LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "mở rộng cho vay tiêu dùng tại ngân hàng thương mại cổ phần các doanh nghiệp ngoài quốc doanh việt nam": http://123doc.vn/document/1053241-mo-rong-cho-vay-tieu-dung-tai-ngan-hang-thuong-mai-co-phan-cac-doanh-nghiep-ngoai-quoc-doanh-viet-nam.htm
Cho vay theo lãi suất cố định có điều chỉnh: chỉ áp dụng đối với
các khoản vay trung – dài hạn. Lãi suất được điều chỉnh định kỳ và
theo một biên độ nhất định để phù hợp với sự biến động lãi suất của
thị trường.
• Theo xuất xứ tín dụng:
Cho vay trực tiếp: ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho khách hàng vay
vốn, khách hàng vay trực tiếp trả nợ cho ngân hàng.
Cho vay gián tiếp: là khoản vay được thực hiện thông qua việc mua
lại các khế ước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh nhưng vẫn trong thời
hạn thanh toán. Các ngân hàng thực hiện dưới hình thức chủ yếu là
chiết khấu thương phiếu, mua lại các phiếu bán hàng của các đại
lý
1.2. HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI.
1.2.1. Khái niệm cho vay tiêu dùng.
Trong lịch sử, hầu hết các ngân hàng không tích cực cho vay đối với cá
nhân, hộ gia đình vì họ tin rằng các khoản cho vay tiêu dùng nói chung có quy
mô rất nhỏ với rủi ro vỡ nợ tương đối cao và do đó làm cho chúng trở nên có
mức sinh lời thấp. Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ 2 quan niệm này đã thay
đổi, các ngân hàng đã hướng tới người tiêu dùng như là một khách hàng trung
thành đầy tiềm năng. Cho vay tiêu dùng đã trở thành một trong những loại hình
tín dụng có mức tăng trưởng nhanh nhất và dần đóng vai trò chủ đạo trong lĩnh
vực kinh doanh ngân hàng.
Cho vay tiêu dùng ra đời thực chất nhằm giải quyết mâu thuẫn cơ bản đó
là nhu cầu và khả năng thanh toán của cá nhân người tiêu Hiện nay, có nhiều
ngân hàng thành công trên lĩnh vực cho vay tiêu dùng mà một trong những
nguyên nhân là họ đã tích cực khai thác nguồn tiền gửi trong dân cư và coi đó là
nguồn vốn hoạt động quan trọng nhất. Rất nhiều người dân gửi tiền vào ngân
hàng vì họ thấy rằng họ vừa có được một khoản thu nhập từ lãi của khoản tiền
gửi này, vừa có thể vay tiền lại từ ngân hàng khi cần thiết. Bên cạnh đó, chất
lượng cuộc sống của người dân ngày càng được cải thiện, các nhu cầu chi tiêu
của họ cũng phong phú và đa dạng hơn. Nhưng thực tế, nhu cầu và thu nhập của
họ không đến cùng một lúc nên không phải lúc nào họ cũng có thể thoả mãn
được những nhu cầu tiêu dùng này. dùng. Ngân hàng đã bù đắp những khoản
Trần Thị Minh Trang 5 Ngân Hàng 44A
Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân Hàng – Tài Chính
thiếu hụt đó rất nhanh chóng và kịp thời, tất nhiên với sự cam đoan hoàn trả
đúng hạn và đầy đủ của cá nhân người tiêu dùng. Hoạt động cho vay tiêu dùng
mở ra không những giải quyết được mâu thuẫn cơ bản truyền thống nêu trên mà
còn mang lại nhiều lợi nhuận cho ngân hàng.
Cho vay tiêu dùng giữ một vị trí quan trọng và ngày càng tỏ ra hữu ích
trong ngành ngân hàng nói riêng và trong nền kinh tế nói chung. Có nhiều cách
hiểu về cho vay tiêu dùng, nhưng xét về cơ bản nó là hoạt động tín dụng phục vụ
mục đích tiêu dùng mà đối tượng chủ yếu là các cá nhân và hộ gia đình. Có thể
định nghĩa:
“ Cho vay tiêu dùng là hình thức cấp tín dụng, trong đó ngân hàng thoả
thuận để khách hàng là cá nhân hay hộ gia đình sử dụng một khoản tiền với
mục đích tiêu dùng, với nguyên tắc hoàn trả gốc và lãi sau một thời gian nhất
định”.
Những khoản tiền vay này là nguồn tài chính quan trọng giúp người vay
trang trải nhu cầu về nhà ở, mua ô tô, hỗ trợ tài chính… và các nhu cầu khác.
Cùng với sự phát triển của thị trường, cho vay tiêu dùng đã trở thành hoạt động
kinh doanh chủ đạo và chiếm thị phần lớn trong hoạt động tín dụng của nhiều
ngân hàng trên thế giới.
Trong những năm tới đây, cho vay tiêu dùng sẽ tiếp tục đóng vai trò chủ
đạo trong dịch vụ ngân hàng, cũng như trong quản lý ngân hàng. Cho vay tiêu
dùng trong tương lai sẽ theo mục tiêu hướng vào sự thuận tiện, ngân hàng sẽ tạo
điều kiện cho khách hàng nhận được khoản vay sớm hơn trong khi vẫn duy trì
được sự kiểm soát đối với món vay tiêu dùng để tránh được những giảm sút
đáng kể về chất lượng tín dụng.
1.2.2. Đặc điểm của các khoản cho vay tiêu dùng.
1.2.2.1. Quy mô mỗi món vay nhỏ nhưng số lượng các món vay rất lớn.
Khi các khách hàng tìm đến ngân hàng nhằm thoả mãn nhu cầu vay tiêu
dùng của mình, thông thường nhu cầu vay vốn của họ không lớn, thậm chí khá
nhỏ. Điều này một phần do giá trị của hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng không quá
đắt đỏ. Mặt khác đa số khách hàng vay vốn đã có được sự tích luỹ trước đối với
các tài sản có giá trị lớn, ngân hàng chỉ là người có tác động hỗ trợ cho hoạt
động tiêu dùng của họ. So với cho vay kinh doanh, giá trị của các món vay tiêu
dùng không lớn, nhưng trên thực tế tổng quy mô cho vay tiêu dùng của ngân
hàng lại rất lớn. Đó là vì tuy quy mô mỗi món vay tiêu dùng là nhỏ nhưng đây là
Trần Thị Minh Trang 6 Ngân Hàng 44A
Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân Hàng – Tài Chính
nhu cầu vay vốn phổ biến, đa dạng và thường xuyên đối với mọi tầng lớp dân
cư, số lượng khách hàng tìm đến ngân hàng vay vốn là rất lớn, khiến cho tổng
quy mô của cho vay tiêu dùng là rất lớn.
1.2.2.2. Các khoản cho vay tiêu dùng có lãi suất cứng nhắc.
Đối với các khoản cho vay tiêu dùng, thông thường người đi vay quan
tâm đến số tiền phải thanh toán hơn là lãi suất mà họ phải trả. Do đó, khác với
hầu hết các khoản cho vay kinh doanh hiện nay có lãi suất cho vay được điều
chỉnh theo lãi suất thị trường, lãi suất cho vay tiêu dùng thường được ấn định tại
một mức nhất định, mà phổ biến nhất là trong cho vay tiêu dùng trả góp. Đối với
những khoản cho vay ngắn hạn, lãi suất được ấn định ngay từ đầu và không thay
đổi cho đến hết thời hạn vay. Đối với những khoản vay trung dài hạn, lãi suất
cho vay thường được điều chỉnh mỗi năm một lần dựa trên cơ sở lãi suất huy
động cộng với một biên độ nhất định tuỳ theo từng ngân hàng.
1.2.2.3. Các khoản cho vay tiêu dùng có độ rủi ro cao.
Trên thực tế, cho vay tiêu dùng luôn chứa đựng những nguy cơ rủi ro khá
cao. Rủi ro trong cho vay tiêu dùng cao hơn trong cho vay kinh doanh, dưới cả 2
góc độ:
• Các rủi ro khách quan như: suy thoái kinh tế, mất mùa, thất nghiệp, …
Cho vay tiêu dùng có tính nhạy cảm theo chu kỳ kinh tế. Trong thời kỳ
nền kinh tế mở rộng, khi mà mọi người dân thấy lạc quan và tin tưởng
vào tương lai, họ sẽ có xu hướng tiêu dùng, do đó mà cho vay tiêu
dùng được mở rộng. Ngược lại, trong thời kỳ nền kinh tế suy thoái,
nhất là khi tình trạng thất nghiệp tăng lên, rất nhiều cá nhân và hộ gia
đình cảm thấy không tin tưởng, và họ sẽ hạn chế việc vay mượn từ
ngân hàng.
• Bên cạnh đó, cho vay tiêu dùng còn chịu một số rủi ro chủ quan như:
Tình trạng sức khoẻ hay tình trạng công việc của khách hàng, từ đó
ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực tài chính tài chính và khả năng trả nợ
của khách hàng, hoặc có thể là do sự ảnh hưởng của các tổ chức trung
gian, đặc biệt là đối với các khoản cho vay tiêu dùng tín chấp, không
có tài sản đảm bảo cũng đem lại rủi ro không nhỏ cho loại hình cho
vay này.
Trong cho vay tiêu dùng, hoạt động quản lý sau cho vay đối với khách
hàng cũng gặp phải nhiều khó khăn. Chỉ cần cán bộ tín dụng lơ là không theo sát
Trần Thị Minh Trang 7 Ngân Hàng 44A
Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân Hàng – Tài Chính
một thời gian, khách hàng sẽ trì hoãn hay cố ý không trả lãi, gốc đến hạn dẫn
đến tỉ lệ nợ quá hạn của ngân hàng tăng lên.
1.2.2.4. Chi phí cho một khoản vay tiêu dùng là khá lớn.
Cho vay tiêu dùng là một trong những khoản mục chiếm tỷ trọng lớn và
có chi phí lớn nhất trong danh mục tín dụng của ngân hàng. Tuy quy mô mỗi
món vay tiêu dùng thường nhỏ thậm chí không đáng kể, thời gian vay thường
không kéo dài, song số lượng các món vay tiêu dùng lại rất lớn. Hơn thế nữa các
thông tin mà ngân hàng có được về các cá nhân thường không được cập nhật
đầy đủ và chính xác hoàn toàn. Chính điều này đã khiến cho các ngân hàng phải
thực hiện rất nhiều bước trong quá trình cho vay, từ lúc tiếp nhận hồ sơ, thẩm
định khách hàng, giải ngân đến khi thu nợ. Do vậy mà việc thực hiên một khoản
cho vay tiêu dùng của ngân hàng đối với khách hàng là rất tốn kém, mất nhiều
chi phí cho các khoản cho vay này.
1.2.2.5. Lợi nhuận thu được từ các khoản cho vay tiêu dùng là khá lớn.
Tương ứng với mức rủi ro khá cao như vậy, các khoản cho vay tiêu dùng
đã mang lại mức lợi nhuận rất lớn trong các nguồn thu của ngân hàng. Thông
thường các khoản vay tiêu dùng được định giá rất cao (có mức lãi suất cao) để
có thể chi trả được chi phí huy động và bù đắp rủi ro. Thậm chí cao đến mức mà
cả lãi suất vay vốn trên thị trường lẫn tỉ lệ tổn thất tín dụng phải tăng lên đáng kể
thì các khoản cho vay tiêu dùng mới không mang lại lợi nhuận. Hơn nữa, so với
các khoản cho vay kinh doanh số lượng các khoản cho vay tiêu dùng lớn hơn rất
nhiều khiến cho tổng quy mô của cho vay tiêu dùng là khá lớn, laị có mức lợi
nhuận trên mỗi khoản vay tiêu dùng cao như vậy khiến cho toàn bộ lợi nhuận
thu về từ hoạt động này là rất đáng kể trong tổng thu nhập của ngân hàng.
Chính vì triển vọng về lợi nhuận cũng như phạm vi đối tượng khách hàng
trong lĩnh vực này mà đối với hầu hết các nước phát triển hiện nay, cho vay tiêu
dùng đã trở thành một trong những nguồn thu chủ yếu của các NHTM, đóng vai
trò chủ đạo trong dịch vụ ngân hàng cũng như trong quản lý ngân hàng và vẫn
còn tiếp tục hứa hẹn về triển vọng phát triển của loại hình cho vay này trong
tương lai. Ở các nước đang phát triển, loại hình cho vay nay cũng đang dần
khẳng định được vai trò của mình, đem lại những khoản lợi nhuận không nhỏ
trong hoạt động của ngân hàng.
Trần Thị Minh Trang 8 Ngân Hàng 44A
Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân Hàng – Tài Chính
1.2.3. Các phương thức cho vay tiêu dùng.
1.2.3.1. Theo mục đích vay.
Căn cứ theo mục đích vay của khách hàng có thể chia hoạt động cho vay
tiêu dùng như sau:
• Cho vay tiêu dùng cư trú: Là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho
nhu cầu mua sắm, xây dựng hoặc và cải tạo nhà ở của khách hàng là cá
nhân hoặc hộ gia đình.
• Cho vay tiêu dùng phi cư trú: Là các khoản cho vay tài trợ cho việc
trang trải các chi phí mua sắm xe cộ, đồ dùng gia đình, chi phí học
hành, giải trí, du lịch…
1.2.3.2. Theo phương thức hoàn trả.
Căn cứ vào phương thức hoàn trả, cho vay tiêu dùng có thể chia thành 3
loại như sau:
• Cho vay trả góp.
Đây là hình thức cho vay tiêu dùng phổ biến hiện nay. Với phương thức
này, ngân hàng thoả thuận để cho khách hàng chi trả một khoản tiền nhất định
định kỳ hàng tháng sao cho phù hợp với khả năng thanh toán của khách hàng.
Có thể hiểu: “Cho vay tiêu dùng trả góp là hình thức cho vay tiêu dùng trong đó
người đi vay trả nợ (gồm số tiền gốc và lãi) cho ngân hàng nhiều lần theo những
kì hạn nhất định trong thời hạn cho vay”. Phương thức này thường được áp dụng
cho các khoản vay có giá trị lớn như cho vay mua nhà, mua ôtô…hoặc thu nhập
từng kỳ của người vay không đủ khả năng thanh toán một lần hết số nợ vay.
Đối với cho vay tiêu dùng trả góp, các NHTM thường chú ý đến một số
vấn đề cơ bản sau:
Loại tài sản được tài trợ: Nếu tài sản hình thành từ vốn vay đáp ứng và
thỏa mãn được những nhu cầu của người tiêu dùng về lâu dài, thiện chí trả nợ
của họ sẽ tốt hơn. Vì thế, các ngân hàng thường chỉ tài trợ cho nhu cầu mua sắm
những tài sản có giá trị lớn hay có thời gian sử dụng lâu dài.
Số tiền phải trả trước: ngân hàng yêu cầu người đi vay phải thanh toán
trước một phần giá trị tài sản mà họ có nhu cầu, phần còn lại ngân hàng sẽ cho
vay. Số tiền trả trước cần phải đủ lớn để làm cho người đi vay nghĩ rằng họ
chính là chủ sở hữu của tài sản, khi đó họ sẽ có ý thức về việc trả nợ ngân hàng.
Mặt khác, nó còn giúp ngân hàng hạn chế được những rủi ro tín dụng khi khách
hàng không trả được nợ. Số tiền trả trước là nhiều hay ít phụ thuộc vào các yếu
Trần Thị Minh Trang 9 Ngân Hàng 44A
Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân Hàng – Tài Chính
tố: loại tài sản, năng lực tài chính của người đi vay, thị trường tiêu thụ lọai tài
sản đó sau khi đã sử dụng
Chi phí của khoản vay: là chi phí mà người đi vay phải trả cho ngân hàng
để được sử dụng vốn, chủ yếu bao gồm lãi vay và các chi phí khác có liên quan.
Chi phí này phải trang trải được chi phí huy động vốn, chi phí hoạt động, bù đắp
rủi ro đồng thời mang lại một phần lợi nhuận thỏa đáng cho ngân hàng.
Điều khoản thanh toán: khi xác định các điều khoản liên quan đến việc
thanh toán nợ của khách hàng, ngân hàng phải chú ý tới các vấn đề như:
Số tiền thanh toán mỗi kỳ phải phù hợp với khả năng về thu nhập và các
nhu cầu chi tiêu khác của khách hàng. Số tiền này có thể được xác định
theo các phương pháp sau:
Phương pháp gộp: đây là phương pháp tính dễ hiểu, và thường
được áp dụng trong cho vay tiêu dùng trả góp. Công thức tính:
n
LV
T
+
=
Với
L = V x r x n
T: Số tiền phải thanh toán cho ngân hàng mỗi kỳ.
L: Chi phí của khoản vay bao gồm lãi vay phải thanh toán và các
chi phí khác liên quan. Để đơn giản ta giả sử chi phí này chỉ gồm có lãi
vay.
V: Vốn gốc
n: Số kỳ hạn trả nợ
r: Lãi suất tính cho mỗi kỳ hạn
Theo cách tính này thì lãi suất tính cho khách hàng vay không phải
là lãi suất thực mỗi khi họ đến thanh toán nợ. Vì vậy, ngân hàng phải tính
toán kỹ để đưa ra mức lãi suất hợp lý, đảm bảo cho cả ngân hàng và
khách hàng đều có lợi.
Phương pháp lãi đơn: theo phương pháp này người đi vay trả vốn
gốc từng kỳ đều nhau, lãi mỗi kỳ được tính theo dư nợ cho vay giảm dần.
Số tiền trả mỗi kỳ được tính như sau:
T
n
= (T – T
n-1
) x r
T
n
: Số tiền khách hàng phải trả trong kỳ thứ n
T
n-1
: Số tiền khách hàng đã trả trong kỳ thứ (n-1)
r: lãi suất khách hàng phải trả.
Trần Thị Minh Trang 10 Ngân Hàng 44A
Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân Hàng – Tài Chính
Với cách tính này, lãi suất được tính trên cơ sở lãi suất thực tế của
mỗi chu kỳ tính lãi, do vậy có lợi hơn cho khách hàng. Thường thì lãi suất
của ngân hàng được điều chỉnh theo lãi suất thị trường nên phương pháp
này phản ánh chính xác giá cả các món vay của khách hàng.
Giá trị của tài sản tài trợ không được thấp hơn số tiền cho vay chưa được
thu hồi.
Kỳ hạn trả nợ phải thuận lợi cho việc trả nợ của khách hàng. Kỳ hạn trả
nợ theo tháng bởi vì thông thường nguồn trả nợ chính của người vay tiêu
dùng là thu nhập nhận được hàng tháng.
Thời hạn cho vay không nên quá dài. Do thời hạn cho vay bị giới hạn bởi
thời hạn hoạt động của tài sản tài trợ, nếu thời hạn này quá dài dễ làm cho
giá trị tài sản tài trợ bị giảm mạnh, đồng thời thiện chí trả nợ của người
vay cũng như việc thu hồi nợ gặp nhiều rắc rối, do đó mà rủi ro tín dụng
cũng tăng lên.
• Cho vay tiêu dùng phi trả góp.
Là các khoản cho vay ngắn hạn của ngân hàng đối với cá nhân và hộ gia
đình nhằm đáp ứng nhu cầu tiền mặt tức thời. Theo phương thức cho vay này, số
tiền gốc khách hàng sẽ phải thanh toán cho ngân hàng một lần vào cuối kỳ, còn
tiền lãi khách hàng trả hàng tháng. Lãi suất áp dụng được cố định trong hợp
đồng tín dụng trong suất kỳ hạn vay. Phương thức cho vay này thường áp dụng
với các khoản vay nhỏ, thời hạn ngắn, đặc biệt là khách hàng có khả năng thanh
toán một lần đối với khoản vay.
• Cho vay tuần hoàn
Cho vay tiêu dùng tuần hoàn là khoản cho vay tiêu dùng trong đó ngân
hàng cho phép khách hàng sử dụng thẻ tín dụng hoặc phát hành loại séc được
phép thấu chi dựa trên tài khoản vãng lai. Theo phương thức này, ngân hàng sẽ
căn cứ vào thu nhập và khả năng trả nợ của khách hàng để cho vay với một hạn
mức tín dụng nhất định và trong một thời hạn đã thoả thuận trước. Nếu khách
hàng chi vượt quá hạn mức, ngân hàng sẽ ngừng cung cấp sản phẩm dịch vụ cho
họ nhưng với điều kiện ngân hàng phải thông báo trước cho khách hàng trong
một thời gian nhất định để tránh tình trạng hiểu nhầm. Ưu điểm của phương
thức này là khách hàng chỉ cần phải làm thủ tục vay một lần nhưng có thể vay
ngân hàng nhiều lần với số tiền vay khác nhau. Nhờ đó mà chi phí vay của
khách hàng được giảm đáng kể so với việc thực hiện nhiều khoản vay khác. Tuy
Trần Thị Minh Trang 11 Ngân Hàng 44A
Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân Hàng – Tài Chính
nhiên hạn chế của phương thức này là khách hàng không thể vay một số tiền lớn
với thời hạn lâu được.
1.2.3.3. Theo phương thức tài trợ.
Căn cứ theo phương thức tài trợ, cho vay tiêu dùng được chia làm 2 loại
như sau:
• Cho vay gián tiếp.
Theo một cách đơn giản có thể hiểu cho vay gián tiếp là hình thức tín
dụng mà ngân hàng không trực tiếp tiếp xúc, cấp vốn cho khách hàng và khách
hàng cũng không trực tiếp trả nợ cho ngân hàng. Ngân hàng thông qua việc mua
lại các khoản nợ phát sinh từ những công ty chuyên cung cấp những sản phẩm
hoặc dịch vụ để cho vay với người tiêu dùng. Cho vay tiêu dùng gián tiếp phát
triển cùng với sự ra đời các phương thức tiếp thị mới và cách thức mà người tiêu
dùng mua sắm các hàng hoá lâu bền đã khuyến khích hoạt động này phát triển.
Người tiêu dùng thường có xu hướng mua sắm hàng hoá trước rồi sau đó mới
dàn xếp nguồn tài trợ. Nắm bắt được nhu cầu đó, những công ty bán lẻ và các
đại lý đã chấp nhận bán chịu hàng hoá cho khách hàng với điều kiện khách hàng
cam kết sẽ hoàn trả trong một khoảng thời gian nhất định. Tuy nhiên không phải
đại lý bán hàng nào cũng có đủ năng lực tài chính để giữ tất cả các khoản nợ này
và họ buộc phải tìm đến các ngân hàng để tìm nguồn tài trợ.
Sự tài trợ này đem lại cơ hội cho ngân hàng để tăng doanh số cho vay mà
không có sự gia tăng đáng kể trong chi phí nghiệp vụ. Hơn thế nữa, cho vay gián
tiếp tỏ ra an toàn hơn cho hoạt động ngân hàng trong trường hợp ngân hàng có
mối quan hệ với các công ty bán lẻ. Mặt khác, trong cho vay gián tiếp các công
ty bán lẻ cũng chịu trách nhiệm giám sát khoản vay trong một thời gian nhất
định, theo dõi các tài khoản không trả đúng hạn, …Tất cả những việc này giúp
cho ngân hàng tiết kiệm được lượng thời gian và chi phí không nhỏ.
Tuy vậy, việc tài trợ gián tiếp của ngân hàng cũng có những hạn chế nhất
định. Hầu như, ngân hàng gần như chỉ biết được các thông tin về khách hàng
thông qua công ty bán lẻ, vì vậy mà không có cơ sở để đánh giá khách hàng của
mình. một cách chính xác. Ngân hàng luôn phải đối mặt với các cơ hội lừa đảo,
giả mạo có thể xảy ra gây những tổn thất không nhỏ cho ngân hàng. Mặt khác,
khách hàng thường có tâm lý bất hợp tác với ngân hàng khi họ biết mình phải
chịu một khoản vay của ngân hàng, do những người mua hàng trả góp thường có
Trần Thị Minh Trang 12 Ngân Hàng 44A
Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân Hàng – Tài Chính
cảm giác món nợ có thể được xoá bằng việc trả lại hàng nếu hàng hoá không
thoả mãn họ, hoặc họ không có khả năng chi trả. Chính vì vậy mà ngân hàng đã
gặp rất nhiều khó khăn trong việc thu hồi nợ. Đây cũng là lý do mà nhiều ngân
hàng không tham gia vào hình thức tài trợ này, hoặc có tham gia thì cũng rất hạn
chế và phải luôn kiểm tra, giám sát chặt chẽ đối với tất cả các khoản vay.
• Cho vay trực tiếp.
Cho vay tiêu dùng trực tiếp là các khoản cho vay tiêu dùng trong đó ngân
hàng trực tiếp tiếp xúc, cho khách hàng vay và trực tiếp thu hồi nợ từ khách
hàng. Khác với cho vay gián tiếp cho vay trực tiếp phức tạp hơn, nó đòi hỏi
ngân hàng tiến hành cẩn trọng kỹ lưỡng trước khi đưa ra quyết định. Kể cả hoạt
động giám sát sau cho vay cũng đòi hỏi ngân hàng tiến hành đầy đủ để hạn chế
thấp nhất mức rủi ro tín dụng có thể xảy ra.
So với cho vay gián tiếp, cho vay trực tiếp tỏ ra linh hoạt hơn rất nhiều và
đã hạn chế được nhược điểm duy nhất là khách hàng và ngân hàng không có cơ
hội tiếp xúc trực tiếp với nhau. Mặt khác, các nhân viên tín dụng của ngân hàng
là những người được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ, có nhiều kinh nghiệm
trong lĩnh vực tín dụng, nên các quyết định tín dụng trực tiếp của ngân hàng
thường có cơ sở và chất lượng cao hơn những công ty bán lẻ. Hơn thế nữa, khi
tiếp xúc với khách hàng, nhân viên tín dụng thường chỉ quan tâm là chất lượng
của các khoản tín dụng, trong khi các công ty bán lẻ thường chú trọng đến doanh
số bán hàng. Bên cạnh đó, nếu ngân hàng giữ được mối quan hệ tốt với khách
hàng trong quá trình cho vay, ngân hàng sẽ có cơ hội để gia tăng lượng khách
hàng tiềm năng của mình còn khách hàng cũng gặp những thuận lợi nhất định
với những khoản vay về sau.
1.2.4 Vai trò của hoạt động cho vay tiêu dùng.
1.2.4.1 Đối với người tiêu dùng.
Có thể nói, các cá nhân và hộ gia đình là người được lợi trực tiếp từ hoạt
động cho vay tiêu dùng. Thông qua hoạt động này, người tiêu dùng được sử
dụng những sản phẩm dịch vụ như mong muốn, từ đó thoả mãn nhu cầu của họ.
Thực tế nảy sinh rất nhiều nhu cầu tự nhiên, thiết yếu, nhưng khả năng tài chính
của người tiêu dùng lại có hạn do đó họ không thể có một khoản tiền lớn để đáp
ứng ngay lập tức. Chính vì vậy, người ta chỉ có thể thụ hưởng những nhu cầu đó
khi về già, sau một thời gian tích luỹ nhất định. Khi đó độ thoả dụng từ việc sử
dụng hàng hoá, dịch vụ đã giảm đi rất nhiều. Các khoản cho vay tiêu dùng của
Trần Thị Minh Trang 13 Ngân Hàng 44A
Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân Hàng – Tài Chính
ngân hàng đã giúp họ kết hợp được cả nhu cầu hiện tại với khả năng thanh toán
trong tương lai. Người tiêu dùng đã quen với việc tìm đến ngân hàng như một
địa chỉ tin cậy để đáp ứng nhu cầu của họ khi cần thiết, không chỉ để thanh toán,
gửi tiết kiệm mà còn để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của mình. Như vậy, chính
các cá nhân và hộ gia đình là những người được hưởng lợi nhiều nhất từ những
giá trị có được từ hoạt động cho vay tiêu dùng.
1.2.4.2 Đối với ngân hàng thương mại.
NHTM là một tổ chức tài chính trung gian, do vậy để có thể cho các cá
nhân, hộ gia đình hay các doanh nghiệp vay tiền, ngân hàng cần phải huy động
vốn từ dân cư và các tổ chức kinh tế xã hội. Hoạt động cho vay của ngân hàng
đòi hỏi ngân hàng phải cố gắng và nỗ lực rất nhiều để đảm bảo cho hoạt động
này diễn ra nhanh nhất, an toàn và hiệu quả nhất, đặc biệt nó phải bù đắp được
khoản chi phí huy động vốn và tạo ra nguồn thu cho ngân hàng từ khỏan chênh
lệch thu chi. Do hoạt động cho vay tiêu dùng đáp ứng được những yêu cầu đó,
thị trường cho vay tiêu dùng lại hiện hữu và sinh lời rất cao nên không có lý do
gì các ngân hàng lai từ chối cấp tín dụng tiêu dùng, và sẽ là sai lầm nếu các ngân
hàng bỏ qua thị trường này. Trên thực tế, cho vay tiêu dùng có lãi suất hấp dẫn
và ổn định hơn so với cho vay kinh doanh, đặc biệt là cho vay tiêu dùng trả góp.
Mặt khác, về nguyên tắc trong trường hợp khách hàng không trả nợ gốc và lãi
đúng hạn thì họ sẽ phải trả lãi suất phạt lớn hơn rất nhiều . Hơn nữa, số lượng
các món vay tiêu dùng lớn nên rủi ro sẽ được phân tán bớt. Vì thế thu nhập từ
hoạt động này tạo ra một nguồn thu không nhỏ và có thể bù đắp chi phí hoạt
động cho ngân hàng.
Hơn nữa, khi thực hiện họat động cho vay tiêu dùng, ngân hàng thương
mại có thể đa dạng hoá danh mục đầu tư của mình. Qua đó giúp cho ngân hàng
nâng cao thu nhập đồng thời phân tán rủi ro có thể gặp phải trong hoạt động tín
dụng.
Xu hướng phát triển của ngân hàng thương mại hiện nay là đa dạng hoá
các sản phẩm dịch vụ cung ứng. Việc mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng, vừa
mở rộng được khách hàng, vừa tận dụng được nguồn vốn huy động, vừa đa dạng
hoá các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng. Bằng cách đó ngân hàng có thể nâng
cao sức mạnh trong cạnh tranh, đồng thời tạo ra sự khác biệt trong sản phẩm
dịch vụ của mình.
Trần Thị Minh Trang 14 Ngân Hàng 44A
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét