Thứ Hai, 14 tháng 4, 2014

môi trường vùng ngập lũ đồng tháp mười


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "môi trường vùng ngập lũ đồng tháp mười": http://123doc.vn/document/1043869-moi-truong-vung-ngap-lu-dong-thap-muoi.htm


Môi trường vùng ngập lũ Đồng Tháp Mười GVHD: PGS.TS. HOÀNG
HƯNG
SVTH: LÊ THU CÚC
5
Môi trường vùng ngập lũ Đồng Tháp Mười GVHD: PGS.TS. HOÀNG
HƯNG
SVTH: LÊ THU CÚC
Hình 2.1: Bản đồ hành chính vùng Đồng Tháp Mười
6
Môi trường vùng ngập lũ Đồng Tháp Mười GVHD: PGS.TS. HOÀNG
HƯNG
SVTH: LÊ THU CÚC
Đồng Tháp Mười nằm trong vùng thượng và trung lưu đồng bằng
sông Cửu Long hay đồng lũ, chòu ảnh hưởng trực tiếp của chế độ thủy văn sông
Cửu Long và hàng năm bò ngập lụt trong mùa mưa lũ.
2.1.2 Đòa hình – Đòa mạo:
ĐTM là một vùng đồng bằng trũng. Phía Bắc là những dãy đồi phù sa cổ
kéo dài từ phía Nam Campuchia, độ cao từ 2 – 4m. Phía Tây và Tây Nam do phù
sa sông Tiền bồi lấp tạo thành dải đất có độ cao từ 1,5 – 2m. Trung tâm ĐTM là
một lòng máng trũng, thấp dần theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, độ cao từ 0,4 –
0,75m. Kế đến là lòng máng trũng kẹp giữa hai sông Vàm Cỏ, cao trình mặt đất
0,3 – 0,4m.
ĐTM có các nhóm đất chính:
- Nhóm đất phù sa bao gồm phù sa cổ, phù sa glây và phù sa được bồi
tích hàng năm (chiếm 34%).
- Nhóm đất phèn phân bố tập trung ở hai lòng máng, điển hình là
vùng Tràm Chim, Bo Bo và Bắc Đông (chiếm gần 53%).
- Nhóm đất mặn tập trung ở vùng Tân Trụ, Châu Thành tỉnh Long An,
chiếm 13% diện tích toàn vùng.
2.1.3 Khí hậu:
Vùng ĐTM chòu ảnh hưởng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm quanh năm
với 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng V đến tháng XI, và tiếp theo là mùa khô.
Nhiệt độ trung bình năm cao và khá ổn đònh theo không gian và thời gian.
Tại Mộc Hóa là 27,4
0
C, Tân An là 26,9
0
C, Mỹ Tho là 27
0
C, Hiệp Hòa là 27,7
0
C,
tương đương với nhiều nơi khác của Đồng bằng sông Cửu Long.
7
Môi trường vùng ngập lũ Đồng Tháp Mười GVHD: PGS.TS. HOÀNG
HƯNG
SVTH: LÊ THU CÚC
Trong năm, tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất là tháng IV, thấp nhất là
tháng I. Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối quan trắc tại Mỹ Tho là 38,9
0
C, thấp nhất
tuyệt đối là 14,9
0
C.
Biên độ nhiệt ngày đêm cao hơn biên độ nhiệt trung bình ngày trong năm,
phù hợp với quá trình quang hợp của thực vật. Nhân tố làm cho khí hậu Đồng
bằng sông Cửu Long biến động là chế độ mưa.
Biến trình mưa có 2 cực đại vào tháng VII và tháng IX. Mùa mưa bắt đầu
sớm nhất ở các vùng phía Tây vào đầu tháng V sau đó chuyển dần sang phía
Đông. Mùa mưa kết thúc sớm theo quy luật ngược lại, muộn dần từ Đông Bắc
đến Tây Nam. Do vậy thời gian có mưa thực sự giảm dần từ Tây Nam đến Đông
Bắc.
Lượng mưa năm trung bình biến đổi theo không gian, có xu hướng giảm từ
Đông sang Tây và từ Bắc xuống Nam. Lượng mưa năm tương đối ổn đònh qua thời
kỳ nhiều năm, đa số dao động trong khoảng 1.300 – 1.700mm.
Phân bố mưa theo tháng:
- Mùa khô: lượng mưa 2 tháng chuyển tiếp mùa (XII, IV) ở các trạm
chiếm khoảng 80 -90% lượng mưa mùa khô. Hai tháng này có lượng mưa trung
bình tháng đạt 15 – 60mm. Các tháng giữa mùa (I, II, III) hầu như không có mưa,
nếu có thì không đáng kể.
- Mùa mưa: tại các trạm, lượng mưa các tháng V, VI, VII, VIII, IX
chênh lệch nhau không nhiều, những tháng này có lượng mưa trung bình tháng
đạt từ 100 – 200mm. Nhưng tháng IX, X lượng mưa vượt trội hẳn đạt khoảng 230
– 300mm. Lượng mưa 2 tháng IX, X chiếm khoảng 30 – 40% lượng mưa năm
quanh năm. Tổng lượng bức xạ lớn, tổng nhiệt cao.
2.1.4 Khí tượng thủy văn:
2.1.4.1 Sông rạch:
8
Môi trường vùng ngập lũ Đồng Tháp Mười GVHD: PGS.TS. HOÀNG
HƯNG
SVTH: LÊ THU CÚC
Đồng Tháp Mười được giới hạn hầu như mọi phía bởi các sông rạch tự
nhiên. Sông Tiền bao bọc phía Tây và Nam. Sông Vàm Cỏ với nhánh Vàm Cỏ
Đông bao bọc phía Đông, nhánh Vàm Cỏ Tây nằm dài dọc giữa bồn trũng ĐTM
như một trục tiêu hỗ trợ nước sông Tiền trong mùa lũ.
Phía Bắc là các rạch Sở Hạ – Cái Cỏ – Long Khốt nối tiếp nhau kéo dài từ
sông Tiền tới Vàm Cỏ Tây. Chỉ có một vùng đất cao ở phía Đông Bắc dọc biên
giới Việt Nam – Campuchia khô hạn và thiếu nước.
2.1.4.2 Các nguồn sông chính:
- Sông Tiền: là nhánh chính của sông Mêkông chảy vào đồng bằng
sông Tiền qua đoạn Tân Châu-Vàm Nao. Phía dưới Vàm Nao trên 35% nước
chuyển sang sông Hậu.
Trong mùa lũ, lòng sông Tiền không đủ thoát được lượng nước lớn lao của
sông Mêkông cho nên từ tháng VIII trở đi khi mực nước Tân Châu trên 3.5m,
nước sông tiền vượt bờ phía tả ngạn tràn vào ĐTM trên toàn tuyến biên giới.
Ước tính lượng nước chảy tràn chiếm khoảng 15% toàn bộ lượng nước đổ
vào châu thổ trong những năm lũ lớn và giảm đi trong những năm lũ bé.
9
Môi trường vùng ngập lũ Đồng Tháp Mười GVHD: PGS.TS. HOÀNG
HƯNG
SVTH: LÊ THU CÚC
Hình 2.2: Sông Tiền đoạn chảy qua Tân Châu (An Giang).
- Sông Vàm Cỏ Đông:
Sông Vàm Cỏ Đông (VCĐ) là một chi lưu của sông Vàm cỏ, thuộc hệ
thống của sông Đồng Nai. Sông Vàm Cỏ Đông bắt nguồn từ vùng đồi núi bên
lãnh thổ Campuchia chảy vào Việt Nam tại xã Biên Giới, huyện Châu Thành
(Long An), làm ranh giới tự nhiên giữa Châu Thành và Tân Trụ (Long An) rồi
qua huyện Bến Cầu, Hòa Thành, Gò Dầu,Trảng Bàng (đều thuộc Tây Ninh).
Sông Vàm Cỏ Đông có một số chi lưu trong đó có sông Nhật Tảo.
Sông có chiều dài là 220km trong đó phần trên lãnh thỗ Việt Nam dài hơn
150km. lưu vực sông rộng 8.500km
2
và lưu lượng là 96m
3
/s.
Hình 2.3: Sông Vàm Cỏ Đông.
Tại Tây Ninh, sông Vàm Cỏ Đông chảy từ phía Tây Bắc hướng Bến Cầu
có cảng Bến Kéo qua Gò Dầu Hạ rồi xuôi hướng Đông Nam chảy qua thò trấn
Bến Lức của tỉnh Long An. Sông Vàm Cỏ Đông và sông Vàm Cỏ Tây hợp lưu lại
(tại Tân Trụ) thành sông Vàm Cỏ. Vì có nhiều nhánh sông nhỏ của sông Vàm Cỏ
Đông nên nó rất thuận tiện cho việc lưu thông bằng đường thủy để vận chuyển
hàng hóa từ các nơi về Tây Ninh hay ngược lại từ Tây Ninh đến những nơi khác
10
Môi trường vùng ngập lũ Đồng Tháp Mười GVHD: PGS.TS. HOÀNG
HƯNG
SVTH: LÊ THU CÚC
(chủ yếu là các tỉnh ở Đồng Bằng Sông Cửu Long), điển hình là tại cảng Bến
Kéo (huyện Hoà Thành) rất tấp nập.
- Sông Vàm Cỏ Tây:
Sông Vàm Cỏ Tây (VCT)là tên một con sông chảy qua tỉnh Long An và
Tiền Giang. Sông này lấy nước từ sông Tiền và vùng ĐTM rồi hợp lưu với sông
Vàm Cỏ Đông tạo thành sông Vàm Cỏ. Thành phố Tân An của tỉnh Long An nằm
bên hữu ngạn con sông này.
Sông Vàm Cỏ Tây bắt nguồn từ biên giới tỉnh Svayrieng Campuchia chảy
vào huyện Vónh Hưng, Tân Thạnh, Tân Hưng, Thạnh Hóa, Thủ Thừa, TânTrụ,
Cần Giuộc, Châu Thành và Thành phố Tân An. Sông cùng với sông Vàm Cỏ
Đông hợp thành sông Vàm Cỏ đổ ra sông Nhà Bè.
Sông Vàm Cỏ Tây và sông Vàm Cỏ Đông nước có màu xanh khi thủy triều
lên và vàng đục khi thủy triều xuống. Đây là nét đặc trưng của sông Vàm Cỏ
khác với các sông khác ở Đồng bằng Sông Cửu Long.
Sông Vàm Cỏ Tây độ dài qua tỉnh Long An là 186km. nguồn nước chủ yếu
qua sông Tiền tiếp sang qua kênh Hồng Ngự đáp ứng một phần nhu cầu nước tưới
cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt cho dân cư.
11
Môi trường vùng ngập lũ Đồng Tháp Mười GVHD: PGS.TS. HOÀNG
HƯNG
SVTH: LÊ THU CÚC
Hình 2.3: Sông Vàm Cỏ Tây, đoạn qua Thành phố Long An.
Sông Vàm Cỏ Tây là một sông không có nguồn, lượng dòng chảy trên
sông chủ yếu là từ sông Tiền chảy qua. Sông Vàm Cỏ Tây là nơi nhận nước tiêu
lũ từ ĐTM thoát ra và là một tuyến xâm nhập mặn chính. Tại Tân An cao trình
đáy sông -21,5m, độ dốc đáy 0,02%, rộng 185m, tiết diện ướt 1.930m
2
, lưu lượng
bình quân các tháng kiệt 9m
3
/s, lưu lượng lũ tối đa gần 5.000m
3
/s.
- Sông Sở Hạ – Cái Cỏ: Sông Sở Hạ là sông tự nhiên thuộc hệ sông
Sở Hạ – Cái Cái. Dòng Sở Hạ được thu hẹp dần từ phía sông Tiền đến Thông
Bình và từ năm 1985 được nối với sông Vàm Cỏ Tây tại Long Khốt qua đoạn đào
mới Cái Cỏ.
Nguồn nước chủ yếu từ sông Tiền và một phần lượng nước bổ sung từ rạch
Trabek bên Campuchia sang.
2.1.4.3 Thủy triều biển Đông:
Thủy triều biển Đông ảnh hưởng mạnh mẽ đến chế độ nước trong vùng
ĐTM suốt cả năm. Trong mùa cạn, thủy triều đẩy nước lên tận biên giới, trong
toàn vùng nước chảy hai chiều và ảnh hưởng của thủy triều rộng khắp toàn vùng.
Trong mùa lũ thủy triều rút xuống hạ lưu và ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự rút nước
và chế độ ngập.
Triều biển Đông có dạng bán nhật triều không đều, trong 1 ngày có 2 lần
triều lên, 2 lần triều xuống. Thời gian 1 ngày triều là 4 giờ 50 phút. Chênh lệch 2
đỉnh triều trong ngày không nhiều (từ 0,20 -0,30m). Chênh lệch giữa 2 chân triều
lớn.
Trong 1 tháng có 2 lần triều cường, xảy ra vào ngày 1 và ngày 15 âm lòch
hoặc sau 1 đến 2 ngày, 2 lần triều kém xảy ra vào ngày 7 và 23 âm lòch hoặc sau
1 đến 2 ngày.
12
Môi trường vùng ngập lũ Đồng Tháp Mười GVHD: PGS.TS. HOÀNG
HƯNG
SVTH: LÊ THU CÚC
Trong năm mực nước triều thấp nhất vào tháng VI hoặc VII. Mực nước
đỉnh triều lớn nhất vào tháng X –XI.
2.2 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI:
2.2.1 Đặc điểm dân cư:
Dân cư vùng ĐTM phân bố không đồng đều và có quan hệ chặt chẽ với
chế độ ngập lũ hàng năm. Về mặt đònh hình, dân cư vùng ĐTM phân bố theo 3
dạng chính:
• Phân bố dân cư dạng tuyến: quy tụ dọc theo các tuyến lộ và
hệ thống kinh trục ở những khu vực có đòa hình thấp. Phân bố dân cư theo dạng
tuyến phù hợp với tập quán liền canh liền cư của người dân, đồng thời phần nào
hạn chế thiệt hại do ngập lũ hàng năm. Tuy nhiên, do phân bố dàn trải dài nên
việc đầu tư các công trình công cộng khó khăn, diện tích hẹp, đòa hình cao,
không có điều kiện phát triển cây vườn vì vậy vào mùa lũ thường thiệt hại do
gió lốc. Dân cư ở dạng tuyến chủ yếu sinh sống bằng nông nghiệp.
• Phân bố dạng cụm dân cư nông thôn: thường tập trung vào các khu
thò tứ trung tâm xã, hoặc ở các đầu mối giao thông thủy bộ. Thành phần dân cư
phi nông nghiệp chiếm đa số trong khu vực này. Phần lớn các khu dân cư dạng
này chưa có điều kiện vượt lũ do đó thường bò ảnh hưởng ngập lũ hàng năm. Cơ
sở hạ tầng ĐTM chưa đủ đáp ừng cho toàn vùng nên nhiều cụm dân cư nông thôn
còn chưa đảm bảo lưu thông liên tục với bên ngoài vào mùa lũ.
• Cụm dân cư đô thò, thò trấn: thường tập trung ở các trung tâm
huyện, có đòa hình cao không ngập lũ hoặc có đê bao ngăn lũ triệt để. Dân cư phi
nông nghiệp chiếm đại đa số. Đây thường là trung tâm phát triển kinh tế xã hội
trong khu vực, có điều kiện xây dựng khu dân cư vượt lũ quy mô, thuận lợi phát
triển cơ sở hạ tầng. Đây là khu vực dân cư ít chòu thiệt hại do lũ hàng năm. Tuy
13
Môi trường vùng ngập lũ Đồng Tháp Mười GVHD: PGS.TS. HOÀNG
HƯNG
SVTH: LÊ THU CÚC
nhiên, vấn đề ô nhiễm môi trường sống trong thời gian lũ khá trầm trọng. Nhiều
khu vực còn chưa đảm bảo giao thông đường bộ liên tục với bên ngoài trong mùa
lũ.
Dựa vào đặc điểm ngập lũ hàng năm của vùng, có thể nhận thấy dân cư
vùng ĐTM phân bố ở 3 khu vực khác nhau:
• Dân cư khu vực ngập lũ sâu (>2m): gồm khu vực của 5 huyện
thuộc tỉnh Đồng Tháp ( huyện Tân Hồng, Hồng Ngự, Tam Nông, Thanh Bình,
Tháp Mười) và 3 huyện của tỉnh Long An (huyện Vónh Hưng, Mộc Hóa, Tân
Hưng).
• Dân cư khu vực ngập lũ trung bình (từ 1-2m): gồm khu vực của 1
huyện, 1 thò xã thuộc tỉnh Đồng Tháp ( huyện Cao Lãnh, thò xã Cao Lãnh), 2
huyện của tỉnh Long An (huyện Tân Thạnh) và 3 huyện thuộc tỉnh Tiền Giang
(huyện Cai Lậy, Cái Bè, Tân Phước).
• Dân cư khu vực ngập lũ nông (<1m): Đây là khu vực có mật độ
dân cư cao nhất vì ít bò ảnh hưởng của lũ, khai thác đất đai lâu đời, giao thông
thuận lợi.
2.2.2 Thực trạng sản xuất nông nghiệp vùng Đồng Tháp Mười:
2.2.2.1 Đất trồng lúa:
Đây là loại hình sử dụng đất chính, chiếm hầu như toàn bộ diện ti1chcanh
tác vùng ĐTM. Phụ thuộc vào thời gian canh tác được trong năm, mức độ ngập
sâu trong mùa lũ, nguồn nước tưới… Đất trồng lúa phân thành các loại sau:
- Đất trồng lúa 2 vụ Đông Xuân – Hè Thu: chiếm tỷ trọng lớn về diện
tích trong đất trồng lúa, phân bố hầu như toàn vùng ĐTM, bao gồm toàn bộ tỉnh
Đồng Tháp, Long An. Đây là khu vực đất trồng lúa có thời gian canh tác từ tháng
XI – XII đến tháng VI – VII trong năm với hệ thống thủy lợi đảm bảo nguồn
nước tưới từ sông Tiền.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét