LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "đảm bảo quyền con người trong hoạt động tư pháp ở việt nam hiện nay": http://123doc.vn/document/1055218-dam-bao-quyen-con-nguoi-trong-hoat-dong-tu-phap-o-viet-nam-hien-nay.htm
năm 1995; công trình: Tìm hiểu vấn đề nhân quyền trong thế giới hiện đại, do
TS. Chu Hồng Thanh chủ biên, Nxb Lao động, Hà Nội, 1996…
Về lĩnh vực xây dựng pháp luật, có các công trình: Tác giả Võ Khánh
Vinh, về đề tài: "Nguyên tắc công bằng trong luật hình sự Việt Nam" (Luận
án phó tiến sĩ Luật học, 1993); tác giả Nguyễn Văn Mạnh về đề tài "Xây dựng
và hoàn thiện đảm bảo pháp luật thực hiện quyền con người trong điều kiện
đổi mới ở Việt Nam hiện nay" (Luận án phó tiến sĩ Luật học, 1995); tác giả
Hoàng Hùng Hải về đề tài: "Hoàn thiện pháp luật đảm bảo quyền con người
trong xét xử hình sự ở nước ta" (Luật văn thạc sĩ Luật học, 2000); tác giả
Phan Trung Hoài về đề tài: "Cơ sở lý luận của việc hoàn thiện pháp luật về
luật sư ở Việt Nam hiện nay", Luận án tiến sĩ luật học, 2003)
Về lĩnh vực tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước nhằm
đảm bảo QCN, bao gồm: Đề tài KX-05-07 về "Nguyên tắc tổ chức và hoạt động
của bộ máy lập pháp, hành pháp, tư pháp nước ta với nhiệm vụ xây dựng Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa" năm 1995, do Nguyễn Văn Thảo chủ
nhiệm, đề tài đã đề cập đến các vấn đề cơ bản như xây dựng nhận thức, quan
niệm thống nhất về Nhà nước pháp quyền Việt Nam, về chiến lược tổng thể
xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam và các đề nghị về các bước đi
trong quá trình tổ chức thực hiện; tập sách về "Quyền con người trong quản
lý tư pháp" (Vũ Ngọc Bình tuyển chọn, Nxb Chính trị quốc gia, 2000);
Chuyên đề "Tổng hợp các kiến nghị khoa học góp phần đổi mới tổ chức và
hoạt động của các cơ quan tư pháp" (của Viện Nghiên cứu Khoa học pháp lý,
2000)… Các công trình này đã đề cập về các khía cạnh như khái niệm về
QCN, sự phát triển các học thuyết, tư tưởng về QCN trên thế giới, thực trạng
QCN ở Việt Nam trong lịch sử và hiện nay, các kiến nghị khoa học về đổi
mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp
5
Về lĩnh vực hoạt động nhằm đảm bảo QCN, bao gồm: Nguyễn Văn
Tuân về đề tài: "Sự tham gia của người bào chữa ở Tòa sơ thẩm theo pháp luật
Việt Nam" (Luận án tiến sĩ Luật học, 1991); tác giả Đinh Xuân Nam về đề tài:
"Trách nhiệm hình sự của vị thành niên" (Luận án phó tiến sĩ Luật học, 1994);
tác giả Dương Thị Thanh Mai về đề tài: "Giáo dục pháp luật qua hoạt động tư
pháp ở Việt Nam (Bằng thực tiễn của Tòa án và luật sư)" (Luận án phó tiến sĩ
Luật học, 1995); tác phẩm: Cải cách tư pháp ở Việt Nam trong xây dựng Nhà
nước pháp quyền, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội, 2004 do TSKH Lê Cảm -
TS. Nguyễn Ngọc Chí chủ biên, đề cập đến cơ sở lý luận về cải cách tư pháp,
các vấn đề cải cách tư pháp cụ thể trong lĩnh vực hình sự, dân sự, tố tụng,
kinh tế, lao động; tác phẩm: Thể chế tư pháp trong nhà nước pháp quyền,
Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2004, đề cập đến vấn đề lý luận về thể chế tư pháp, về
thể chế tư pháp ở các nước trong xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam
Năm 2001, Trung tâm Nghiên cứu Quyền con người trực thuộc Học
viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức hội thảo khoa học về chủ đề
Hiến pháp, pháp luật và QCN - Kinh nghiệm Việt Nam và Thụy Điển, với
hơn 20 tham luận và ý kiến chọn lọc đề cập về hoạc động lập hiến, lập pháp
cũng như hoạt động thực tiễn đảm bảo QCN trong các quốc gia
Ngoài ra, còn nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả khác đã
được đăng tải trong các luận án, luận văn tốt nghiệp, tập san, tạp chí chuyên
ngành như Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, Tạp
chí Tòa án nhân dân (TAND), Tạp chí Lập pháp
Mặc dù trên thế giới cũng như trong nước đã có nhiều công trình khoa
học nghiên cứu về lĩnh vực QCN, nhưng nhìn chung, những công trình nghiên
cứu nêu trên chủ yếu đề cập đến những vấn đề lý luận chung về QCN, từng
lĩnh vực hoạt động cụ thể về QCN, về tổ chức và hoạt động của các bộ máy
nhà nước, về việc xây dựng pháp luật về đảm bảo QCN nói chung. Trong đó,
chỉ có một vài khía cạnh đề cập cụ thể về QCN trong HĐTP. Bởi vậy, đến
6
nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu một cách trực tiếp và tương đối
toàn diện cả về lý luận và thực tiễn đảm bảo QCN trong HĐTP ở Việt Nam.
Tuy vậy, các công trình nêu trên vẫn là những tài liệu tham khảo quan trọng
đối với tác giả trong quá trình thực hiện luận án.
3. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Đảm bảo QCN trong HĐTP là một đề tài có phạm vi nghiên cứu rộng
về phương diện lý luận và hoạt động thực tiễn. Nó liên quan đến nhiều lĩnh
vực khác nhau của các ngành khoa học xã hội, đến việc đảm bảo QCN -
quyền công dân trên trên các lĩnh vực khác của quyền lực nhà nước, đến vấn
đề củng cố và xây dựng Nhà nước pháp quyền nói chung. Vì vậy, phạm vi
nghiên cứu của luận án được giới hạn trên các vấn đề cơ bản sau đây:
- Cơ sở lý luận đảm bảo QCN.
- Các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực đảm bảo QCN trong
HĐTP ở Việt Nam.
- Về một số khía cạnh về đảm bảo QCN trong các triều đại phong kiến
Việt Nam và trên thế giới.
- Về thực trạng HĐTP nhằm đảm bảo QCN ở Việt Nam.
- Các quan điểm, giải pháp nhằm đảm bảo QCN trong HĐTP hiện nay
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
- Mục đích của luận án: Trên cơ sở phân tích lý luận và thực trạng
đảm bảo QCN trong HĐTP, luận án nêu và phân tích những quan điểm và
giải pháp nhằm đảm bảo QCN trong HĐTP ở Việt Nam hiện nay.
- Nhiệm vụ của luận án: Để thực hiện mục đích trên, luận án có những
nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
7
Nghiên cứu cơ sở lý luận đảm bảo QCN trong HĐTP, cụ thể là: làm rõ
khái niệm QCN; khái niệm HĐTP, đặc trưng về QCN trong HĐTP; khái
niệm, nội dung đảm bảo QCN trong HĐTP.
Nghiên cứu, đánh giá về thực trạng đảm bảo QCN trong HĐTP ở
nước ta trong thời gian qua, tìm ra những bất cập trong vấn đề này và nguyên
nhân của thực trạng đảm bảo QCN trong HĐTP ở nước ta.
Đề xuất các quan điểm và giải pháp cơ bản nhằm tiếp tục đảm bảo
QCN trong HĐTP hiện nay ở nước ta hiện nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
- Để đạt được mục đích và nhiệm vụ đặt ra, luận án đã vận dụng lý
luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và
pháp luật nói chung và đảm bảo QCN nói riêng. Luận án còn vận dụng các
quan điểm liên quan đến vấn đề QCN, quyền công dân trong HĐTP của Đảng
và Nhà nước ta qua các chủ trương, chính sách chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước.
- Luận án được thực hiện trên cơ sở phương pháp nghiên cứu của duy
vật biện chứng. Theo đó, các phương pháp nghiên cứu cụ thể được áp dụng
như: Phương pháp lịch sử cụ thể, phương pháp phân tích, phương pháp khái
quát hóa, phương pháp tổng hợp, phương pháp quy nạp, diễn giải
Đặc biệt, luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu đặc trưng của
khoa học pháp lý như: Phương pháp phân tích quy phạm cụ thể, phương pháp
so sánh luật, thống kê và điều tra xã hội
6. Điểm mới về khoa học của luận án
Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống và
tương đối toàn diện về vấn đề đảm bảo QCN trong HĐTP ở Việt Nam hiện
nay. Vì vậy, luận án có những đóng góp khoa học mới sau:
8
- Phân tích, làm rõ cơ sở lý luận, đặc điểm và nội dung của những đảm
bảo QCN trong HĐTP.
- Xác định rõ vị trí, vai trò trách nhiệm của các cơ quan tư pháp trong
việc đảm bảo QCN
- Nhận diện việc vi phạm QCN trong HĐTP, làm rõ nguy cơ vi phạm
QCN trong HĐTP; khái quát thực trạng đảm bảo QCN trong HĐTP ở Việt
Nam hiện nay.
- Đề ra một số quan điểm, giải pháp trong việc đảm bảo QCN trong
HĐTP ở Việt Nam hiện nay.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ góp phần làm phong phú hơn các quan
niệm về QCN nói chung, lý luận về đảm bảo QCN trong HĐTP nói riêng, làm
cơ sở cho việc nghiên cứu, bổ sung để hoàn chỉnh hơn các đảm bảo về QCN
trong HĐTP.
Qua thực trạng về đảm bảo QCN trong HĐTP, nguyên nhân của thực
trạng và các giải pháp được đưa ra nhằm đảm bảo QCN trong HĐTP ở Việt
Nam hiện nay, luận án đóng góp một phần về cơ sở lý luận và kinh nghiệm
thực tiễn cho việc thực hiện có hiệu quả hơn các nội dung đảm bảo QCN
trong HĐTP.
Kết quả luận án còn có giá trị tham khảo cho công tác nghiên cứu,
giảng dạy ở các trường chuyên luật, Trường đào tạo các chức danh tư pháp và
hệ thống trường chính trị cũng như những ai quan tâm đến lĩnh vực này.
8. Kết cấu của luận án
Ngoài mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận
án gồm 3 chương, 9 tiết.
9
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN ĐẢM BẢO QUYỀN CON NGƯỜI
TRONG HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP
1.1. KHÁI QUÁT VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN CON NGƯỜI TRONG HOẠT
ĐỘNG TƯ PHÁP
1.1.1. Quan niệm về quyền con người và đảm bảo quyền con người
trong hoạt động tư pháp
1.1.1.1. Quan niệm về quyền con người, quyền công dân
- Quan niệm về quyền con người
Con người là vấn đề cơ bản nhất của mọi thời đại, cho nên QCN luôn
luôn trở thành nội dung quan trọng thu hút được sự quan tâm cả về phương
diện lý luận cũng như trong hoạt động thực tiễn của mỗi quốc gia, của từng
khu vực và mang tính toàn cầu.
Quan niệm về QCN đã được các nhà tư tưởng bàn đến từ thời cổ đại và
không ngừng được phát triển, bổ sung cùng với quá trình phát triển của lịch sử nhân
loại. Khi bàn đến QCN Jaeque Mourgeon trong cuốn "Các QCN" đã cho rằng:
QCN trước hết được hiểu là những đặc quyền tự nhiên mà
con người có. Đó là khả năng hành động có ý thức, trách nhiệm
nhất là tự bảo vệ. Nhưng bản thân đặc quyền (quyền tự nhiên)
chưa phải là QCN. Mà để đạt đến cái gọi là "quyền" thì phải có
yếu tố thứ hai là pháp luật. Chỉ khi được pháp luật ghi nhận thì các
đặc quyền của cá nhân mới trở thành đối tượng điều chỉnh của
pháp luật mới trở thành QCN [5, tr. 131].
Trên cơ sở quan niệm đúng đắn và khoa học về con người, C. Mác đã
xác định: "Con người là "con người xã hội" là sự "tổng hòa các quan hệ xã
10
hội", Cho nên QCN thể hiện sâu sắc giá trị các quan hệ xã hội và hiển nhiên
mang bản chất đó" [38, tr. 11].
Trên cơ sở các quan niệm về QCN năm 1776, lần đầu tiên các QCN
được ghi nhận trong Tuyên ngôn độc lập của Mỹ: "Tất cả mọi người sinh ra
đều có quyền bình đẳng, tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm
phạm được, trong đó có quyền sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc".
Năm 1791, trong Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền Pháp, QCN tiếp tục
được xác định: "Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải
được tự do bình đẳng về quyền lợi" Từ đó các tiêu chí về QCN từng bước
được các quốc gia thừa nhận và quy định trong pháp luật của nước mình. Ở
nước ta, vấn đề QCN đã được nghiên cứu và phản ánh một cách phong phú và
đa dạng thể hiện trong các văn kiện của Đảng, Nhà nước và các văn bản pháp
luật.
Theo Từ điển giải thích thuật ngữ pháp lý thông dụng: "Quyền con
người là các quyền tất yếu mà con người phải được hưởng và các quốc gia
phải tôn trọng" [28, tr. 338]. Vì vậy, theo quan niệm chung hiện nay, "quyền
con người là những giá trị, năng lực, nhu cầu vốn có và chỉ có ở con người
với tư cách là thành viên của cộng đồng nhân loại được thể chế hóa bằng pháp
luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế" [65, tr. 26].
QCN là giá trị thắng lợi chung của nhân loại, nhưng do điều kiện kinh
tế, chính trị - xã hội ở các châu lục, các khu vực, các quốc gia phát triển
không giống nhau nên ở các quốc gia khác nhau thì năng lực và nhu cầu của
mỗi thành viên xã hội sẽ không giống nhau mà phụ thuộc vào điều kiện kinh
tế - chính trị - xã hội nhất định mà thành viên đó sinh sống. Cho nên, ở các
quốc gia, QCN được thể hiện thành quyền công dân và được đảm bảo thực
hiện bởi hệ thống pháp luật của quốc gia đó.
Trên cơ sở lý luận và thực tiến của vấn đề này, khoa học pháp lý đã chia
QCN theo các lĩnh vực hoạt động của đời sống con người thành các nhóm:
11
- Nhóm các quyền tự do dân chủ về chính trị, bao gồm: quyền bầu cử,
ứng cử; quyền tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội; quyền bình đẳng
nam nữ; quyền tự do ngôn luận; tự do báo chí; quyền được thông tin; quyền
tự do tín ngưỡng.
- Nhóm quyền về dân sự (quyền tự do cá nhân), bao gồm: quyền tự
do đi lại và cư trú trong nước; quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về
nước; quyền bất khả xâm phạm về thân thể; quyền được luật pháp bảo hộ về
tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm; quyền bất khả xâm phạm về
chỗ ở; quyền được an toàn và bí mật về thư tín, điện thoại, điện báo, quyền
khiếu nại, tố cáo v.v
- Nhóm các quyền về kinh tế - xã hội, bao gồm: quyền lao động; quyền
tự do kinh doanh; quyền sở hữu hợp pháp và thừa kế; quyền học tập; quyền
nghiên cứu, phát minh, sáng chế; quyền được bảo vệ sức khỏe; quyền được
bảo vệ hôn nhân và gia đình; quyền trẻ em; quyền người già v.v
Thế giới hiện đại với sự thay đổi thường xuyên và nhanh chóng trên
tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế - chính trị - xã hội, cho nên QCN được
phát triển không ngừng, phong phú hơn cả về nội dung lẫn hình thức. Cho
nên, trong quá trình phát triển của nhân loại một số QCN mới được xuất hiện
như:
* Quyền phát triển: Quyền phát triển được Ủy ban Nhân quyền Liên
Hợp Quốc chuẩn bị từ năm 1981, được thông qua tại kỳ họp thứ 41 của Đại
Hội đồng Liên Hợp Quốc ngày 4/ 12/ 1986 dưới hình thức Tuyên ngôn toàn
cầu về phát triển.
Đó là quyền của các quốc gia, dân tộc đối với chủ quyền trên lãnh thổ
của mình như: quyền tự do lựa chọn các thể chế chính trị, kinh tế, quyền được
trợ giúp về kỹ thuật và tài chính từ các tổ chức quốc tế và các quốc gia khác
trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ.
12
Quyền phát triển là sự hiện thực hóa QCN ở thế hệ thứ ba, khi mà
nhiều quốc gia từng phải gánh chịu các hậu quả nặng nề của các cuộc chiến
tranh và đang gặp phải những khó khăn trầm trọng về kinh tế như đói nghèo,
dốt nát, bệnh tật , vì vậy họ có quyền được giúp đỡ về kinh tế, tài chính từ
các quốc gia tổ chức khác.
* Quyền được sống trong hòa bình và môi trường trong sạch
Ngày nay nhân loại đang đứng trước nhiều hiểm họa mang tính toàn
cầu như hiểm họa chiến tranh hạt nhân, nạn khủng bố mang tính quốc tế,
khủng hoảng nghiêm trọng về lương thực, thực phẩm, những cuộc xung đột
tôn giáo, chủng tộc, căn bệnh AIDS đến nay chưa có phương cứu chữa thực
sự hiệu quả Thực trạng đó đã và đang đe dọa đến sự tồn tại và phát triển của
loài người. Do đó, yêu cầu về quyền được sống trong một thế giới hòa bình,
bền vững đang là vấn đề cấp bách thật sự của các quốc gia, khu vực và cộng
đồng trên thế giới. Chính vì thế, pháp luật quốc tế ngày càng quan tâm đến
các vấn đề liên quan đến cuộc sống trong hòa bình của con người như vấn đề
giải trừ quân bị, loại trừ vũ khí hạt nhân, ngăn chặn khủng bố, ngăn chặn các
cuộc xung đột, thành lập tòa án quốc tế để xét xử tội diệt chủng, tội phạm
chiến tranh và đến ngày 1/7/2002, Liên Hợp Quốc đã thành lập Tòa án hình
sự quốc tế hoạt động một cách thường xuyên, độc lập với Liên Hợp Quốc.
Bên cạnh đó, do sự phát triển của khoa học, kỹ thuật, công nghệ, loài người
đang đứng trước nguy cơ suy thoái và ô nhiễm về môi trường ngày càng nặng
nề. Vì thế, hàng loạt các hội nghị quốc tế đã được tổ chức như: Năm 1972,
Hội nghị quốc tế về môi trường được tổ chức tại Stốckhôm (Thụy Điển); năm
1992, Hội nghị thượng đỉnh thế giới về môi trường tại Brazin; năm 1993 Hội
nghị về nhân quyền được tổ chức tại Viên; năm 1997 Hội nghị về môi trường tại
Tôkiô v.v , Hội nghị này đã xác định rõ: "Môi trường sinh thái đang là vấn
13
đề thách đố toàn cầu ". Cho nên, để con người được sống trong môi trường
trong sạch cần thiết phải đảm bảo:
1. Quyền được thông tin và nâng cao nhận thức của con người về
môi trường.
2. Quyền được tham gia hoạch định các chính sách và thể chế bảo vệ
môi trường.
3. Quyền được đền bù thiệt hại do sự hủy hoại môi trường gây ra.
Đồng thời, các hội nghị cũng đề ra trách nhiệm quốc tế và và trách
nhiệm của các quốc gia trong việc xây dựng quy chế pháp lý và tổ chức thực
hiện có hiệu quả vấn đề môi trường. Vì các mục tiêu của quyền phát triển và
quyền được sống trong hòa bình và môi trường trong sạch, tháng 9/2002, Hội
nghị thượng đỉnh địa cầu được tổ chức tại Johanneburg (Nam Phi) gồm hơn
100 nguyên thủ quốc gia tham gia với nội dung: Tìm biện pháp làm giảm
nghèo đói trước thời điểm 2005 và giảm nhẹ thiệt hại môi trường.
- Mối quan hệ giữa quyền con người và quyền công dân
Cách mạng tư sản thắng lợi, ách thống trị "Vương quyền", "Thần
quyền" của chế độ phong kiến và thế lực Nhà thờ bị lật đổ, cùng với sự ra đời
của Nhà nước tư sản, khái niệm QCN, khái niệm công dân, quyền công dân
được ra đời. Lúc này người dân trong một quốc gia được xác định là công dân
trong xã hội công dân và được hưởng các quyền công dân do pháp luật quy
định. Vì thế, là sản phẩm của cách mạng tư sản, quyền công dân được xác
định trong các văn bản pháp lý quan trọng nhất của các nhà nước tư sản bấy
giờ như: Tuyên ngôn độc lập nước Mỹ năm 1776, Tuyên ngôn nhân quyền và
dân quyền nước Pháp năm 1789, Luật về quyền công dân ở Anh v.v
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét