LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Tài liệu Nghiên cứu một số vấn đề xã hội liên quan đến quy hoạch môi trường vùng đồng bằng sông Hồng docx": http://123doc.vn/document/1052690-tai-lieu-nghien-cuu-mot-so-van-de-xa-hoi-lien-quan-den-quy-hoach-moi-truong-vung-dong-bang-song-hong-docx.htm
Chiến lợc là một hệ thống t duy và hành động thực tiễn tơng ứng, bao gồm
ba thành tố cơ bản: (1) - Mục tiêu hành động, (2) - Các giải pháp tơng ứng nhằm đạt
tới mục tiêu đã đặt ra và (3) - Kịch bản, tức là kế hoạch hoá hệ thống hành động đạt tới
mục tiêu. Chiến lợc phát triển bao gồm mục tiêu phát triển, giải pháp phát triển và
kịch bản phát triển.
Giống nh tình hình lý thuyết phát triển, chiến lợc phát triển cũng có nhiều
kiểu loại khác nhau, cạnh tranh với nhau. Lý do không chỉ là vì ngời ta dựa vào các
triết thuyết và lý thuyết phát triển khác nhau, mà còn do thực tiễn xã hội rất đa dạng;
ngoài ra, còn do trình độ năng lực và ý chí của các chủ thể đề xớng và thực hành
chiến lợc phát triển khác nhau, thậm chí xung đột với nhau về lợi ích, định hớng giá
trị và lý tởng cuộc sống.
Vấn đề đặt ra là cần làm rõ hạt nhân hợp lý của các quan điểm chiến lợc phát
triển khác nhau và đi tới sự tổng - tích hợp các hạt nhân hợp lý đó để có đợc hệ quan
điểm chiến lợc phát triển vừa phù hợp hoàn cảnh đất nớc lại vừa phù hợp với xu thế
thời đại.
Thực trạng việc quy hoạch môi trờng hiện nay cũng không nằm ngoài tình
trạng không có một sự thống nhất, đồng bộ về phơng pháp tiến hành. Cụ thể có thể
chia ra làm 3 kiểu loại: quy hoạch môi trờng trớc khi quy hoạch kinh tế - xã hội; quy
hoạch môi trờng đồng thời với quy hoạch kinh tế - xã hội và quy hoạch môi trờng
sau khi quy hoạch kinh tế - xã hội. ở nớc ta việc quy hoạch môi trờng thờng tiến
hành theo cách thứ 3, do vậy việc cung cấp các luận cứ khoa học về kinh tế và xã hội là
việc làm không thể thiếu.
2. Các phơng pháp nghiên cứu đợc sử dụng trong chuyên đề
2.1. Phơng pháp phân tích t liệu sẵn có
2.1.1 Phơng pháp phân tích chính sách
Thuật ngữ chính sách đợc sử dụng trong chuyên đề này thực chất là các biện
pháp hỗ trợ từ phía chính phủ, các văn bản pháp quy quy định dới luật, các quy định,
luật lệ của Nhà nớc, các giải pháp can thiệp của Nhà nớc v,v lên tiến trình phát
triển. Vì vậy phơng pháp phân tích chính sách đợc sử dụng trong chuyên đề này thực
chất là việc tìm hiểu và chỉ ra các vấn đề cần đa ra chính sách, những luận cứ khoa
học để đa ra chính sách và dự báo những ảnh hởng và hiệu quả của chính sách.
4
2.1.2 Phơng pháp tổng hợp và phân tích dữ liệu
Trong cuộc nghiên cứu này, phơng pháp phân tích tài liệu chiếm giữ vai trò rất
quan trọng. Phơng pháp này cho phép nhóm nghiên cứu đảm bảo đợc rằng kết quả
của cuộc khảo sát không giống nh việc phát minh lại một chiếc xe đạp. Hơn nữa,
các kết quả đã có từ các nghiên cứu trớc cũng góp phần bổ sung t liệu cho việc đánh
giá những yếu tố xã hội có ảnh hởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới bản quy hoạch tổng
thể vùng ĐBSH nói chung và quy hoạch môi trờng vùng này nói riêng.
2.2. Phơng pháp đánh giá thực trạng và chính sách có sự tham gia của ngời
dân
Phơng pháp này đợc sử dụng nh một công cụ để kiểm chứng tính khả thi
hoặc ít nhất là sự đồng thuận hay nói cách khác là tâm thế của các đối tợng đợc tác
động bởi chính sách (cụ thể ở đây là quy hoạch môi trờng), những điểm phù hợp cũng
nh những vấn đề còn bất cập nhằm điều chỉnh và hoàn thiện để chính sách quy hoạch
có tính khả thi cao hơn.
5
B- Nội dung chuyên đề
I. Những vấn đề về dân số và lao động, việc làm liên quan đến môi trờng
và quy hoạch môi trờng vùng ĐBSH
1.1. Các vấn đề dân số
Nh chúng ta đều biết, giữa dân số và môi trờng có mối quan hệ mật thiết nh
đã từng đợc khẳng định tại Bản tuyên bố Amxtecđam năm 1989 rằng Dân số, môi
trờng và tài nguyên là một thể liên kết khăng khít và nhấn mạnh sự cần thiết phải
đảm bảo Mối liên hệ giữa số lợng ngời, nguồn tài nguyên và sự phát triển.
1.1.1. Vấn đề kiểm soát mức sinh
Vấn đề kiểm soát mức sinh có thể nói là về cơ bản đã thành công cả ở khu vực
nông thôn và đô thị. Biểu hiện cụ thể của nó là số gia đình trẻ sinh con thứ 3 hiện nay
vẫn còn nhng chiếm một tỷ lệ nhỏ. Sự thành công của chơng trình dân số Việt Nam
trong thời kỳ qua là đã làm thay đổi đợc căn bản nhận thức của nhân dân về vấn đề kế
hoạch hoá gia đình. Thành công này là một sự cố gắng lớn lao và nó sẽ góp phần giảm
bớt đợc sức ép của dân số lên môi trờng. Thực tế cho thấy ngời dân ngày càng có ý
thức tự giác hơn trong việc thực hiện chơng trình dân số kế hoạch hoá gia đình của
Nhà nớc. Tác động của cơ chế thị trờng cùng với các chơng trình tuyên truyền, giáo
dục rộng rãi do Nhà nớc và các tổ chức xã hội thực hiện đã giúp nhân dân có sự lựa
chọn đúng đắn hơn trong việc sinh đẻ. Quan niệm trời sinh voi, trời sinh cỏ, đông
con nhiều phúc, trọng nam khinh nữ vốn đã từng chi phối động thái dân số trong
hàng nghìn năm đã bắt đầu thay đổi sâu sắc. Ngời dân đã thấy đợc lợi ích của việc
giảm mức sinh với chính gia đình mình trong tác động qua lại với cả xã hội
2
. Tỷ lệ gia
tăng dân số tự nhiên của vùng ĐBSH thuộc loại thấp nhất cả nớc. Năm 2000 tỷ lệ tăng
chung của cả nớc chiếm 1,42% thì vùng ĐBSH là 1,69%. Tơng tự nh vậy, đến năm
2002 tỷ lệ tơng ứng là 1,32% so với 1,068%. Hiện nay tốc độ gia tăng tự nhiên của
vùng còn khoảng 1%. Riêng tại các đô thị lớn nh Hà Nội, Hải Phòng mức gia tăng
còn đạt tỷ lệ thấp hơn.
1.1.2 Mật độ dân số và quan hệ của nó với môi trờng
Do diện tích của vùng ĐBSH chỉ có 16644 km
2
nên mật độ dân số đợc xếp vào
loại đông nhất thế giới. Mật độ dân số trung bình của vùng này là 1024 ngời/km
2
(năm 1993) và tăng lên 1152,23 ngời/km
2
(năm 2001). Trong so sánh với Hà Lan tỷ lệ
tơng ứng là 405/1024; với Inđônêxia là 1022/1024 và với cả nớc Việt Nam là
2
Báo cáo phát triển con ngời Việt Nam 2001, trang 47
6
223/1024 ngời
3
. Để có một cái nhìn trong so sánh với cả nớc về tình hình thực tế
của dân số vùng ĐBSH trong những năm gần đây xin xem bảng 1.
Một nguyên lý dễ hiểu tới mức không cần phải chứng minh là dân số tăng sẽ
gây sức ép cho môi trờng, bởi lẽ phần lớn các nhu cầu cơ bản của con ngời đợc lấy
từ môi trờng tự nhiên. Đối chiếu nguyên lý này với ĐBSH có thể thấy rõ sự bức xúc
do mật độ dân số quá đông. Đây là hậu quả của quá trình gia tăng dân số quá nhanh
trong thế kỷ trớc. Trên bình diện quốc gia, dân số đã tăng lên 4,5 lần trong 74 năm
(1921 - 1995). Tuy nhiên, cho đến hiện tại có thể nói là cả nớc nói chung, ĐBSH nói
riêng đã thành công trong quá trình kiểm soát mức sinh. Cho đến nay mức sinh của
vùng giao động ở con số 1%. Tỷ lệ này vẫn cha hoàn toàn đạt đợc mức sinh thay thế
do vậy trong thời gian tới vẫn có sự tăng nhanh của dân số.
Về cơ cấu dân số, hiện nay ở nớc ta cũng nh ĐBSH có một cơ cấu dân số
chiếm phần lớn là trẻ. Cơ cấu này có thể là lợi thế cho sự phát triển nếu xã hội đáp ứng
đợc đủ nhu cầu việc làm. Tuy nhiên tiềm năng gia tăng dân số cũng đợc dự trữ trong
dân số có liên quan đến cấu trúc trẻ của phân bố tuổi. Do tỷ suất sinh trớc đây cao nên
dân số ở độ tuổi thanh niên chiếm tỷ lệ lớn trong dân số.
Sự phân bố dân c giữa khu vực thành thị và khu vực nông thôn trong nội vùng
cũng có tác động quan trọng đến môi trờng. Trong khi nhu cầu cần đẩy nhanh tốc độ
đô thị hoá và công nghiệp hoá đối với ĐBSH ngày càng trở nên bức xúc thì kéo theo nó
là quá trình tập trung dân c đông ở các khu đô thị và công nghiệp. Tại các thành phố
lớn trong vùng hiện nay các vấn đề ô nhiễm môi trờng khí, nớc và rác thải ngày càng
trở nên bức xúc do một mặt là sức ép của mật độ dân số, mặt khác là sự yếu kém trong
công tác xử lý.
Hiện nay, tại các vùng ven đô đang diễn ra quá trình đô thị hoá và công nghiệp
hoá với tốc độ tơng đối mạnh mẽ. Tuy nhiên tại các vùng này, về mặt văn hoá và xã
hội qua trình chuyển đổi khuôn mẫu văn hoá và lối sống từ nông nghiệp, nông thôn
sang đô thị, công nghiệp mới chỉ đang bắt đầu. Do đó ý thức sinh thái của các tầng lớp
dân c vẫn còn ở mức độ thấp. Mặt khác, ngay cả giới chủ doanh nghiệp cũng cố gắng
tìm cách giảm nhẹ gánh nặng môi trờng bằng cách đổ chất thải ra những nơi công
cộng. Một kết quả khảo sát nhanh tại Hà Tây của chúng tôi cho thấy giá thuê đất tại
những nơi gần bờ sông đắt hơn khoảng 2.000.000đ/1sào so với những nơi xa bờ sông.
3
Quy hoạch tổng thể Đồng bằng Sông Hồng, tập 2, tr14
7
Bảng 1: Dân số trung bình vùng ĐBSH
4
Đơn vị: 1000 ngời
1997 1998 1999 2000
Tổng số Nam Nữ Thành
thị
Nông
thôn
Tổng số Nam Nữ Thành
thị
Nông
thôn
Tổng số Nam Nữ Thành
thị
Nông
thôn
Tổng số
Cả nớc 74346,3 36352,6 37933,7 15997,0 58369,3 75496,4 36920,4 38576,0 16725,5 58770,9 76618,4 37619,6 38998,8 17813,7 58804,7 77752,6
Vùng
ĐBSH
So với cả
nớc (%)
16553,5
22,27
8017,0
22,05
8545,5
22,49
3100,9
19,41
13459,6
23,06
16695,9
22,11
8093,2
21,92
8602,7
22,30
3271,8
19,56
13355,1
22,72
16903,2
22,06
8247,5
21,92
8655,7
22,19
3367,2
18,90
13536,0
23,02
17243,3
22,07
Hà Nội 2467,2 1211,6 1255,6 1384,2 1083,0 2553,7 1253,4 1300,3 1455,3 1098,4 2688,0 1344,8 1343,2 1548,0 1140,0 2841,7
Hải
Phòng
1695,2 825,5 869,7 573,5 1121,7 1659,6 817,4 842,2 560,3 1099,3 1677,5 827,8 849,7 570,9 1106,6 1711,1
Ninh
Bình
903,9 437,4 466,5 120,1 783,8 897,8 434,1 463,7 121,5 776,3 898,5 434,1 464,4 121,7 776,8 891,8
Hà Nam 782,1 379,5 402,6 60,9 721,2 791,0 838,9 407,1 62,6 728,4 799,8 388,2 411,6 63,8 736,6 800,4
Nam
Định
1856,4 901,2 955,2 234,4 1622,0 1874,6 911,3 963,3 243,3 1640,3 1893,0 921,6 971,4 234,1 1658,9 1916,4
Thái Bình 1770,0 843,0 927,0 100,0 1670,0 1779,0 849,0 930,0 102,0 1677,0 1788,0 855,0 933,0 104,0 1684,0 1814,7
Hng
Yên
1092,7 521,5 580,2 89,6 1003,1 1099,5 516,1 583,4 90,8 1008,7 1072,0 518,2 553,8 99,9 972,1 1091,0
Hải
Dơng
1630,6 786,3 844,3 183,3 1447,3 1641,5 792,6 848,9 255,9 1415,6 1652,9 799,2 853,7 228,1 1424,8 1670,8
Bắc Ninh 932,4 447,4 485,0 58,5 873,9 940,7 451,2 489,5 88,4 853,3 944,4 458,8 485,6 88,8 855,6 957,7
Vĩnh
Phúc
1068,8 519,4 549,4 106,3 969,5 1083,1 527,5 555,6 109,7 873,4 1095,6 533,7 561,9 115,9 979,7 1115,7
Hà Tây 2354,2 1210,0 1210,0 190,1 2164,1 2375,4 1218,7 1218,7 191,0 2184,4 2393,5 1166,1 1227,4 192,0 2201,5 2427,1
4
T liệu vùng Đồng bằng Sông Hồng 1999-2000, Trung tâm nghiên cứu và phát triển vùng, NXB Khoa học và Kỹ thuật, tr 7
8
Sức ép đầu tiên của dân số ĐBSH lên môi trờng có thể dễ dàng nhận thấy
nhất là sự thu hẹp liên tục diện tích đất bình quân trên đầu ngời. Cho đến nay,
diện tích đất nông nghiệp bình quân trên đầu ngời đạt mức dới 1 sào Bắc bộ là
phổ biến. Có nhiều nơi trong vùng chỉ đạt khoảng 240m
2
/ngời.
Tính cho toàn vùng, diện tích đất canh tác của ĐBSH cha đạt 0,15ha/ngời
(thấp nhất nớc). Với diện tích này việc phải thâm canh tăng vụ để tăng năng suất
nhằm đáp ứng đủ nhu cầu lơng thực là việc làm tất yếu. Do đó việc sử dụng các
loại phân hoá học và thuốc trừ sâu là nguồn độc hại gây ô nhiễm môi trờng. Đồng
thời s lợng của các chất hoá học còn làm tổn hại tới sức khoẻ của con ngời.
Trong thời gian gần đây, vệ sinh an toàn thực phẩm nổi lên nh một vấn đề bức xúc
đặc biệt tại các thành phố lớn. Lợng thuốc trừ dịch hại và bảo vệ thực vật đợc sử
dụng ở nớc ta khoảng 0,4 - 0,5kg/ha, lợng phân đạm hoá học là 73-85kg/ha, ở
một số vùng thâm canh rau lợng phân hoá học lên tới 324kg/ha.
5
Mặt khác nữa,
các loại chất hoá học này cũng đang là nguồn đe doạ trực tiếp tới chất lợng đất,
các mạch nớc ngầm và các loài động thực vật.
1.1.3. Di dân và vấn đề kiểm soát các làn sóng di dân
Sự biến động của dân số bao gồm cả quá trình di dân. Khái niệm di dân ở
đây đợc hiểu theo cả hai nghĩa. Theo nghĩa rộng thì di dân là sự chuyển dịch bất
kỳ của con ngời trong một không gian và thời gian nhất định. Theo nghĩa này thì
di dân đợc hiểu đồng nghĩa với sự vận động của dân c. Theo nghĩa hẹp hơn, di
dân đợc hiểu là sự di chuyển của dân c từ một đơn vị lãnh thổ này sang một
đơn vị lãnh thổ khác nhằm thiết lập một nơi c trú mới trong một khoảng thời
gian nhất định.
Theo nghĩa của cả hai khái niệm này thì vấn đề di dân ĐBSH có thể chia ra
thành hai loại tơng ứng. Trong đó loại hình di dân mang tính tạm thời chiếm tỷ
lệ lớn hơn. Dạng di dân này chủ yếu diễn ra theo mùa vụ và theo chiều chủ đạo từ
nông thôn ra đô thị. Cha có sự thống kê một cách chính thức theo từng năm đối
với loại hình di dân này nhng có thể chắc chắn rằng con số luôn đứng ở hàng
triệu và ngày càng gia tăng.
Ngoài ra, ngời ta cũng chia di dân làm hai dạng là di dân có tổ chức và di
dân không có tổ chức. Trong đó di dân không có tổ chức tiếp tục đợc chia đôi
thành di dân tự do và di dân bất hợp pháp. Loại hình di dân có tổ chức ở ĐBSH
5
Nguồn: Dân số và phát triển - một số vấn đề cơ bản. Nxb Chính trị Quốc gia, 2000, trang 69
9
chỉ diễn ra mạnh trong những năm 60-80 của thế kỷ trớc theo các Nghị định
82/CP; 95/CP và 254/CP. Tuy vậy số lợng dân c di dân theo dạng này so sánh
với loại hình di dân không có tổ chức chỉ bằng một phần nhỏ. Xu hớng chủ đạo
hiện nay ở ĐBSH vẫn là di dân tự do. Chính vì lẽ đó mà nhiều ngời tỏ rõ sự lo
ngại về sự yếu kém trong công tác kiểm soát các luồng di dân. Nhóm tác giả
chuyên đề cũng chia sẻ với quan điểm này ở khía cạnh kiểm soát di dân nhằm
giảm thiểu sự quá tải của dân số lên môi trờng và các vấn đề tiêu cực phát sinh.
Mặt khác, chúng tôi cũng cho rằng một trong những quan điểm chỉ đạo phải đợc
đa vào các chính sách dân số là: không đợc đồng nghĩa việc kiểm soát di dân
với việc ngăn chặn dòng ngời từ nông thôn ra đô thị. Bởi lẽ trên thực tế việc di
dân của khu vực nông thôn ra đô thị là một quy luật tất yếu nhằm tăng cờng tính
năng động của thị trờng lao động và xét từ các khía cạnh kinh tế cũng nh xã
hội thì quá trình này cũng góp phần làm tăng tính hiệu quả của các bộ phận trong
lực lợng lao động, đồng thời cải thiện thu nhập của ngời dân nông thôn, cũng
có lợi cho cả đô thị và từng bớc rút ngắn sự cách biệt nông thôn đô thị nếu có
các chính sách điều tiết hợp lý. Chẳng hạn nh việc ban hành pháp lệnh về khung
giá tối thiểu cho những ngời đô thị thuê nhân công ở nông thôn căn cứ theo giờ
làm việc. Tất nhiên sẽ có vấn đề nảy sinh là nếu pháp lệnh này ra đời và đợc
kiểm soát nghiêm ngặt thì lúc đầu sẽ có hiện tợng nhiều ngời dân nông thôn
khi vào đô thị sẽ mất cơ hội việc làm. Song nếu chính sách này đợc ra đời trên
cơ sở có sự tính toán tỷ mỉ, hợp lý và có sự điều chỉnh kịp thời thì sẽ góp phần
tăng thu nhập cho bộ phận dân nông thôn gia nhập vào thị trờng lao động ở khu
vực đô thị.
Mặt khác chúng ta còn cần tính đến các luồng di dân từ ĐBSH đến các nơi
khác cũng đã và đang làm suy thoái môi trờng. Việc di dân kể cả loại hình có tổ
chức và không có tổ chức từ ĐBSH đến các vùng khác nh Tây Nguyên và Vùng
núi phía Bắc đã góp một phần quan trọng vào sự thiệt hại nặng nề đối với tài
nguyên rừng ở Việt Nam. Theo kết quả điều tra biến động môi trờng tự nhiên do
sự tăng trởng dân số ở Tây Nguyên, nơi có dòng nhập c nhiều nhất nớc (trong
đó có một bộ phận đáng kể từ ĐBSH) cho thấy qui mô dân số càng tăng, mật độ
dân số càng cao thì độ che phủ rừng càng thấp. Ngời ta đã nghiên cứu và tổng
kết rằng càng lên cao dân c càng tha, diện tích rừng bị mất càng ít. ở vành đai
cao < 700m rừng bị giảm nhiều nhất, gấp 2 lần vành đai 700-1000m, gấp gần 4
lần vành đai 1000-1500m, gấp 472 lần vành đai >2000m. Hậu quả của các làn
10
sóng di dân từ đồng bằng tới các vùng cao làm rừng bị đẩy dần lên phía đỉnh núi.
Biến động rừng có liên quan chặt chẽ đến đặc điểm đất đai và việc sử dụng đất
của con ngời. Nơi nào đất đai đáp ứng đợc nhu cầu làm nơng rẫy và trồng cây
công nghiệp dài ngày thì rừng bị mất nhiều hơn nơi khác từ 10 - 30 lần
6
1.1.4. Chất lợng dân số và vấn đề nâng cao chất lợng dân số
Nh trên đã nói, cho đến nay vấn đề kiểm soát mức sinh ở khu vực ĐBSH
về cơ bản đã đợc giải quyết. Nâng cao chất lợng dân số đợc xem là vấn đề
trọng tâm đối với cả nớc nói chung và ĐBSH nói riêng trong giai đoạn tiếp theo.
Chất lợng dân số bao gồm các đặc trng về thể chất, trí tuệ và tinh thần của
toàn bộ dân số
7
. Trong bối cảnh thực tế hiện nay, với nội hàm rộng lớn của khái
niệm này thì việc có năng lực để thực hiện thành công chiến lợc dân số đáp ứng
đầy đủ chất lợng tổng thể sẽ là một thách thức lớn lao. Do vậy chia nhiệm vụ
chung thành những nhiệm vụ hợp phần là việc làm cần thiết. Việc tổng hợp kết
quả từ các nghiên cứu của nhóm tác giả chuyên đề cho thấy rằng trớc mắt (ít
nhất là trong giai đoạn 5 năm) chúng ta cần tập trung vào vấn đề cải thiện chất
lợng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ bà mẹ và trẻ em bằng các hành động cụ thể
nhằm giảm nhanh tỷ lệ trẻ em suy sinh dỡng, đáp ứng nhu cầu học tập, vui chơi
giải trí cho trẻ và nâng cao sức khoẻ của nhóm phụ nữ trong độ tuổi sinh sản. Đặc
biệt cần sớm có các giải pháp nhằm giảm thiểu tình trạng nạo hút thai vì cho đến
hiện nay tình trạng này vẫn đang là vấn đề bức xúc (hàng năm chỉ tính riêng tại
Hà Nội có khoảng 120.000 ca nạo hút thai), cả nớc có số ca phá thai lên tới
khoảng 1,22 triệu
8
. Một điểm cần lu ý khác là trong chiến lợc nâng cao chất
lợng dân số cần tăng cờng đầu t cả nhân lực và tài lực nhiều hơn nữa cho khu
vực nông thôn.
1.1.5. Vấn đề giảm sức ép của dân số lên môi trờng
Giảm sức ép của dân số lên môi trờng đối với vùng ĐBSH là một việc
làm bức thiết vì nh đã trình bày tại các phần trên rằng hiện nay sức ép của dân
số lên môi trờng của ĐBSH là cao nhất so với các vùng sinh thái khác của cả
nớc. Tuy nhiên muốn làm đợc việc này cần phải có một hệ thống giải pháp
tổng thể bao gồm cả việc tiếp tục giảm tỷ lệ tăng tự nhiên của dân số, tăng cờng
các biện pháp truyền thông dân số và tạo công ăn việc làm v,v Tất cả các biện
6
Nguồn: Dân số và phát triển - một số vấn đề cơ bản. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, trang 81
7
Pháp lệnh dân số. Uỷ ban Thờng vụ Quốc hội số 06/2003/PL
8
UBQGDS, 1998
11
pháp này có thể gói gọn vào khái niệm nâng cao chất lợng dân số. Nâng cao
chất lợng dân số là một việc làm cần thiết, nó góp phần gián tiếp vào việc giảm
sức ép của dân số lên môi trờng bởi lẽ trong chất lợng dân số có tiêu chí khá
quan trọng là trí tuệ do vậy việc nâng cao trí tuệ và nhận thức của con ngời trong
đó có nhận thức về quan hệ giữa con ngời và môi trờng sẽ có thể làm thay đổi
hành vi của các nhóm dân c trong việc ứng xử với môi trờng.
1.2. Các vấn đề lao động và việc làm
1.2.1. Thực trạng và xu hớng biến đổi
Về mặt số lợng nguồn lao động, ở ĐBSH chiếm tỷ lệ 23,06% so với tổng số
lao động của cả nớc. Trong đó, cơ cấu lao động chia theo ngành là: nông, lâm,
thuỷ sản (63,2%); công nghiệp, xây dựng (14,0%); dịch vụ (22,9%). Nh vậy,
nguồn lao động của ĐBSH chủ yếu vẫn ở khu vực nông nông nghiệp, nông thôn.
Cũng có thể thấy rằng lực lợng lao động của vùng ĐBSH đông đảo nhất nớc
nhng mức đóng góp vào GDP của cả nớc năm 2000 chỉ bằng 21,7%, trong khi
đó của vùng Đông Nam Bộ là 34,4% chứng tỏ vùng này chỉ dồi dào về mặt số
lợng nhân lực trong khi năng lực tạo ra sản phẩm của lực lợng lao động thấp.
Bảng 2: Lực lợng lao động thờng xuyên chia theo trình độ chuyên môn vùng
ĐBSH năm 2001
Đơn vị: %
Trình độ chuyên môn kỹ thuật
Tổng số
(đơn vị:
ngời )
Không
có
CMKT
Sơ cấp CNKT THCN
Đại học
trở lên
ĐBSH 8.525.815 77,19 1,61 10,60 4,61 5,98
Hà Nội 1.297.828 52,19 2,29 18,27 7,15 20,08
Hải Phòng 850.550 74,27 1,88 13,29 4,78 5,77
Vĩnh Phúc 591.144 91,10 0,96 3,47 2,62 1,85
Hà Tây 1.246.019 79,16 1,20 10,77 4,38 4,49
Bắc Ninh 458.511 84,05 1,83 5,98 5,07 3,07
Hải Dơng 897.169 83,64 1,48 9,91 3,08 1,89
Hng Yên 493.466 82,75 1,42 6,09 5,55 4,18
12
Hà Nam 408.145 83,21 1,04 10,71 2,95 2,03
Nam Định 944.994 80,34 1,89 10,09 3,75 3,92
Thái Bình 926.023 85,07 1,05 7,54 4,09 2,24
Ninh Bình 429.966 77,15 2,41 10,49 6,07 3,87
Nguồn: Tổng quan kinh tế - xã hội vùng ĐBSH. Trung tâm nghiên cứu phát triển
vùng
Một trong số những yếu tố quan trọng quyết định tới khả năng cạnh tranh
của nền sản xuất là yếu tố chất lợng nguồn lao động. Xét trong bối cảnh thực tế
của nớc ta riêng hiện nay thì tình trạng chất lợng nguồn lao động kém vẫn là
phổ biến. Tính đến năm 1997, có tới 87,7% số lao động nông thôn không đợc
đào tạo chuyên môn, kỹ thuật. Trong khi tỷ lệ đợc đào tạo mới hàng năm của lực
lợng lao động cả nớc là 12,29% thì trong đó nông thôn chỉ chiếm 7,3%, thấp
hơn 4,8 lần so với thành thị. Đặc trng của nguồn lao động nông thôn là năng
suất lao động thấp. Đến năm 1998, lực lợng lao động nông thôn chiếm khoảng
70% lực lợng lao động của cả nớc nhng chỉ đóng góp 24% vào tổng thu nhập
quốc dân. Điều này chứng tỏ khả năng tạo ra thu nhập của lao động nông nghiệp
và nông thôn là quá thấp (Đỗ Kim Chung: 1999).
Năng suất lao động thấp cùng với sự gia tăng liên tục với số lợng lớn của
lực lợng lao động hàng năm (khoảng 1,1 triệu lao động hàng năm, trong đó tỷ lệ
tơng ứng ở nông thôn là 70%) đã làm cho tình trạng lao động nông thôn ngày
càng d thừa với số lợng lớn trong đó chủ yếu là lao động có tay nghề thấp kém.
Tình trạng này càng trở nên trầm trọng hơn khi có sự phân bố không đồng đều về
diện tích đất canh tác trên đầu ngời giữa các vùng. Trong khi số lao động bình
quân trên 1 ha đất nông nghiệp của đồng bằng sông Hồng là 7,47, ở Khu bốn cũ
là 5,49, duyên hải miền Trung là 4,48 thì Tây Nguyên chỉ có 1,63 và Đông Nam
Bộ chỉ có 1,59 ngời. Cộng với sự yếu kém trong việc tạo ra việc làm phi nông
nghiệp ở nông thôn thì tình trạng thiếu việc làm và d thừa lao động nông thôn sẽ
còn là thách thức rất lớn đối với quá trình phát triển.
Về chất lợng nguồn lao động của vùng ĐBSH, chúng ta có thể nhận thấy tại
bảng 2 rằng nói chung vẫn không nằm ngoài tình trạng chung của cả nớc (77,19%
số lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật). Đơn cử nh Hà Nội là một
trong hai thành phố phát triển nhất của cả nớc thì vẫn có tỷ lệ lao động không có
13
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét