN, làm cho các doanh nghiệp này cũng thay
đổi theo.
1.4 Tăng cường các mối liên kết và tác động ngược trở lại nền kinh
tế
Phát triển KCN là một trong những điều kiện tiền đề để thúc đẩy sự
phát triển toàn diện trong vùng, mở của nền kinh tế trong nước cho hệ thống
mậu dịch và tài chính quốc tế phát triển, hợp tác kinh tế đối ngoại,… nhằm
đẩy mạnh công cuộc CNH - HĐH đất nước. Theo đánh giá của các chuyên
gia kinh tế, các KCN được coi như một bộ phận cầu nối giúp nước chủ nhà
mở cửa nhìn ra thế giới bên ngoài; tăng cường mối liên kết trao đổi hàng
hoá, dịch vụ và kỹ thuật với thế giới bên ngoài.
Thực tế đã chứng minh, phát triển KCN còn tạo ra sự tác động ngược
trở lại đối với sự phát triển của các ngành sản xuất trong nước thông qua
việc cung cấp các dịch vụ như: cung cấp nguyên vật liệu; lắp ráp, chế biến
sản phẩm;… cho các doanh nghiệp hoạt động trong các KCN.
Ảnh hưởng của các KCN đối với phần còn lại của nền kinh tế thông
qua hiệu ứng số nhân của Keynes. Ví dụ, một KCN đi vào hoạt động trực
tiếp đem lại việc làm cho người lao động (làm việc trong KCN) còn gián tiếp
tạo việc làm cho các địa phương xung quanh thông qua việc cung cấp các
dịch vụ phục vụ sự phát triển của các doanh nghiệp hoạt động trong các
KCN. Nếu một năm một KCN trả lương cho công nhân (trong vòng một
năm) là 10 triệu USD. Với tiền mua nguyên vật liệu, mua các dịch vụ ở địa
phương sẽ gián tiếp tạo việc làm cho khoảng 10.000 lao động. Và nếu tỉ lệ
tiêu dùng là 2/3 thu nhập thì 10 triệu USD của công nhân sẽ góp phần tăng
thu nhập của các khu vực lân cận lên tới 30 triệu USD.
6
Như vậy, phát triển KCN là một trong những giải pháp quan trọng
nhằm phát triển công nghiệp nói riêng và phát triển kinh tế của địa phương
nói chung. Đồng thời, phát triển KCN là nhịp cầu nói giúp địa phương mở
của hoà nhập với nền kinh tế thế giới.
2. Vì sao phải tăng cường hiệu quả sử dụng các KCN
Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, việc quy hoạch phát triển
KCN chỉ là điều kiện cần còn vấn đề cốt lõi ảnh hưởng trực tiếp đến chất
lượng phát triển KCN nói riêng và ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế của
địa phương nói chung chính là hiệu quả sử dụng của chúng. Vì vậy, giải
pháp nào nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng KCN đang là vấn đề quan tâm
hàng đầu của các nhà quản lý.
Thứ nhất, nếu khi quy hoạch phát triển các KCN, các nhà quản lý chỉ
chú trọng đến số lượng cũng như diện tích trong quy hoạch. Nhưng khả năng
“lấp chỗ trống” thấp sẽ dẫn đến tình trạng diện tích đất đai quy hoạch thì rất
lớn trong khi khả năng sử dụng thì hạn chế.
Điều này sẽ gây lãng phí nguồn lực đất đai rất lớn trong quá trình phát
triển kinh tế. Bởi vì: đất đã được đưa vào quy hoạch KCN (mặc dù chưa sử
dụng) nhưng người nông dân vẫn không thể tiếp tục sử dụng vào mục đích
canh tác nông nghiệp mà phải để hoang hoá. Đất đai trong các KCN chưa
được sử dụng cũng đồng nghĩa với việc sản xuất kinh doanh trên lĩnh vực
công nghiệp chưa phát triển. Điều này là một trong những nguyên nhân
khiến người nông dân chưa có điều kiện cũng như cơ hội chuyển đổi nghề
nghiệp khi đã chuyển mục đích sử dụng đất từ nông nghiệp sang công
nghiệp, khiến cho cuộc sống của người nông dân ngày càng khó khăn.
Thứ hai, một trong những vấn đề mang tính quyết định đến hiệu quả
sử dụng các KCN chính là tỉ lệ vốn đầu tư trên một đơn vị diện tích.
Như đã biết, hệ thống cơ sở hạ tầng trong KCN như: hệ thống giao
thông vận tải, hệ thống cung cấp điện, cấp thoát nước,… là một trong những
điều kiện cần thiết ban đầu khi một doanh nghiệp trong KCN đi vào hoạt
động. Vì vậy, nếu đầu tư một cách “dàn trải” trong khi nguồn kinh phí thì eo
hẹp sẽ gây ra tình trạng cơ sở hạ tầng trong KCN thô sơ, không đáp ứng
được yêu cầu của nhà đầu tư. Điều này sẽ tác động trực tiếp đến hiệu quả sử
dụng KCN.
Ngoài ra, trong xu hướng khoa học công nghệ phát triển như vũ bão
hiện nay. Một doanh nghiệp sản xuất nói riêng và nền kinh tế của một đất
nước nói chung chỉ có thể phát triển theo hướng ứng dụng trình độ khoa học
7
kỹ thuật công nghệ tiên tiến để tạo ra các sản phẩm có chất lượng cao, đáp
ứng được yêu cầu của người tiêu dùng. Để thực hiện được mục tiêu này thì
một trong những vấn đề mang tính quyết định là nguồn vốn đầu tư phải rất
lớn. Điều đó cho thấy, suất đầu tư cao mới có khả năng đáp ứng được nhu
cầu ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất của các doanh nghiệp.
Kinh nghiệm của các nước đi trước cho thấy, phát triển KCN nói chung
và nâng cao hiệu quả sử dụng KCN nói riêng chính là con đường mở cửa
giúp địa phương hoà nhập bình đẳng vào nền kinh tế, tạo điều kiện tiền đề để
thực hiện thành công công cuộc CNH – HĐH đất nước.
III. Thước đo hiệu quả sử dụng các KCN
Các khái niệm cơ bản về hiệu quả sử dụng KCN
Khai thác có hiệu quả mô hình KCN đang là vấn đề được quan tâm
hàng đầu đối với các quốc gia đang trong thời kỳ CNH – HĐH. Có khá
nhiều các quan niệm khác nhau về hiệu quả sử dụng các KCN.
Theo tạp chí kinh tế và phương pháp toán của Viện toán kinh tế viện
hàn lâm khoa học Liên Xô cũ, hiệu quả sử dụng KCN là chỉ tiêu phản ánh
mối quan hệ giữa diện tích đất đai đã sử dụng và tổng diện tích đất đai đã
được đưa vào quy hoạch KCN.
Theo họ, hiệu quả sử dụng KCN được tiếp cận trên phương diện: Xác
định diện tích đất đai đã cho thuê tại các KCN. Ưu điểm của phương pháp
tiếp cận này là so sánh được diện tích có ích (đã được sử dụng) trên tổng
diện tích được cấp phép xây dựng. Qua đó, so sánh được sự thành công trên
phương diện sử dụng đất đai giữa các KCN trong quá trình phát triển.
Tuy nhiên, nhược điểm của phương pháp là không thể đánh giá, so sánh
được hiệu quả sử dụng KCN trên các phương diện khác như: suất đầu tư trên
một đơn vị diện tích, hiệu quả đóng góp của các KCN đối với sự phát triển
kinh tế của địa phương,… Từ đó chưa thể đánh giá một cách chính xác tính
hấp dẫn trong thu hút vốn đầu tư, hiệu quả đất đai đã sử dụng,… của các
KCN.
Theo quan điểm của Ban quản lý các KCN, KCX Việt Nam, hiệu quả
sử dụng KCN là chỉ tiêu so sánh biểu hiện mức độ tiết kiệm chi phí trong
một đơn vị kết quả hữu ích và mức tăng khối lượng hữu ích của hoạt động
sản xuất tại KCN trong một thời kỳ nhất định.
Ưu điểm của phương pháp tiếp cận này, gắn kết quả với chi phí, coi
hiệu quả là sự phản ánh trình độ sử dụng chi phí.
8
Nhược điểm của phương pháp, chưa rõ ràng và thiếu tính khả thi ở
phương diện xác định và tính toán. Bởi vì: Muốn xác định được mức độ tiết
kiệm thì phải có ít nhất hai phương án để so sánh và phải có tiêu chuẩn để so
sánh. Điều này chỉ có trong lĩnh vực kế hoạch khi lựa chọn dự án sản xuất
hoặc dự án đầu tư. Trong thực tế, với từng đối tượng trong một phạm vi thời
gian cụ thể chỉ có một kết quả và một chi phí cụ thể. Như vậy, làm sao biết
được mức độ tiết kiệm chi phí sản xuất. Tính không rõ ràng trong phương
pháp xác định trên là do không phân biệt giữa kế hoạch và thực tế, giữa
tương lai và quá khứ khi đưa ra các yêu cầu lớn nhất và bé nhất trong quá
trình phân tích, đánh giá đối tượng.
Theo các thành viên trong Ban quản lý (BQL) KCN của tỉnh Bắc Ninh,
hiệu quả sử dụng các KCN là chỉ tiêu phản ánh sự đóng góp của các KCN
đối với sự tăng trưởng kinh tế trên địa bàn, tức là tổng giá trị sản lượng của
KCN so với tổng GDP của địa phương.
Ưu điểm của cách xác định này là đánh giá được tổng giá trị sản lượng
của các KCN đối với quá trình tăng trưởng kinh tế trên địa bàn. Qua đó, thấy
được tầm quan trọng của phát triển các KCN đối với địa phương.
Nhưng nhược điểm của phương pháp là không thể đánh giá được hiệu
ứng dây truyền của các hoạt động của hệ thống cung cấp dịch vụ đi kèm với
quá trình hoạt động của các KCN. Điều đó được biểu hiện thông qua hiệu
ứng số nhân của Keynes.
Trở lại ví dụ trên, khi một KCN đi vào hoạt động sẽ tạo việc làm gián
tiếp cho các địa phương xung quanh thông qua việc cung cấp các dịch vụ.
Nếu trong một năm một KCN hoạt động trả lương cho công nhân trong
KCN là 10 triệu USD. Với tiền mua các linh kiện và dịch vụ ở địa phương,
theo hiệu ứng số nhân có thể cung cấp việc làm cho hơn 10.000 công nhân
bên ngoài. Và nếu tỉ lệ tiêu dùng là 2/3 thu nhập thì sẽ góp phần tăng thêm
thu nhập cho các khu vực lân cận lên tới 30 triệu USD.
Nhược điểm lớn nhất của ba khái niệm trên là không xác định được tính
hữu ích ở dạng tổng thể gộp lớn. Bởi một KCN khi đi vào hoạt động sẽ góp
phần thu hút nguồn vốn đầu tư, tạo công ăn việc làm cho người lao động,
tăng cường các mối liên kết và tác động ngược trở lại tới các bộ phận còn lại
của nền kinh tế,…
Vì thế, để khắc phục những nhược điểm trên trong chuyên đề này, hiệu
quả sử dụng các KCN được hiểu là chỉ tiêu phản ánh đầy đủ hơn kết quả
hoạt động kinh tế của các doanh nghiệp hoạt động trong các KCN ở tầm
hiệu quả kinh tế - xã hội. Tức là, hiệu quả sử dụng các KCN là chỉ tiêu phản
9
ánh tổng hợp không chỉ khả năng “lấp chỗ trống” trong các KCN, hiệu quả
đầu tư trên một đơn vị diện tích còn có cả phần đóng góp cho ngân sách nhà
nước ở dạng thuế, tiền lương, tiền thưởng cho người lao động.
2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng các KCN
Hiện nay, có khá nhiều cách xác định hiệu quả sử dụng các KCN.
Nhưng trong khuôn khổ chuyên đề này, tôi chỉ sử dụng một số chỉ tiêu đánh
giá hiệu quả sử dụng KCN như sau:
2.1 Tỉ lệ diện tích được lấp đầy
Chỉ tiêu này được xác định theo công thức:
Tỉ lệ Diện tích đã cho thuê * 100%
lấp đầy Tổng diện tích KCN
Chỉ tiêu này, cho biết phần diện tích có ích trên tổng diện tích được
cấp phép theo quy hoạch KCN. Theo các nhà kinh tế, nếu tỉ lệ lấp đầy
khoảng 70% trở lên thì hiệu quả sử dụng KCN trên phương diện sử dụng
đất đai đạt hiệu quả rất cao; còn nếu nhỏ hơn 30% thì hiệu quả sử dụng quá
thấp gây lãng phí nguồn lực đất đai rất lớn.
Chỉ tiêu này còn cho phép đánh giá được hiệu quả sử dụng đất đai tại
các KCN. Đồng thời, so sánh được sự thành công trong lĩnh vực sử dụng đất
đai giữa các KCN.
2.2 Tỉ lệ vốn đầu tư trên một đơn vị diện tích
Chỉ tiêu này cho biết, suất đầu tư trên từng đơn vị diện tích. Được xác
định theo công thức sau:
Tỉ lệ Tổng vốn đầu tư (triệu USD; triệu đồng)
VĐT Tổng diện tích (ha)
Tỉ lệ VĐT càng cao chứng tỏ doanh nghiệp đã ứng dụng khoa học, kỹ
thuật công nghệ tiến tiến vào sản xuất bởi nguồn vốn đầu tư lớn tạo điều
kiện thuận lợi giúp doanh nghiệp áp dụng những thành tựu khoa học tiến
tiến vào sản xuất.
Suất đầu tư dùng để đánh giá, so sánh hiệu quả thu hút vốn đầu tư trên
một đơn vị diện tích. Từ đó, đánh giá được tính hấp dẫn trong việc thu hút
vốn giữa các KCN với nhau một cách chính xác.
10
2.3 Tỉ lệ đóng góp cho GDP
% đóng góp Tổng GTSL của KCN * 100%
cho GDP GDP
Chỉ tiêu này cho biết, sự đóng góp của giá trị sản lượng của cả khu
công nghiệp đối với sự tăng trưởng kinh tế của địa phương.
Tỉ lệ này phụ thuộc vào sự phát triển lĩnh vực công nghiệp của địa
phương. Nhưng nếu giá trị sản lượng của KCN chiếm khoảng trên 80% tổng
giá trị sản lượng công nghiệp của địa phương, chứng tỏ tỉ lệ đóng góp của
các KCN đối với sự tăng trưởng kinh tế của địa phương khá cao.
2.4 Số lao động làm việc trong các KCN
Chỉ tiêu này cho biết số lượng lao động làm việc tại KCN, lợi ích trong
việc giải quyết tình trạng thất nghiệp và lao động dôi dư ở các địa phương có
KCN. Đồng thời cho biết khả năng thu hút lao động và giải quyết việc làm
giữa các KCN với nhau.
Chỉ tiêu này phụ thuộc vào sự phát triển công nghiệp của địa phương.
Tuy nhiên theo các nhà kinh tế, số lao động càng cao chứng tỏ khả năng thu
hút lao động, giải quyết việc làm của KCN càng lớn. Nếu số lao động chiếm
khoảng trên 40% tổng số lao động của địa phương, chứng tỏ khả năng tạo
việc làm của các KCN là rất lớn.
Các chỉ tiêu trên đây, cho phép nhìn nhận một cách tổng quát nhằm so
sánh, đánh giá một cách chính xác hiệu quả sử dụng các KCN.
IV. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng các KCN
Cũng như bất kỳ mô hình phát triển kinh tế nào, để nâng
cao hiệu quả sử dụng KCN đòi hỏi phải thoả mãn những điều kiện cần thiết.
Đó là những điều kiện cần và đủ để đảm bảo cơ sở cho sự thành công trong
việc sử dụng các KCN. Cũng tuỳ tính chất của từng KCN mà đòi hỏi phải
đáp ứng các yếu tố khác nhau. Nhưng nhìn chung, các nhân tố chủ yếu ảnh
hưởng đến hiệu quả sử dụng các KCN như sau:
1. Nhóm các vấn đề về khung pháp lý
1.1 Về cơ chế chính sách
Kinh nghiệm cho thấy, các nhà đầu tư (đặc biệt là các nhà đầu tư nước
ngoài) nhiều khi không coi những ưu đãi về kinh tế là quan trọng hàng đầu
11
mà cái chính là sự ổn định về chính trị xã hội, chính sách của nhà nước trong
việc bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp cho các chủ thể tham gia kinh
doanh và đầu tư.
Mục đích của quá trình đầu tư kinh doanh chính là lợi nhuận. Bởi vậy,
bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp cũng như tạo mọi điều kiện cho các nhà
đầu tư trong quá trình sản xuất kinh doanh là một trong những điều kiện
hàng đầu mà các nhà đầu tư quan tâm khi quyết định đầu tư. Bởi chính sách
nhất quán của các văn bản pháp lý ảnh hưởng trực tiếp đến việc bảo vệ
quyền sở hữu hợp pháp của các chủ thể khi tham gia kinh doanh.
Tính nhất quán, rõ ràng của các văn bản pháp lý góp phần quyết
định việc tiến hành các thủ tục hành chính ngay từ khi chủ thể bắt đầu tham
gia kinh doanh. Bởi thủ tục hành chính nhanh chóng, thuận tiện sẽ giúp các
nhà đầu tư giảm được chi phí cả về thời gian và tiền bạc khi đăng ký kinh
doanh. Đặc biệt là hiện nay khi mà cơ hội kinh doanh là một nhân tố mang
tính chất “sống còn” của doanh nghiệp. Thủ tục nhanh chóng sẽ giúp doanh
nghiệp nắm chắc cơ hội kinh doanh của mình.
Một trong những nhân tố cũng góp phần quan trọng đến quyết định đầu
tư của các chủ thể kinh doanh chính là các chính sách ưu đãi. Bởi nếu có các
chính sách ưu đãi như: miễn giảm thuế công ty, thuế xuất nhập khẩu,… thì
các nhà đầu tư sẽ giảm được một phần chi phí sản xuất. Điều này, góp phần
tăng lợi nhuận của các nhà đầu tư trong quá trình kinh doanh.
Qua phân tích cho thấy, cơ chế chính sách đóng vai trò quan trọng
nhằm thu hút các nhà đầu tư đầu tư vào các KCN nói riêng và đầu tư vào địa
phương nói chung.
1.2 Cơ chế phân cấp và uỷ quyền trong quản lý
Cơ chế phân cấp và uỷ quyền đối với các cơ quan quản lý hành chính
nhà nước là một trong những nguyên nhân chủ yếu quyết định đến các thủ
tục hành chính khi một doanh nghiệp tham gia kinh doanh. Bởi cơ chế phân
cấp khoa học sẽ tránh được thủ tục rườm rà, phức tạp; tránh tình trạng chồng
chéo cũng như việc lạm dụng quyền hạn của các cán bộ quản lý trong quá
trình xét duyệt các loại văn bản, hồ sơ của các nhà đầu tư.
Điều này sẽ giúp các nhà đầu tư tiết kiệm được chi phí cả về thời gian
và tiền bạc ngay từ khi bắt đầu tham gia sản xuất kinh doanh cũng như trong
quá trình mở rộng phát triển sản xuất kinh doanh của mình.
2. Nhóm các vấn đề liên quan đến bộ máy quản lý của các KCN
12
Nhằm tạo điều kiện thu hút các nhà đầu tư đầu tư vào các KCN để đẩy
nhanh hiệu quả sử dụng thì BQL các KCN cần phải hoạt động có hiệu quả,
thủ tục hành chính phải gọn nhẹ, đơn giản,… Điều này phụ thuộc vào:
Thứ nhất, cơ cấu tổ chức của BQL vì: Cơ cấu tổ chức khoa học sẽ tạo
điều kiện giúp các thành viên hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình. Cũng như
tạo điều kiện giúp các nhà đầu tư giảm thiểu chi phi phí cả về thời gian và
tiền bạc khi tham gia sản xuất kinh doanh trong các KCN.
Thú hai, cơ sở vật chất của BQL: Điều kiện vật chất, trang thiết bị phục
vụ quá trình làm việc góp phần rất lớn giúp các nhân viên thực hiện nhanh
chóng, chính xác trong quá trình xét duyệt các loại văn bản, giấy tờ liên
quan đến quá trình sản xuất kinh doanh của các nhà đầu tư.
Thứ ba, năng lực của từng cán bộ là một trong những điệu kiện chủ yếu
quyết định đến khả năng làm việc của BQL. Điều này, ảnh hưởng trực tiếp
đến hiệu quả trong quá trình quản lý các KCN và tác động đến hiệu quả sử
dụng các KCN trên địa bàn.
3. Nhóm vấn đề liên quan đến đất đai và hạ tầng cơ sở của KCN
3.1 Về đất đai
Giá thuê đất là một khoản chi phí khá lớn mà doanh nghiệp phải trả. Do
đó giá thuê đất tại các KCN có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận kinh doanh
của doanh nghiệp. Như vậy, giá thuê đất thấp là một trong những điều kiện
mang tính chất quyết định đến khả năng thu hút đầu tư tại các KCN nói riêng
và tại địa phương nói chung.
Với mục tiêu “lấp đầy”, các KCN ngoài biện pháp nhằm thu hút các
nhà đầu tư đầu tư vào các KCN thì một trong những biện pháp thúc đẩy
nhanh quá trình sử dụng các KCN chính là biện pháp hỗ trợ đối với các
doanh nghiệp khi họ đã đầu tư sản xuất kinh doanh trong các KCN bởi: Nếu
doanh nghiệp muốn mở rộng sản xuất kinh doanh thì biện pháp hỗ trợ về
mặt đất đai sẽ là một trong những giải pháp hữu hiệu khuyến khích các nhà
đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh.
Hiện nay, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong các KCN mới chỉ
được trao cho các doanh nghiệp kinh doanh cơ sở hạ tầng. Trong khi, doanh
nghiệp đầu tư vào KCN phải trả tiền thuê đất một lần cho thời gian nhiều
năm nhưng không nhận được giấy chứng nhận “con”.
Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (giấy chứng nhận “con”)
đối với các doanh nghiệp thuê lại đất trong KCN cũng là một trong những
13
biện pháp hữu hiệu nhằm thu hút các nhà đầu tư đầu tư vào KCN. Bởi hiện
nay, các Ngân hàng đã cho phép các doanh nghiệp thế chấp quyền sử dụng
đất để vay vốn. Do đó, nếu các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong các
KCN được cấp giấy chứng nhận “con” để khi cần họ có thể sử dụng giấy
chứng nhận này thế chấp vay vốn.
3.2 Về cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng trong và ngoài KCN bao gồm: hệ thống điện, nước, giao
thông, hệ thống cấp thoát nước, liên lạc,… Đây là những điều kiện ban đầu
cần thiết để các doanh nghiệp tiến hành sản xuất kinh doanh.
Nếu như hệ thống cơ sở hạ tầng trong và ngoài KCN có chất lượng cao,
đáp ứng được yêu cầu của các nhà đầu tư. Điều đó, sẽ giúp các nhà đầu tư
giảm thiểu được một khoản chi phí đáng kể. Bởi nếu doanh nghiệp phải xây
dựng hệ thống các cơ sở hạ tầng thì doanh nghiệp sẽ phải thanh toán những
khoản chi phí phát sinh không nhỏ. Điều này làm gia tăng chi phí sản xuất
của doanh nghiệp lên khá lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận trong kinh
doanh của doanh nghiệp.
Như vậy, hệ thống cơ sở hạ tầng trong KCN ảnh hưởng trực tiếp đến
khả năng thu hút nhà đầu tư đầu tư vào các KCN.
4. Nhóm các vấn đề liên quan đến dịch vụ
4.1 Dịch vụ trong KCN
Một trong những nhân tố quan trọng hấp dẫn các nhà đầu tư quyết định
đầu tư vào các KCN là hệ thống cung cấp dịch vụ. Việc quy hoạch các khu
dân cư dịch vụ KCN, khu đô thị gắn liền với KCN sẽ đảm bảo sự gắn kết
các hạ tầng trong và ngoài KCN, đảm bảo cho sự phát triển bễn vững của
KCN.
Ngoài ra, trong điều kiện có những hệ thống cơ sở hạ tầng xã hội như:
Nhà ở, trường học, hệ thống ngân hàng,… ở gần các KCN tạo điều kiện
thuận lợi trong việc thu hút các nhà đầu tư đầu tư cũng như thu hút lực lượng
lao động có tay nghề cao làm việc trong các KCN.
4.2 Hệ thống cung cấp thông tin cho các doanh nghiệp
Trong xu hướng hội nhập hiện nay, thông tin ngày càng trở thành một
yếu tố quan trọng trong việc củng cố và nâng cao khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp. Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, hiện nay thông tin
đã trở thành một trong những điều kiện quyết định đến sự thành hay bại của
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét