Thứ Tư, 21 tháng 5, 2014

Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của Bộ Luật dân sự Việt Nam 2005


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của Bộ Luật dân sự Việt Nam 2005": http://123doc.vn/document/568440-hop-dong-chuyen-nhuong-quyen-su-dung-dat-theo-quy-dinh-cua-bo-luat-dan-su-viet-nam-2005.htm


5
Chương 1
KHÁI LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG
ĐẤT TẠI VIỆT NAM
1.1. Khái niệm và đặc điểm về chuyển quyền sử dụng đất
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm về quyền sử dụng đất
1.1.1.1. Khái niệm quyền sử dụng đất
Mục này trình bày khái quát về quá trình hình thành chế độ sở hữu toàn dân về đất đai,
một số khái niệm về quyền sử dụng đất. Từ đó tác giả xây dựng khái niệm quyền sử dụng đất:
Quyền sử dụng đất là một loại quyền tài sản được phái sinh trên cơ sở quyền sở hữu đất đai do
Nhà nước trao cho những chủ thể nhất định và cho phép chuyển quyền từ chủ thể này sang chủ
thể khác theo những hình thức, điều kiện, trình tự và thủ tục nhất định để khai thác công dụng của
đất, hưởng những thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất và các lợi ích khác khác theo quy
định của Nhà nước.
1.1.1.2. Đặc điểm của quyền sử dụng đất
Mục này rút ra một số đặc điểm của QSDĐ: (1) là quyền được phái sinh trên cơ sở
quyền sở hữu đất đai; (2) là một loại quyền tài sản đặc thù; (3) chủ thể của QSDĐ bị giới hạn
bởi các quy định của pháp luật; (4) các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể có QSDĐ (người sử
dụng đất) được pháp luật quy định chặt chẽ; (5) QSDĐ theo quy định của pháp luật Việt Nam
là quyền có thời hạn; (6) quy chế tài sản áp dụng đối với QSDĐ là đa dạng.
1.1.2. Khái niệm và đặc điểm về chuyển quyền sử dụng đất
1.1.2.1. Khái niệm chuyển quyền sử dụng đất
Mục này trình bày quá trình hình thành chế định chuyển QSDĐ và nêu khái niệm
chuyển QSDĐ là: “Sự chuyển dịch quyền sử dụng đất từ chủ thể này sang chủ thể khác theo
quy định của Bộ Luật Dân sự và pháp luật đất đai”.
1.1.2.2. Đặc điểm của chuyển quyền sử dụng đất
Mục này rút ra bốn đặc điểm của chuyển QSDĐ: (1) QSDĐ là đối tượng của chuyển
QSDĐ chỉ được phép tham gia giao dịch khi được pháp luật cho phép; (2) chuyển QSDĐ là
một loại giao dịch phải tuân thủ chặt chẽ và đầy đủ các quy định về cả nội dung và hình thức
của giao dịch; (3) việc chuyển QSDĐ có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký quyền sử dụng đất
theo quy định của pháp luật về đất đai ; (4) hình thức chuyển QSDĐ là đa dạng.
6
1.2. Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo
pháp luật Việt Nam
1.2.1. Khái niệm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Mục này lý giải về sự ra đời của cụm từ “chuyển nhượng quyền sử dụng đất” và nêu
khái niệm HĐCNQSDĐ theo quy định của BLDS năm 2005: Hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất
chuyển giao đất và quyền sử dụng đất cho bên nhận chuyển nhượng, còn bên nhận chuyển
nhượng trả tiền cho bên chuyển nhượng theo quy định của Bộ luật này và pháp luật về đất
đai.
1.2.2. Đặc điểm của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
1.2.2.1. Các đặc điểm về bản chất của hợp đồng
Về mặt bản chất của hợp đồng, HĐCNQSDĐ có một số đặc điểm: (1) chuyển nhượng
quyền sử dụng đất làm chấm dứt hoàn toàn quyền sử dụng đất của bên chuyển nhượng và
chuyển sang cho bên nhận chuyển nhượng; (2) chuyển nhượng quyền sử dụng đất luôn có sự
gắn kết giữa việc chuyển giao quyền chiếm hữu đất và chuyển giao quyền sử dụng đất; (3)
khoản tiền bên nhận chuyển nhượng trả cho bên chuyển nhượng có giá trị bằng hoặc lớn hơn
giá trị quyền sử dụng của thửa đất.
1.2.2.2. Các đặc điểm về chủ thể của hợp đồng
Chủ thể của HĐCNQSDĐ có những đặc điểm sau: (1) chủ thể của HĐCNQSDĐ đa
dạng; (2) chủ thể của HĐCNQSDĐ khi tham gia quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng đất
bị giới hạn bởi các quy định chặt chẽ của pháp luật.
1.2.2.3. Các đặc điểm về đối tượng của hợp đồng
QSDĐ là đối tượng của HĐCNQSDĐ ngoài việc có các đặc điểm chung như nêu tại
phần 1.1.1.2 còn có các đặc điểm riêng sau: (1) QSDĐ là đối tượng của HĐCNQSDĐ phụ
thuộc vào quy chế tài sản nhà nước dành cho chủ thể của HĐCNQSDĐ; (2) điều kiện để
chuyển nhượng QSDĐ được pháp luật quy định chặt chẽ: (i) QSDĐ được đem chuyển
nhượng phải có GCNQSDĐ; (ii) QSDĐ được đem chuyển nhượng phải không có tranh chấp;
(iii) QSDĐ không bị kê biên để bảo đảm thi hành án; (iv) QSDĐ phải còn thời hạn sử dụng
1.2.2.4. Các đặc điểm về hình thức của hợp đồng
Theo quy định tại Điều 689 của BLDS năm 2005 thì HĐCNQSDĐ có hai đặc điểm
nổi bật về hình thức đó là: (1) hợp đồng phải được giao kết dưới hình thức bằng văn bản; (2)
7
hợp đồng phải được công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật.
1.3. Nội dung của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Theo quy định tại Điều 698 BLDS năm 2005 thì nội dung của HĐCNQSDĐ bao gồm
các nội dung sau đây: Tên, địa chỉ của các bên; Quyền, nghĩa vụ của các bên; Loại đất, hạng
đất, diện tích, vị trí, số hiệu, ranh giới và tình trạng đất; Thời hạn sử dụng đất của bên chuyển
nhượng; thời hạn sử dụng đất còn lại của bên nhận chuyển nhượng; Giá chuyển nhượng;
Phương thức, thời hạn thanh toán; Quyền của người thứ ba đối với đất chuyển nhượng; Các
thông tin khác liên quan đến quyền sử dụng đất; Trách nhiệm của các bên khi vi phạm hợp
đồng.
1.4. Hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Mục này trình bày về hiệu lực của hợp đồng nói chung và các quan điểm khác nhau về
thời điểm có hiệu lực của HĐCNQSDĐ từ đó rút ra kết luận về hiệu lực của HĐCNQSDĐ.
Về nguyên tắc: “Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ
trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”.
1.4.1. Quan điểm hợp đồng có hiệu lực tại thời điểm giao kết
Quan điểm này cho rằng HĐCNQSDĐ được giao kết và có hiệu lực tại thời điểm lập
văn bản, nhưng việc thực hiện nghĩa vụ chuyển QSDĐ được hoãn đến khi được đăng ký tại cơ
quan nhà nước có thẩm quyền.
1.4.2. Quan điểm hợp đồng có hiệu lực tại thời điểm đăng ký
Quan điểm này cho rằng HĐCNQSDĐ có hiệu lực tại thời điểm đăng ký tại cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền.
1.4.3. Kết luận về hiệu lực của hợp đồng
Pháp luật đất đai và BLDS năm 2005 quy định HĐCNQSDĐ có hiệu lực tại thời điểm
đăng ký tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất và việc chuyển QSDĐ có hiệu lực kể từ thời
điểm đăng ký QSDĐ. Tuy nhiên, các quy định này vẫn có những điểm chưa rõ ràng gây ra
nhiều tranh luận trên thực tế.
1.5. Pháp luật điều chỉnh hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Mục này giới thiệu các quy định của pháp luật về HĐCNQSDĐ qua các thời kỳ:
1.5.1. Luật đất đai năm 1993 và các Luật sửa đổi, bổ sung
1.5.1.1. Luật Đất đai năm 1993
Luật Đất đai năm 1993 lần đầu tiên cho phép Hộ gia đình, cá nhân được chuyển
8
nhượng quyền sử dụng đất.
1.5.1.2. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 1998
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 1998 đã bổ sung thêm một số
quyền về chuyển QSDĐ cho hộ gia đình cá nhân và cho phép các tổ chức kinh tế thỏa mãn
những điều kiện do pháp luật quy đinh định được chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
1.5.1.3. Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 2001
Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Đất đai ngày 12 tháng 7 năm 2001 sửa đổi
một só nội dung liên quan đến thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
1.5.2. Bộ Luật Dân sự năm 1995
Trên cơ sở một số điều của Luật Đất đai năm 1993, BLDS ngày 28 tháng 10 năm 1995
có hiệu lực ngày 01 tháng 7 năm 1996 đã quy định một phần về CQSDĐ (phần thứ năm) gồm
06 chương, 55 điều (từ điều 690 đến Điều 744).
1.5.3. Luật Đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành
Luật Đất đai ngày 26 tháng 11 năm 2003 và các văn bản hướng dấn thi hành đã kế
thừa các quy định của Luật Đất đai năm 1993 và quy định chi tiết, cụ thể về quyền chuyển
nhượng QSDĐ của tổ chức, hộ gia đình cá nhân.
1.5.4. Bộ luật Dân sự năm 2005
BLDS năm 2005 tiếp tục quy định một chế định về CQSDĐ với quan điểm BLDS là
luật chung điều chỉnh các quan hệ dân sự.
1.5.5. Các quy định về thuế, phí và lệ phí
Theo quy định của pháp luật việc chuyển nhượng QSDĐ còn chịu sự điều chỉnh của
các quy định của pháp luật về thuế, phí và lệ phí như Luật thuế chuyển QSDĐ (đã hết hiệu
lực), Luật thuế thu nhập cá nhân, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp, Lệ phí trước bạ, phí và lệ
phí khi làm thủ tục đăng ký chuyển nhượng quyền sử dụng đất.








9








Chương 2
THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005 VỀ HỢP
ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
2.1. Nội dung các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 về hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất
2.1.1. Nội dung các quy định về chuyển quyền sử dụng đất
Mục này trình bày về nội dung các quy định về chuyển QSDĐ theo quy định của BLDS
năm 1995, chỉ ra những bất cập dẫn đến phải sửa đổi, bổ sung và trình bày những điểm mới
được quy định tại BLDS năm 2005.
2.1.1.1. Căn cứ xác lập quyền sử dụng đất
Xuất phát từ bất cập của BLDS năm 1995, để đảm bảo tính đồng bộ trong hệ thống
pháp luật, Điều 688 BLDS năm 2005 đã bổ sung, sửa đổi về căn cứ xác lập QSDĐ theo
hướng: quy định việc nhà nước công nhận QSDĐ cũng là một trong những căn cứ xác lập
quyền sử dụng đất; bổ sung thêm quyền sử dụng đất của pháp nhân và cho phép pháp nhân
được chuyển QSDĐ.
2.1.1.2. Hình thức chuyển quyền sử dụng đất
Điều 689 BLDS năm 2005 không quy định cụ thể theo hướng liệt kê các hình thức
CQSDĐ như BLDS năm 1995 và bổ sung quy định việc công chứng hoặc chứng thực hợp
đồng về CQSDĐ là quy định bắt buộc nhằm tạo sự thống nhất với nội dung của Luật Đất đai.
2.1.1.3. Giá chuyển quyền sử dụng đất
Điều 690 BLDS năm 2005 bỏ quy định : các bên thỏa thuận về giá CQSDĐ, nhưng
trên cơ sở bảng giá do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ban hành theo
khung giá đất của Chính phủ quy định” của Điều 694 của BLDS năm 1995 và cho phép các
10
bên thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật.
2.1.1.4. Nguyên tắc chuyển quyền sử dụng đất
Điều 691 BLDS năm 2005 đã bỏ các quy định không mang tính nguyên tắc CQSDĐ
của Điều 695 BLDS năm 1995 và sửa chữa lại một số câu chữ cho phù hợp với Luật Đất đai
năm 2003.
2.1.1.5. Hiệu lực của việc chuyển quyền sử dụng đất
Điều 692 BLDS năm 2005 đã bỏ quy định “việc CQSDĐ có hiệu lực kể từ thời điểm
được đăng ký tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền” theo quy định tại Điều 696 của BLDS
năm 1995 mà dẫn chiếu tới quy định của Luật Đất đai năm 2003 về hiệu lực của việc chuyển
QSDĐ.
2.1.2. Nội dung các quy định về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Mục này trình bày nội dung các quy định về HĐCNQSDĐ theo quy định của BLDS
năm 1995, chỉ ra những bất cập dẫn đến việc sửa đổi, bổ sung và trình bày những điểm mới
được quy định tại BLDS năm 2005.
2.1.2.1. Về khái niệm Hợp đồng
Điều 697 BLDS năm 2005 đã bỏ nội dung HĐCNQSDĐ phải tuân theo các điều kiện,
nội dung, hình thức chuyển QSDĐ được Bộ Luật Dân sự và pháp luật về đất đai và sửa đổi
một số thuật ngữ của Điều 705 BLDS năm 1995 cho phù hợp.
2.1.2.2. Nội dung chủ yếu của hợp đồng
Điều 698 BLDS năm 2005 bỏ khoản 2 Điều 708 BLDS năm 1995 quy định về lý do
chuyển nhượng QSDĐ và sửa đổi, bổ sung một số thuật ngữ cho phù hợp với nội dung của
HĐCNQSĐ.
2.1.2.3. Nghĩa vụ của bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Điều 699 BLDS năm 2005 đã bỏ quy định bên chuyển nhượng phải : “xin phép
chuyển nhượng quyền sử dụng đất…”, “nộp thuế chuyển nhượng quyền sử dụng đất” được
quy định tại Điều 709 BLDS năm 1995 và sửa đổi một số thuật ngữ cho phù hợp.
2.1.2.4. Quyền của bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Điều 700 BLDS năm 2005 sửa cụm từ “chuyển quyền” tại Điều 710 BLDS năm 1995
thành từ “chuyển nhượng”; bỏ quy định trách nhiệm dân sự do chậm thực hiện nghĩa vụ dân
sự vì vấn đề này đã được quy định cụ thể và đầy đủ tại Điều 305 BLDS năm 2005.
2.1.2.5. Nghĩa vụ của bên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Điều 701 BLDS năm 2005 sửa đổi Điều 712 BLDS năm 1995 theo hướng: không quy
định cụ thể cơ quan mà bên nhận chuyển nhượng có nghĩa vụ đến đăng ký mà dẫn chiếu đến
11
các quy định của pháp luật đất đai.
2.1.2.6. Quyền của bên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Điều 702 BLDS năm 2005 chỉ sửa đổi, bổ sung Điều 713 BLDS năm 1995 theo
hướng: thêm“số hiệu”của thửa đất, sửa cụm từ “bên nhận quyền” thành “bên nhận chuyển
nhượng”, “bên chuyển quyền” thành “bên chuyển nhượng” cho phù hợp với Luật Đất đai.
2.2. Thực trạng áp dụng các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 về hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất
2.2.1. Giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
2.2.1.1. Thỏa thuận trước khi công chứng, chứng thực hợp đồng
Mục này trình bày thực tế quá trình các bên tham gia chuyển nhượng giao kết hợp
đồng với nhau và có nêu thực tế giao kết HĐCNQSDĐ tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.
2.2.1.2. Công chứng, chứng thực hợp đồng
* Cơ quan có thẩm quyền công chứng, chứng thực
Theo quy định của pháp luật Đất đai thì cơ quan có thẩm quyền công chứng, chứng
thực HĐCNQSDĐ bao gồm: Ban quản lý khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao;
công chứng nhà nước; chứng thực của ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất.
Luật Công chứng năm 2006 và Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18 tháng 5 năm
2007 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực
chữ ký không cho phép Ủy ban nhân dân huyện, xã được chứng thực hợp đồng, giao dịch.
Thông tư số 03/2008/TT-BTP ngày 25 tháng 8 năm 2008 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành
một số điều của nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ về
cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký hướng dẫn việc
từng bước chuyển giao các hợp đồng, giao dịch cho các tổ chức hành nghề công chứng.
Đến thời điểm hiện nay một số địa phương ở Việt Nam có thể vẫn tồn tại cả hai hệ
thống công chứng, chứng thực HĐCNQSDĐ, mặc dù ở nhiều địa phương không thực hiện
việc chứng thực HĐCNQSDĐ nữa.
* Thủ tục công chứng, chứng thực
Người yêu cầu công chứng nộp một bộ hồ sơ yêu cầu công chứng theo quy định của
Luật công chứng tuy nhiên trên thực tế người yêu cầu công chứng còn phải nộp các giấy tờ
theo yêu cầu của cơ quan công chứng. Việc công chứng phải sử dụng mẫu có sẵn của cơ quan
quan công chứng ít khi sử dụng các hợp đồng do các bên soạn. Người yêu cầu công chứng
phải nộp phí công chứng theo quy định của pháp luật. Giá chuyển nhượng nêu trong hợp đồng
chuyển nhượng chỉ bằng giá do nhà nước quy định. Nhiều trường hợp, bên nhận chuyển
12
nhượng không đi làm thủ tục mà chuyển nhượng lại (“sang tay”) cho người khác để kiếm chênh
lệch bằng cách yêu cầu cơ quan công chứng hủy hợp đồng đã ký và yêu cầu bên chuyển nhượng
ký lại hợp đồng công chứng với người mua nhằm mục đích trốn thuế và lệ phí trước bạ.
2.2.2. Thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
2.2.2.1. Việc thực hiện hợp đồng của bên chuyển nhượng
Trên thực tế việc thực hiện nghĩa vụ của bên chuyển nhượng trước hay sau khi công
chứng phụ thuộc vào thỏa thuận bên nào có nghĩa vụ đăng ký quyền sử dụng đất theo quy
định của pháp luật về đất đai.
2.2.2.2. Việc thực hiện hợp đồng của bên nhận chuyển nhượng
Trong mục này phân tích thực trạng thực hiện các nghĩa vụ của bên nhận chuyện
nhượng quyền sử dụng đất:
* Nghĩa vụ trả tiền nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Về mặt nguyên tắc thì các bên có thể thỏa thuận việc trả tiền nhận chuyển nhượng ở
bất kỳ thời điểm nào. Tuy nhiên trên thưc tế, việc thanh toán có thể phụ thuộc vào việc bên
nào có nghĩa vụ đăng ký quyền sử dụng đất.
* Nộp hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thực hiện dự án
đầu tư, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài nộp tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất
thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường; đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư sử dụng
đất tại phường và người Việt Nam định cư ở nước ngoài được mua nhà ở gắn liền với quyền
sử dụng đất ở nộp tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Phòng Tài nguyên và Môi
trường; đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư sử dụng đất tại xã, thị trấn nộp tại Uỷ
ban nhân dân xã, thị trấn.
Theo quy định của Luật Đất đai thì Hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất gồm
HĐCNQSDĐ và GCNQSDĐ. Tuy nhiên, trên thực tế người đi làm thủ tục còn phải nộp thêm
một số loại giấy tờ khác như Đơn đề nghị cấp GCNQSDĐ, bản sao có công chứng giấy chứng
minh nhân dân, bản sao có công chứng hộ khẩu thường trú (của cả hai bên mua và bán mỗi
loại hai bản).
2.2.2.3. Việc thực hiện hợp đồng theo sự thỏa thuận của các bên
Một trong những nghĩa vụ quan trọng trong HĐCNQSDĐ đó là việc thực hiện nghĩa
vụ tài chính đối với Nhà nước. Nghĩa vụ này thường được các bên thỏa thuận rất kỹ trước khi
ký kết và ghi rõ trong hợp đồng.
a) Các loại nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước
13
Theo quy định của pháp luật các nghĩa vụ tài chính với nhà nước phải thực hiện trước
khi việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, bao gồm: Thuế chuyển QSDĐ (hiện nay đã bị bãi
bỏ); Thuế thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản; Lệ phí trước bạ; Phí, Lệ phí thuộc thẩm
quyền quyết định của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh (bao gồm: Phí thẩm định cấp quyền sử
dụng đất và Lệ phí địa chính). Mức thu lệ phí địa chính trên địa bàn thành phố Hà Nội được
quy định tại bảng 2.1 dưới đây.
Bảng 2.1. Mức thu lệ phí địa chính của
Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội
Số TT Các công việc địa chính Đơn vị tính
Mức thu
Cá nhân, hộ gia
đình
Tổ chức
Các
quận
Khu vực
khác
1
Cấp GCN quyền sử dụng
đất
đồng/giấy 25.000 10.000 100.000
2
Chứng nhận đăng ký biến
động về đất đai.
đồng/lần 15.000 5.000 20.000
3
Trích lục bản đồ địa
chính, văn bản, số liệu hồ
sơ địa chính:
- Trích lục văn bản
- Trích lục bản đồ
đồng/văn bản
đồng/văn bản
10.000
10.000
5.000
5.000
10.000
10.000
4 Cấp lại, cấp đổi
GCNQSDĐ, xác nhận tính
pháp lý của giấy tờ nhà
đất.
đồng/lần 20.000 10.000 20.000
(Nguồn: Quyết định số 10/2009/QĐ-UBND ngày 09 tháng 01 năm 2009 của Ủy ban
nhân dân thành phố Hà Nội về việc thu lệ phí địa chính trên địa bàn thành phố Hà Nội)

Năm 2011, Ủy ban nhân dân thành phố Hà nội đã bãi bỏ quy định thu lệ phí đối với việc:
Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chứng nhận đăng ký biến động về đất đai, cấp lại, cấp
đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, xác nhận tính pháp lý của các giấy tờ nhà đất và ban hành
mức thu lệ phí mới như sau:
14
Bảng 2.2. Mức thu lệ phí cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở
và tài sản khác gắn liền với đất trên địa bàn thành phố Hà Nội
TT Nội dung thu Đơn vị tính
Mức thu (đồng)
Hộ gia đình, cá
nhân
Tổ chức
Các
phường
thuộc
quận, thị

Khu vực
khác
(thị trấn
…)
I Cấp Giấy chứng nhận mới

1 Trường hợp cấp GCN chỉ có quyền
sử dụng đất (không có nhà và tài sản
khác gắn liền với đất)
Đồng/giấy 25.000 10.000 100.000
2 Trường hợp cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
ở và tài sản khác gắn liền với đất
Đồng/giấy 100.000 50.000 500.000
II Cấp đổi, cấp lại, xác nhận bổ sung
vào giấy chứng nhận

1 Trường hợp cấp lại (kể cả cấp lại do
hết chỗ xác nhận), cấp đổi, xác nhận
bổ sung vào GCN chỉ có quyền sử
dụng đất (không có nhà và tài sản
khác gắn liền với đất)
Đồng/lần 20.000 10.000 20.000
2 Trường hợp cấp lại (kể cả cấp lại do
hết chỗ xác nhận), cấp đổi, xác nhận
bổ sung vào Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và
tài sản khác gắn liền với đất
Đồng/lần 50.000 25.000 50.000
(Nguồn: Quyết định số 04/2011/QĐ-UBND ngày 26 tháng 01 năm 2011 của Ủy ban nhân dân
thành phố Hà nội về việc thu lệ phí cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trên địa bàn thành phố Hà Nội)
Ngoài ra, các bên có thể phải nộp thuế nhà, đất (hiện nay được thay thế bằng thuế sử

Thiết kế, chế tạo module điện tử công suất điều khiển động cơ điện một chiều


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Thiết kế, chế tạo module điện tử công suất điều khiển động cơ điện một chiều ": http://123doc.vn/document/568721-thiet-ke-che-tao-module-dien-tu-cong-suat-dieu-khien-dong-co-dien-mot-chieu.htm


ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP


5
MỤC LỤC
BẢN NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƢỚNG DẪN 1
BẢN NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN 2
LỜI NÓI ĐẦU 3
LỜI CẢM ƠN 4
PHẦN I. DẪN NHẬP LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 7
1. CƠ SỞ KHOA HỌC 7
2. CƠ SỞ THỰC TIỄN 7
3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 7
4. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 7
5. ỨNG DỤNG CỦA SẢN PHẨM 8
PHẦN II: NỘI DUNG 8
CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VỀ ĐỘNG CƠ ĐIỆN MỘT CHIỀU VÀ PHƢƠNG PHÁP
ĐIỀU KHIỂN 8
1.1. TỔNG QUAN VỀ ĐỘNG CƠ ĐIỆN MỘT CHIỀU 8
1.1.1. Cấu tạo của động cơ điện một chiều 8
1.1.2. Nguyên lý hoạt động của động cơ điện một chiều 10
1.1.3. Một số lại động cơ điện một chiều 10
1.1.4. Các đại lƣợng định mức 11
1.1.5. Đặc tính của động cơ điện một chiều kích từ độc lập 11
1.2. CÁC PHƢƠNG PHÁP ĐIỀU KHIỂN ĐÔNG CƠ ĐIỆN MỘT CHIỀU 13
1.2.1. Các chỉ tiêu kỹ thuật để đánh giá chất lƣợng hệ thống điều chỉnh tốc độ 13
1.2.2. Các phƣơng pháp điều khiển tốc độ động cơ điện 14
1.2.3. Hệ truyền động điều khiển động cơ điện một chiều 20
CHƢƠNG II: TỔNG QUAN VỀ VAN CÔNG SUẤT VÀ PHƢƠNG PHÁP ĐIỀU
KHIỂN 27
2.1. TỔNG QUAN VỀ VAN CÔNG SUẤT 27
2.1.1. Diode công suất 30
2.1.2. Transistor công suất BJT 32
2.1.3. Transistor trƣờng MOSFET 34
2.1.4. IGBT 37
2.1.5. TIRISTOR 39
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP


6
2.1.6. TIRISTOR khóa bằng cực điều khiển GTO 43
2.1.7. TRIAC 46
2.2. CÁC PHƢƠNG PHÁP ĐIỀU KHIỂN 47
2.2.1. Một số mạch chỉnh lƣu một pha không điều khiển 47
2.2.2. Một số mạch chỉnh lƣu một pha có điều khiển 57
CHƢƠNG III: THIẾT KẾ CHẾ TẠO MODULE ĐIỆN TỬ CÔNG SUẤT ĐIỀU KHIỂN
ĐỘNG CƠ ĐIỆN MỘT CHIỀU 64
3.1. Ý TƢỞNG THIẾT KẾ 64
3.2. THIẾT KẾ GIAO DIỆN MODULE 64
3.3. CÁC THÔNG SUẤT ĐỘNG CƠ 64
3.4. THIẾT KẾ MẠCH ĐỘNG LỰC 65
3.5. THIẾT KẾ MẠCH ĐIỀU KHIỂN 68
3.5.1. Chức năng và cấu trúc của hệ thống điều khiển bộ biến đổi 68
3.5.2. Các yếu tố cơ bản đối với hệ thống điều khiển 69
3.5.3. Sơ đồ nguyên lý cấu trúc hệ thống điều khiển 72
3.5.4. Nguyên lý hoạt động của mạch điều khiển 72
3.6. SƠ ĐỒ BỐ TRÍ LINH KIỆN 91
CHƢƠNG IV. KẾT QUẢ KHẢO SÁT 91
KẾT LUẬN 92
K.1. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƢỢC 92
K.2. HƢỚNG PHÁT TRIỂN ĐỀ TÀI 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
PHỤ LỤC 93
P.4.1. LẮP MẠCH CHẠY THỬ NGHIỆM 93
P.4.2. MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ KẾT NỐI THỬ NGHIỆM 94
P.4.3. KẾT QUẢ KHẢO SÁT VỚI TẢI ĐỘNG CƠ THEO YÊU CẦU ĐỀ TÀI . 95
P.4.4. KẾT QUẢ KHẢO SÁT MỞ RỘNG 97





ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP


7
PHẦN I. DẪN NHẬP LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1. Cơ sở khoa học.
Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ ngày nay, đã đem lại nhiều ứng
dụng và thành quả to lớn phục vụ nhu cầu đời sống thiết thực của con ngƣời. Đặc biệt đối
với hai lĩnh vực điện – điện tử đã trở nên quen thuộc và phục vụ phần lớn nhu cầu về mọi
mặt đời sống của con ngƣời. Và đặc biệt là ứng dụng mạnh mẽ của điện tử công suất
trong công nghệ điều khiển.
2. Cơ sở thực tiễn.
Động cơ một chiều đƣợc sử dụng từ lâu trong các hệ truyền động có điều khiển tốc
độ yêu cầu dải điều chỉnh lớn, độ ổn định tốc độ cao và các hệ thƣờng xuyên hoạt động ở
chế độ khởi động, hãm và đảo chiều. Nhờ có đặc tính điều chỉnh tốc độ tốt nên đƣợc sử
dụng rất phổ biến trong công nghiệp. Một số ứng dụng quan trọng của động cơ 1 chiều
nhƣ truyền động cho xe điện, máy công cụ, máy nâng vận chuyển
Đó là nhiệm vụ mà chuyên ngành điện – điện tử cần nghiên cứu và cải tiến công
nghệ Từ ý tƣởng đó cùng với những nhu cầu từ thực tiễn, nhóm đồ án chúng em đã
quyết định chọn đề tài: “Thiết kế, chế tạo module điện tử công suất điều khiển động cơ
điện một chiều”.
3. Mục đích nghiên cứu.
Dựa vào những kiến thức đã học về điện tử công suất, kết hợp với các kiến thức về
kỹ thuật điện tử để nghiên cứu và đƣa ra phƣơng pháp điều khiển hiệu quả.
Nhằm ôn lại những kiến thức đã học cũng nhƣ nâng cao trình độ chuyên môn để
phục vụ cho công việc sau khi ra trƣờng.
Sản phẩm hoàn thành có thể làm thiết bị ứng dụng trong giảng dạy của nhà trƣờng.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu.
Tham khảo các tài liệu điện tử công suất kết hợp với các thiết bị module có sẵn của
nhà trƣờng.
Tìm hiểu các phƣơng pháp điều khiển động cơ điện một chiều.
Bằng cách vận dụng các kiến thức đạt đƣợc trong quá trình học tập, tham khảo tài
liệu. Nhóm thực hiện tiến hành tìm hiểu, thiết kế, thi công, và thử nghiệm module trong
nhiều tình huống và điều kiện khác nhau. Quá trình thực nghiệm giúp nhóm thực hiện tự
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP


8
hoàn thiện và bổ sung dần các kiến thức mới. Đặc biệt là tìm đƣợc hƣớng nghiên cứu
thích hợp nhất để hoàn chỉnh và tối ƣu đề tài.
5. Ứng dụng của sản phẩm.
Sản phẩm hoàn thành ứng dụng cho giáo dục làm nhiệm vụ điều khiển động cơ
điện một chiều rất là tiện ích với kiểu dáng module. Ngoài ra nhóm còn thiết kế thêm một
số phần tử để có thể ứng dụng và khảo sát ở một số loại tải khác nhau.


PHẦN II. NỘI DUNG
CHƢƠNG I. TỔNG QUAN VỀ ĐỘNG CƠ ĐIỆN MỘT CHIỀU
VÀ PHƢƠNG PHÁP ĐIỀU KHIỂN
1.1. TỔNG QUAN VỀ ĐỘNG CƠ ĐIỆN MỘT CHIỀU.
1.1.1. Cấu tạo của động cơ điện một chiều.
Gồm 2 phần chính: Phần tĩnh (stato) và phần động (rôto)
a) Phần tĩnh hay stato.
Đây là phần đứng yên của máy, bao gồm các bộ phận chính sau:
 Cực từ chính:
Là bộ phận sinh ra từ trƣờng gồm có lõi sắt cực từ và dây quấn kích từ lồng ngoài
lõi sắt cực từ. Lõi sắt cực từ làm bằng những lá thép kĩ thuật điện hay thép cacbon dày 0,5
đến 1mm đƣợc ép lại và tán chặt. Trong động cơ điện một chiều cỡ nhỏ có thể dùng thép
khối . Cực từ đƣợc gắn chặt vào vỏ máy nhờ các bu lông. Dây quấn kích từ đƣợc quấn
bằng dây đồng bọc cách điện và mỗi cuộn dây đều đƣợc bọc cách điện kĩ thành một khối
tẩm sơn cách điện trƣớc khi đặt trên các cực từ. Các cuộn dây kích từ đƣợc đặt trên các
cực từ này đƣợc nối tiếp với nhau.
 Cực từ phụ:
Cực từ phụ đƣợc đặt trên các cực từ chính và dùng để cải thiện đổi chiều. Lõi thép
của cực từ phụ thƣờng làm bằng thép khối và trên thân cực từ phụ có đặt dây quấn mà cấu
tạo giống nhƣ dây quấn cực từ chính. Cực từ phụ đƣợc gắn với vỏ máy nhờ những
bulong.


ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP


9
 Gông từ :
Gông từ dùng làm mạch nối liền các cực từ, đồng thời làm vỏ máy .Trong động cơ
điện một chiều cỡ vừa và nhỏ thông thƣờng dùng thép dày uốn và hàn lại. Trong máy điện
cỡ lớn thƣờng dùng thép đúc. Có khi trong động cơ điện nhỏ dùng gang làm vỏ máy.
 Các bộ phận khác:
- Nắp máy: Để bảo vệ máy khỏi những vật ngoài rơi vào làm hỏng dây quấn và an
toàn cho ngƣời. Trong máy điện vừa và nhỏ lắp máy còn có tác dụng làm giá đỡ ổ
bi. Trong trƣờng hợp này nắp máy thƣờng làm bằng gang.
- Cơ cấu chổi than: Để đƣa dòng điện từ phần quay ra ngoài. Cơ cấu chổi than bao
gồm có chổi than đặt trong hộp chổi than nhờ một lò xo tì chạy lên cổ góp. Hộp
chổi than đƣợc cố định trên giá chổi than và cách điện với giá. Giá chổi than có
thể quay đƣợc để điều chỉnh vị trí chổi than cho đúng chỗ. Sau khi điều chỉnh
xong thì dùng vít cố định lại.
b) Phần quay hay roto.
 Lõi sắt phần ứng:
Dùng để dẫn từ. Thƣờng dùng những tấm thép kĩ thuật điện dày 0,5mm phủ cách
điện mỏng ở hai mặt rồi ép chặt lại để giảm tổn hao do dòng điện xoáy gây nên. Trên lá
thép có dập hình dạng rãnh để sau khi ép lại thì đặt dây quấn vào.
 Dây quấn phần ứng:
Dây quấn phần ứng là phần sinh ra suất điện động và có dòng điện chạy qua. Dây
quấn phần ứng thƣờng làm bằng dây đồng có bọc cách điện.
 Cổ góp:
Dùng để chuyển dòng điện xoay chiều thành một chiều . Cổ góp gồm nhiều phiến
đồng đƣợc mạ cách điện với nhau bằng lỗ mica dài từ 0,4 đến 1,2mm và hợp thành một
hình trụ tròn. Hai đầu trụ tròn dùng hai hình ốp hình chữ V ép chặt lại. Giữa vành ốp trụ
tròn cũng cách điện bằng mica. Đuôi vành góp có cao lên một ít để hàn các đầu dây của
các phần tử dây quấn và các phiến góp đƣợc dễ dàng.
 Các bộ phận khác:
- Cánh quạt: dùng để quạt gió làm mát máy. Máy điện một chiều thƣờng chế tạo
theo kiểu bảo vệ, ở hai đầu nắp máy có lỗ thông gió. Cánh quạt nắp trên trục máy
khi động cơ quay cánh quạt hút gió từ ngoài vào động cơ, gió đi qua vành góp, cực
từ lõi sắt và dây quấn rồi qua quạt gió ra ngoài làm mát máy.
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP


10
- Trục máy: Trên đó đặt lõi sắt phần ứng, cổ góp, cánh quạt và ổ bi. Trục máy
thƣờng làm bằng thép cacbon tốt.
1.1.2. Nguyên lý hoạt động của động cơ điện một chiều.
Động cơ điện phải có hai nguồn năng lƣợng.
- Nguồn kích từ cấp vào cuộn kích từ để sinh ra từ thông kích từ.
- Nguồn phần ứng đƣợc đƣa vào hai chổi than để đƣa vào cổ góp của phần ứng.

Hình 1.1: Nguyên lý hoạt động của động cơ điện một chiều
Khi cho điện áp 1 chiều U đặt vào 2 chổi than A và B trong dây quấn phần ứng có
dòng điện I
ƣ
các thanh dẫn ab, cd có dòng điện nằm trong từ trƣờng sẽ chịu lực điện từ F
đt

tác dụng làm cho rotor quay, chiều lực từ đƣợc xác định theo quy tắc bàn tay trái.
Khi phần ứng quay đƣợc nửa vòng vị trí các thanh dẫn ab, cd đổi chỗ nhau do có
phiến góp đổi chiều dòng điện giữ cho chiều lực tác dụng không đổi đảm bảo động cơ có
chiều quay không đổi. Khi động cơ quay các thanh dẫn cắt từ trƣờng sẽ cảm ứng sức điện
động E
ƣ
chiều của s.đ.đ xác định theo quy tắc bàn tay phải.
Ở động cơ điện một chiều sức điện động E
ƣ
ngƣợc chiều với dòng điện I
ƣ
nên E
ƣ
còn
gọi là sức phản điện động.
Phƣơng trình cân bằng điện áp: U= E
ƣ
+R
ƣ
.I
ƣ

Trong đó: R
ƣ
: Điện trở phần ứng
I
ƣ
:Dòng điện phần ứng
E
ƣ
: Sức điện động
1.1.3. Một số loại động cơ điện một chiều.
+ Động cơ điện kích thích độc lập.
+ Động cơ điện kích thích song song.
+ Động cơ điện kích thích nối tiếp.
+ Động cơ điện kích thích hỗn hợp.
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP


11
1.1.4. Các đại lượng định mức.
Chế độ làm việc định mức đƣợc đặc trƣng bằng những đại lƣợng ghi trên nhãn
máy và gọi là những lƣợng định mức. Trên nhãn máy thƣờng ghi những đại lƣợng
sau:
- Công suất định mức P
đm
(kW hay W): là công suất cơ đƣa ra ở đầu trục máy.
- Điện áp định mức U
đm
(V).
- Dòng điện định mức I
đm
(A).
- Tốc độ định mức n
đm
(vòng/phút).
Ngoài ra còn ghi kiểu máy, phƣơng pháp kích từ, dòng điện kích từ và các số liệu về
điều kiện sử dụng.
1.1.5. Đặc tính của động cơ điện một chiều kích từ độc lập.
Do đối tƣợng điều khiển là động cơ điện một chiều kích từ độc lập mà nhà trƣờng
sẵn có nên chúng em lựa chọn phƣơng án nghiên cứu về loại động cơ điện một chiều loại
kích từ độc lập.
Khi nguồn điện một chiều có công suất không đủ lớn thì mạch điện phần ứng và
mạch kích từ mắc vào hai nguồn một chiều kích từ độc lập với nhau lúc này động cơ đƣợc
gọi là động cơ kích từ độc lập.

Hình 1.2. Sơ đồ nguyên lý làm việc của động cơ điện một chiều kích từ độc lập.
Khi động cơ làm việc , rotor mang cuộn ứng quay trong từ trƣờng của cuộn cảm nên
trong cuộn ứng lại xuất hiện một sức phản điện động có chiều ngƣợc với điện áp đặt vào
phần ứng động cơ.
Phƣơng trình điện áp ở mạch phần ứng động cơ: U
ƣ
= E
ƣ
+ I
ƣ
(R
ƣ
+ R
f
)
Trong đó:
 U
ƣ
: Điện áp phần ứng ( V).
 E
ƣ
: Sức điện động phần ứng (V).
 R
ƣ
: Điện trở của mạch phần ứng ( Ω).
 R
f
: Điện trở phụ của mạch phần ứng ( Ω).
UKT
Uu
Rf
RKT
CKT
E
IKT
+
-
+
-
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP


12
 I
ƣ
: Dòng điện mạch phần ứng (A).
Sức điện động E
ƣ
của phần ứng động cơ là tỷ lệ với tốc độ quay của rôto: Eƣ = k.Φ.ω
Trong đó:
  =

2
hệ số cấu tạo của động cơ.
 Φ: Từ thông qua một cực từ (Wb).
 ω : Tốc độ góc của rôto,  =

9,55
( rad/s).
 p: Số đôi cực từ chính.
 N: Số thanh dẫn tác dụng của cuộn dây phần ứng.
 a: Số đôi mạch nhánh song song.
 n: Tốc độ quay (Vòng/phút).
Ta có phƣơng trình đặc tính cơ điện của động cơ là:  =
ư



ư
+



ư

Mặt khác mômen điện từ của động cơ:
M
đt
= k.Φ.I
ƣ

ư
=

đ


Nếu bỏ qua các tổn thất cơ và tổn thất thép thì M

= M
đt
= M
Từ các phƣơng trình trên ta có: Đặc tính cơ của động cơ điện một chiều :
 =
ư



ư
+

()
2

Khi toàn bộ các thông số điện của động cơ là định mức và không mắc thêm điện trở
phụ thì phƣơng trình đặc tính cơ là:
 =
ư



ư
()
2

Đặc tính cơ của phƣơng trình này gọi là đặc tính cơ tự nhiên.
Đây là sơ đồ đặc tính cơ và đặc tính cơ điện của động cơ:

Hình 1.3. a. Đặc tính cơ điện b. Đặc tính cơ
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP


13
Trên đồ thị I
ƣ
= 0 hoặc M = 0, ta có:
 =
ư

=
0

ω
0
: Đƣợc gọi là tốc độ không tải lý tƣởng của động cơ.
Còn khi ω
0
, ta có: 
ư
=

ư

ư
+

= I
nm
M = k.Φ.I
nm
= M
nm
I
nm
và M
nm
đƣợc gọi là dòng điện và mômen ngắn mạch. Mặt khác cũng có thể viết dƣới
dạng:
 =

ư



ư

=
0

 =

ư



()
2
=
0

Trong đó: R = R
ƣ
+ R
f
và 
0
=

ư


Độ sụt tốc độ:
 
M
K
RR
fu
.
.
2





1.2. CÁC PHƢƠNG PHÁP ĐIỀU KHIỂN ĐỘNG CƠ ĐIỆN MỘT CHIỀU.
Các phƣơng pháp điều chỉnh tốc độ động cơ một chiều là rất quan trọng nó có thể
giúp ta dễ dàng chọn lựa phƣơng phù hợp cho từng hệ thống riêng biệt .
Về phƣơng diện điều chỉnh tốc độ, động cơ điện một chiều có nhiều ƣu việt hơn so
với loại động cơ khác, không những nó có khả năng điều chỉnh tốc độ dễ dàng mà cấu
trúc mạch lực, mạch điều khiển đơn giản hơn đồng thời lại đạt chất lƣợng điều chỉnh cao
trong dải điều chỉnh tốc độ rộng.

1. 1.2.1. Các chỉ tiêu kỹ thuật để đánh giá chất lượng hệ thống điều chỉnh tốc độ.
Khi điều chỉnh tốc độ của hệ thống truyền động điện ta cần chú ý và căn cứ vào
các chỉ tiêu sau đây để đánh giá chất lƣợng của hệ thống truyền động điện:
 Phạm vi điều chỉnh tốc độ ( Dải điều chỉnh ).
Phạm vi điều chỉnh tốc độ D là tỉ số giữa tốc độ lớn nhất n
max
và tốc độ bé nhất n
min

mà ngƣời ta có thể điều chỉnh đƣợc tại giá trị phụ tải là định mức:
D = n
max
/n
min
.
Trong đó:
- n
max
: Đƣợc giới hạn bởi độ bền cơ học.
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP


14
- n
min
: Đƣợc giới hạn bởi phạm vi cho phép của động cơ, thông thƣờng
ngƣời ta chọn n
min
làm đơn vị.
Phạm vi điều chỉnh càng lớn thì càng tốt và phụ thuộc vào yêu cầu của từng hệ thống,
khả năng từng phƣơng pháp điều chỉnh.
 Sai số tốc độ (sai lệch tĩnh).
Là đại lƣợng đặc trƣng cho độ chính xác tốc độ đặt n
đ
.


% =

đ


đ
 100%
Trong đó : n
đ
: Tốc độ đặt (rad/s).
n : Là tốc độ thực tế của động cơ (rad/s).
Khi n = n
đ
thì hệ thống đạt đƣợc độ chính xác cao.
S càng nhỏ thì độ chính xác càng cao.
 Độ trơn trong điều chỉnh tốc độ.
Trong phạm vi điều chỉnh tốc độ, có nhiều cấp tốc độ. Độ liên tục khi điều chỉnh tốc
độ  đƣợc đánh giá bằng tỉ số giữa hai cấp tốc độ kề nhau:
 = n
i+1
/n
i

Trong đó:
n
i
: Tốc độ điều chỉnh ở cấp thứ i.
n
i + 1
: Tốc độ điều chỉnh ở cấp thứ ( i + 1 ).
Với n
i
và n
i + 1
đều lấy tại một giá trị moment nào đó.
 tiến càng gần 1 càng tốt, phƣơng pháp điều chỉnh tốc độ càng liên tục. Lúc này hai cấp
tốc độ bằng nhau, không có nhảy cấp hay còn gọi là điều chỉnh tốc độ vô cấp.


2. 1.2.2. Các phƣơng pháp điều khiển tốc độ động cơ điện một chiều.
1.2.2.1. Điều khiển tốc độ động cơ điện một chiều bằng điện trở phần ứng.
Bằng cách thay đổi điện trở phụ nối tiếp mạch phần ứng:
 =
ư



ư
+



ư

Khi thay đổi R
f
thì 
0
=



không đổi.
 Nguyên lý điều khiển:

Cốm


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Cốm": http://123doc.vn/document/569044-com.htm



TiÕt 57:
TiÕt 57:
Mét thø quµ cđa lóa non: Cèm
Mét thø quµ cđa lóa non: Cèm
T
T
ùy bút của Thạch Lam
ùy bút của Thạch Lam


TiÕt 57 VĂN b¶n : Mét thø quµ cđa lóa non: cèm
Th¹ch Lam
I. Đäc - hiĨu VĂN BẢN :
1. T¸c gi¶ :
- Lµ nhµ văn nỉi tiÕng , thµnh viªn cđa
nhãm Tù lùc văn ®oµn .
- ¤ng cã së tr­êng vỊ trun ng¾n , mét
c©y bót tinh tÕ nh¹y c¶m , ®Ỉc biƯt trong
viƯc khai th¸c thÕ giíi c¶m xóc , c¶m gi¸c
cđa con ng­êi
- Th¹ch Lam ( 1910 - 1942) sinh t¹i Hµ
Néi, tªn thËt lµ Ngun T­êng L©n
2. T¸c phÈm
" Mét thø quµ cđa lóa non Cèm " in trong
tËp t bót Hµ Néi “ Băm s¸u phè ph­êng”
( 1943)
3. Thể loại : Tùy bút
4.Bố cục : Gồm 3 phần

Phần 1 : “ Từ đầu … Thuyền rồng”
Giới thiệu về sự hình thành Cốm
ở làng Vòng

Phần 2 : “Cốm … Nhũn nhặn”
Nêu giá trò của cốm
Phần 3 : Phần còn lại
Bàn về cách thưởng thức cốm

II) Phân tích văn bản :
1/Sự hình thành : Cốm

CÂU HỎI :
1/ Tác giả đã mở đầu bài viết về Cốm
bằng những hình ảnh và chi tiết nào?
2/ Những cảm giác, ấn tượng nào
của tác giả đã tạo nên tính biểu cảm
của đoạn văn ?

II) Phân tích văn bản :
II) Phân tích văn bản :


1/ Sự hình thành : Cốm
1/ Sự hình thành : Cốm


-
-


Từ hương thơm
Từ hương thơm
của lá sen trong hờ
của lá sen trong hờ


- Từ hương thơm
- Từ hương thơm
của lúa non
của lúa non
-> trong
-> trong
Cái vỏ xanh -> giọt
Cái vỏ xanh -> giọt
sữa trắng thơm ->
sữa trắng thơm ->
đọng lại -> một loạt
đọng lại -> một loạt
Cách chế biến để
Cách chế biến để
làm ra thứ cốm.
làm ra thứ cốm.


=>M
=>M
ợt thứ quà
ợt thứ quà
thanh nhã và tinh
thanh nhã và tinh
khiết.
khiết.


2/ Giá trị đặc sắc của Cốm :

CÂU HỎI
Tác giả đã nhận xét và
bình luận thế nào về
tục dùng hồng cốm
làm đồ sêu tết của
nhân dân ta ?
 Sự hòa hợp tương
xứng của hai thứ ấy
được phân tích trên
những phương diện
nào ?

2/ Giá trị đặc sắc của Cốm :
Cốm là thứ q riêng biệt của đất trời của
đồng q nội cỏ An Nam
Làm q sêu tết
Hồng cốm đẹp đơi
=> Cốm bình dị, khiêm nhường, một sản
phẩm chứa đựng giá trị văn hóa, gắn liền với
phong tục của dân tộc

3/ Cách thưởng thức : Cốm

Thứ Ba, 20 tháng 5, 2014

Chiến lược định giá (Pricing strategy)


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Chiến lược định giá (Pricing strategy)": http://123doc.vn/document/569266-chien-luoc-dinh-gia-pricing-strategy.htm


22 NhữngNhững nhânnhân tốtố bênbên trongtrong vàvà bênbên ngoàingoài DNDN
ảnhảnh hưởnghưởng đếnđến việcviệc đònhđònh giágiá
Các Các
quyết
Những yếu tố bên Những yếu tố bên
trong:
 Các mục tiêu
marketing
Những yếu tố bên Những yếu tố bên
ngoài:
 Thò trường
 Số cầu
5
đònh về
quyết
đònh về
giá
marketing
 Chiến lược M.Mix
 Vò trí trên đường
biểu diễn CKS SP
 Chi phí
 Số cầu
 Giá và SP của đối thủ
cạnh tranh
 Các chính sách giá cả
của nhàø nước
Tổng hợp bởi Nguyễn Kim Nam
2.1 NHỮNG YẾU TỐ BÊN TRONG
2.1.1. Mục tiêu marketing của công ty
 Tồn tại.
 Tối đa hóa LN trước mắt.
Tối đa hóa doanh thu.
6
 Tối đa hóa doanh thu.
 Dẫn đầu về chất lượng SP.
 Giữ thế ổn đònh tránh phản ứng bất lợi từ
ĐTCT.
 Ngăn ngừa ĐTCT tham gia thò trường.
Tổng hợp bởi Nguyễn Kim Nam
2.1.2. Chiến lược marketing mix
Các quyết đònh về giá cần phải liên kết chặt
chẽ với việc thiết kế SP, phân phối và xúc tiến
nhằm hình thành một chương trình Marketing
7
nhằm hình thành một chương trình Marketing
mix đồng bộ, có hiệu quả.
Ví dụ: Việc đònh giá phải phù hợp với giá trò
của SP, với chính sách khuyến khích các trung
gian.
Tổng hợp bởi Nguyễn Kim Nam
2.1.3.Vò trí trên đường biểu diễn của
CKSSP
Vò trí trên đường biểu diễn của chu kỳ sống
một SP là cơ sở quan trọng đối với việc đònh
giá. Mỗi vò trí của đường biểu diễn có hệ số
8
giá. Mỗi vò trí của đường biểu diễn có hệ số
co dãn khác nhau, gây ra những hậu quả trên
chính sách về giá, đặc biệt lúc mới tung SP ra
thò trường.
Tổng hợp bởi Nguyễn Kim Nam
2.1.4. Chi phí
6. Chi phí chung
7. Tiền lãi
GIÁ BÁN
Đònh
phí
9
1. Chi phí vật chất
2. Tiền lương biến đổi
3. Chi phí mar. biến đổi
4. Tiền lương cố đònh
5. Chi phí mar. cố đònh
6. Chi phí chung
Biến
phí
phí
Giá
thành
Tổng hợp bởi Nguyễn Kim Nam
1. Đònh phí (Fixed costs): là những chi phí
không thay đổi theo sản xuất hay doanh thu
như khấu hao TSCĐ Tuy nhiên nếu tính cho
một đơn vò SP thì nó lại thay đổi.
2. Biến phí (Variable costs): là những chi phí
thay đổi theo mức độ sản xuất như nguyên
10
thay đổi theo mức độ sản xuất như nguyên
liệu, tuy nhiên nếu tính cho một SP thì nó lại
ổn đònh.
3 Tổng chi phí (total costs): là số lượng đònh phí
và biến phí cho bất kỳ mức độ sản xuất nhất
đònh nào.
Tổng hợp bởi Nguyễn Kim Nam
Khi nghiên cứu đònh phí và biến phí người ta đi
đến xác đònh điểm hoà vốn. Điểm hòa vốn là điểm
mà tại đó tiền bán hàng chỉ đủ bù các chi phí, lãi
bằng không.
Q = F/ (P-V)
11
Q = F/ (P-V)
Trong đó: Q: Khối lượng hòa vốn .
F: Đònh phí. V: Biến phí 1 đvsp
P: Giá bán 1 đvsp
Tổng hợp bởi Nguyễn Kim Nam
Lợi nhuận mục tiêu
2 triệuUSD
D/ thu hoà
vốn
9 tr USD
12
10
8
6
Tổng doanh thu
Tổng chi phí
Đònh phí
Doanh thu/ Chi
phí (Triệu USD)
12
6
4
2
1000800600400200
Đònh phí
Sản lượng
hoà vốn
600.000 SP
Đơn vò bán
ra (ngàn)
Tổng hợp bởi Nguyễn Kim Nam
2.2 NHỮNG YẾU TỐ BÊN NGOÀI
2.2.1. Tính chất cạnh tranh của thò trường
Thò trường cạnh tranh hoàn hảo.
 Thò trường độc quyền hoàn toàn.
13
Thò trường cạnh tranh độc quyền.
Thò trường độc quyền nhóm.
Tổng hợp bởi Nguyễn Kim Nam
2.2.2. Số cầu: Số cầu là số SP mà DN có thể bán
ra ở mỗi mức giá khác nhau. Đó là sự nhạy cảm
của người mua đối với giá và mức độ nhạy cảm
này lại thể hiện ở hệ số co dãn. Do đó để đònh giá
SP các DN cần phải xem xét đến những hiện
tượng ảnh hưởng đến hệ số co giãn như: Sự tồn tại
14
tượng ảnh hưởng đến hệ số co giãn như: Sự tồn tại
một vùng giá tham khảo, giá tâm lý, sự nhạy cảm
không đều của người mua đối với giá và giá chỉ
báo chất lượng.
Tổng hợp bởi Nguyễn Kim Nam

Bài tập Hóa 12.05


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Bài tập Hóa 12.05": http://123doc.vn/document/569455-bai-tap-hoa-12-05.htm



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM
MÔN: CHƯƠNG TRÌNH, PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC HÓA HỌC
Giảng viên: PGS.TS Lê Đức Ngọc
ThS. Vũ Phương Liên
BÀI TẬP TIỂU LUẬN
XÂY DỰNG BỘ CÂU HỎI TNKQ CHO CHƯƠNG 8
Dẫn xuất halogen-ancol-phenol
Sinh viên: Vũ Thị Nhớ
Lớp: K50 – Sư phạm Hóa học
I. Mục tiêu của chương.
 Về kiến thức:
- Nêu được những đặc điểm của các chất
- Phân loại được các loại của dẫn xuất halogen, ancol, phenol.
- Gọi tên được các chất đã được học trong chương và nêu được các
tính chất vật lý của chúng.
- Nêu được các tinh chất hoá học của các chất trong chương.
- Nêu được quy trình điều chế và những ứng dụng của các chất.
 Về kỹ năng:
- Giải thích cơ chế của các loại phản ứng.
- Viết các phương trình phản ứng.
- Quan sát và giải thích các hiện tượng.
 Về thái độ.
- Có thái độ nghiêm túc trong việc sử dụng các loại chất hoá học.
- Có ý thức bảo vệ môi trường nơi mình sống học tập và làm việc.
II. Mục tiêu chi tiết của chương.
Bậc
Nội dung Bậc 1 Bậc 2 Bậc 3
Nội dung 1:
Bài 51 Dẫn
xuất
Halogen(HLG)
của
Hidrocacbon
I.A.1 Phân loại
được các loại dẫn
xuất halogen,các
loại đồng phân
và gọi tên được
các dẫn xuất
halogen.
I.A.2 Nêu được
các tính chất vật
lý của dẫn xuất
HLG.
I.A.3 Nêu được
các tính chất hoá
học của dẫn xuất
HLG và viết
được phương
trính phản ứng
minh hoạ.
I.A.4 Nêu được
những ứng dụng
của dẫn xuất
HLG trong thực
tế.
I.B.1 Giải thích
được cơ chế của
phản ứng thế
HLG, phản ứng
tách HX.
II.A.2 Bằng
phương trình
phản ứng giải
thích được sơ đồ
điều chế một số
chất đi từ chất
đầu là dẫn xuất
HLG
I.C.1 Chứng
minh được dẫn
xuất HLG
được ứng dụng
trong nhiều
lĩnh vực của
cuộc sống và
giải thích.
Nội dung 2:
Ancol, cấu tạo
dang pháp tính
chất vật lý
II.A.1 Viết được
công thức tổng
quát, phân loại và
gọi tên được các
ancol.
II.A.2 Nêu được
các tính chất vật
lý,và chỉ ra được
liên kết hydrô
của ancol.
II.A.3 Nêu được
các ảnh hưởng
của liên kết
hydro tới tính
II.B.1 Giải thích
được sự tạo
thành liên kết
hydro trong ancol
II.B.2 Giải thích
được độ tan,
nhiệt độ sôi của
ancol cao hơn
các chất khác có
cùng phân tử
khối nhưng
không có liên kết
hydro
chất vật lý.
Nội dung 3:
Bài 54: Ancol
tính chất hoá
học, điều chế
và ứng dụng
III.A.1 Nêu được
các tính chất hoá
học của ancol và
viết được các
phương trình
phản ứng minh
hoạ.
III.A.2 Nêu được
phương pháp
điều chế ancol
trong công
nghiệp,chỉ ra
được các ứng
dụng của chúng
III.A.3 Nhận biết
được các ancol
đa chức có các
nhóm OH cạnh
nhau.
III.A.4 Phát biểu
được quy tắc zai-
xep cho phản ứng
tách nước.
III.B.1 Giải thích
được cơ chế của
phản ứng thế H.
III.B.2 Giải thích
được cơ chế của
phản ứng thế
nhóm OH.
III.B.3 Phân biệt
được các sản
phẩm oxi hoá
ancol
III.C.1 Phân
tích được quy
trình sản xuất
rượu trong
nhân gian.
III.C.2 Vận
dụng bài học
để giải thích
các tác hại do
rượu gây ra.
Nội dung 4:
Bài 55: Phenol
IV.A.1 Nêu được
công thức cấu
tạo, các loại
phenol và gọi tên
chúng.
IV.A.2 Nêu được
các tính chất vật
lý của phenol.
IV.A.3 Nêu được
các tính chất hoá
học và viết được
các phương trình
phản ứng cho các
tính chất đó
IV.A.4 Nêu
IV.B.1 Giải thích
được các tính
chất của phenol
dựa trên ảnh
hưởng qua lại
giữa các nhóm
nguyên tử.
IV.B.2 Phân biệt
phenol và ancol,
phenol và
benzen.
IV.C.1 Đánh
giá được các
ứng dụng của
phenol trong
thực tế.
được cách điều
chế và các ứng
dụng của phenol.
III. Bảng trọng số.


Bậc
Nội dung
Bậc 1 Bậc 2 Bậc 3 Tổng
Nội dung
1
4 2 1 7
Nội dung
2
3 2 5
Nội dung3 4 3 2 9
Nội dung
4
4 2 1 7
Tổng 15 9 4 28
IV. Bộ câu hỏi trắc nghiệm:
Bao gồm :
5 câu đúng sai.
5 câu ghép hợp.
5 câu điền thêm.
30 câu nhiều lựa chọn.
I. 5 câu lựa chọn đúng sai.
Câu 1: Điền đúng (Đ) hoặc sai (S) vào các phát biểu sau:
(1) Phenol có tính axít mạnh hơn etanol vì nhân benzen hút electron
của nhóm -OH bằng hiệu ứng liên hợp, (H linh động) trong khi nhóm -C2H5
lại đẩy electron vào nhóm -OH (H kém linh dộng).
(2) Do ảnh hưởng của nhóm OH nên phản ứng thế của phenol khó
khăn hơn benzen,và đồng đẳng của nó.
(3) Tính axit của phenol yếu hơn H2CO3 vì sục CO2 vào dung dịch
C6H5ONa ta sẽ được C6H5OH kết tủa .
(4) Phenol trong nước cho môi trường axit mạnh vì phản ứng với
NaOH và làm quỳ tím hóa đỏ.
Câu 2: . Hãy điền đúng (Đ) hoặc sai (S) vào các phát biểu sau:
1. Phenol là chất rắn kết tinh dễ bị oxi hoá trong không khí thành màu
hồng nhạt
2. Phenol có tính axit yếu nhưng mạnh hợn H
2
CO
3
3. Khác với bezen, phenol phản ứng dễ dàng với dung dịch Br
2
ở nhiệt
độ thường tạo thành kết tủa trắng.
4. Nhóm OH và gốc phenyl trong phân tử phenol không có ảnh hưởng
qua lại lẫn nhau.
Câu 3: Hãy điền đúng (Đ) hoặc sai (S) vào những câu sau
1. Các dẫn xuất halogen tan tốt trong nước nhưng không tan trong các
dung môi phân cực như hdrôcacbon, ete ().
2. Các dẫn xuất halogen phản ứng với NaOH ở nhiệt độ thường ().
3. Ancol trong dãy đồng đẳng của ancol etylic đều là không mầu ().
4. Do nhóm OH phân cực ( H linh động) nên ancol phản ứng dàng
với NaOH ().
Câu 4: hãy chon đúng (Đ) hoặc sai (S) điền vào các câu sau.
1. Ancol bậc 1 là ancol có một nhóm OH đính với nguyên tử C
().
2. Chỉ có ancol đa chức có các nhóm OH đính với những
nguyên tử c đứng cạnh nhau mới phản ứng với Cu(OH)
2
3. Trong phản ứng tách nước của ancol thì nhóm OH sẽ ưu tiên
tách cùng H của nguyên tử C có bậc thấp hơn ().
4. Trong công nghiệp ngưòi ta sản xuất etanol bằng cách nên
men tinh bột ().
Câu 5: Hãy điền đúng (Đ) hoặc sai (S) vào những câu sau
1. Phênol là dẫn xuất hidro của hidro các bon thơm
2. Phênol là dẫn xuất hidro mà OH đính với cacbon của vòng
thơm().
3. Ancol thơm là dẫn xuất hidroxi của hidro cacbon thơm().
4. Ancol thơm là đồng đẳng của phenol().
II. 5 câu điền khuyết

Câu 6 : Điền từ còn thiếu vào chỗ trống
Khi tách …. khỏi dẫn xuất halgen, nguyên tử… sẽ tách cùng H của
nguyên tử C bậc cao hơn bên cạnh.

Câu 7 : Điền từ còn thiếu vào những chỗ trông sau:
Ancol là những hợp chất hữu cơ mà phân tử có nhóm …. Liên kết trực
tiếp với nguyên tử C ……
.
Câu 8 :Điền từ còn thiếu vào những chỗ trông sau:
Nguyên tử H mang một phần điện tích… của nhóm OH nay khi ở gần
nguyên tử O mang một phần điện tích …. của nhóm OH kia tạo thành một
liên kết …. gọi là liên kết hidro.
Câu 9: Điền từ còn thiếu vào những chỗ trống sau:
Phenol là chất rắn… tan ít trong nước lạnh, tan vô hạn ở 66
0
C ,trong quá
trình bảo quản phenol thường bị …và … dần do hút ẩm và bị oxi hoá bởi
không khí.
Câu 10 : Điền từ còn thiếu vào những chỗ trống sau:
Phenol là những hợp chất hữu cơ mà mà phân tử có chứa nhóm …. Liên kết
… nguyên tử c của vòng ……
III. 5 Câu ghép hợp
Câu 11: ghép chất ở cột a với tên ở cột b
1.C6H5-CH2Cl A. 1,1-đibrometan
2. CH3CHCl CH3 .B. benzyl clorua
3. Br2CHCH3 C. anlyl clorua
4. CH2 = CH-CH2Cl D. isopropyl clorua
Câu 12: ghép ý ở cột trái với ý ở cột phải
1. etanol A. Dùng để sản xuất
poliphenolfomanđehit,
điều chế dược phẩn,
thuốc nhuộm
2. metanol B. Làm dung môi, một
số có thể dùng làm
chất gây mê trong
phẫu thuật, diệt sâu
bọ, lam lớp phủ trống
dính cho xoong chảo
3. phenol C. Dùng làm nghuyên
liệu để sản xuất các
hợp chất như ete
dùng làm dung môi,
làm nhiên liệu
4. dẫn xuất halogen D. ùng để sản xuất
anđehitfocmic, axit
axetic.
Câu 13: ghép ý ở cột trái với ý ở cột phải
1. Dẫn xuất halogen
loại ankyl
A. CH
2
=CH-CH
2
-
C
6
H
4
-Br
2. Dẫn xuất halogen
loại anlyl
B. CH
2
=CH-CHBr-
C
6
H
5
3. Dẫn xuất halogen
loại phenyl
C. CH
2
=CBr-CH
2
-
C
6
H
5
4. Dẫn xuất halogen D. CH
3
-C
6
H
4
- CH
2
-
loại vinyl CH
2
Br
Câu 14 : ghép ý ở cột bên trái với ý ở cột bên phải
1. ancol bậc I bị oxi hoá
nhẹ thành .
A. bị oxi hoá nhẹ
thành xêton
2. ancol bậc II bị oxi hoá
nhe thành
B. bị oxi hoá nhẹ
thành anđehit
3.ancol bậc III C. bị oxi hoá tạo
CO
2
và H
2
O
4. ancol D. Không bị oxi hoá
Câu 15: ghép tên của chất ỏ côt a với công thức ở cột b
1.ancol tertbutylic A.
CH3CH2CH2CH2CH2OH
2. 3-metylbutan-2-
ol
B. (CH3)3COH
3. ancol amylic C.
CH3CH(OH)CH(CH3)CH3
4. ancol n- propylic D. CH3CH2CH2OH

IV. 30 câu nhiều lựa chọn
Câu 16 : Chọn câu đúng :
Cho các chất : phenol , stiren , ancol benzylic . Thuốc thử duy nhất
có thể dùng để nhận biết ba chất lỏng đựng trong ba lọ mất nhãn
là :
A. Na
B. Dung dịch brom
D. Qùy tím
Câu 17 :Chọn câu đúng :
Tên IUPAC của ancol isoamylic là :
A. 3,3-đimetylpropan-1-ol
B. 3-metylbutan-1-ol
C. 2-metylbutan-4-ol
D. Cả A , B , C đều đúng .
Câu 18:. Các ancol có t
o
nc
, t
o
sôi
, độ tan trong H
2
O của ancol đều cao hơn so
với hiđrocacbon vì:
A. Các ancol có nguyên tử O trong phân tử
B. Các ancol có khối lượng phân tử lớn
C. Các ancol có khối lượng phân tử lớn hơn hiđrocacbon và có khả
năng hình thành liên kết hiđro với H
2
O
Câu hỏi 19:
Hợp chất X có công thức phân tử C8H8O3. X thuộc nhóm hợp chất nào sau
đây:
A. Rượu B. Phenol
C. Anđehit D. Xeton E. Este
Câu hỏi 20:
Đun nóng một rượu X với H2SO4 đậm đặc ở nhiệt độ thích hợp thu được
một olefin duy nhất. Công thức tổng quát của X là:
A. CnH2n+1CH2OH
B. RCH2OH
C. CnH2n+1OH
D. CnH2n+2O
Câu hỏi 21:
Cho biết sản phẩm chính của phản ứng khử nước của (CH3 )
2CHCH(OH)CH 3 ?
A. 2-metyl buten-1
B. 3-metyl buten-1
C. 2-metyl buten-2
D. 3-metyl buten-2
Câu hỏi 22:
Cho biết số đồng phân nào của rượu no, đơn chức từ C3 đến C5 khi tách
nước không tạo ra các anken đồng phân?
A. C3H7OH: 2 đồng phân; C4H9OH: 3 đồng phân; C5H11OH: 3 đồng
phân.
B. C3H7OH: 1 đồng phân; C4H9OH: 4 đồng phân; C5H11OH: 3 đồng
phân.
C. C3H7OH: 3 đồng phân; C4H9OH: 4 đồng phân; C5H11OH: 3 đồng
phân.
D. Câu A đúng.
Câu hỏi 23:
Có các hợp chất chỉ chứa các nguyên tố C, H, O có khối lượng phân tử bằng
60 đvC. Những chất nào trong số các chất đó có thể chuyển hóa theo sơ đồ
sau: CxHyOz -> CxHy-2 -> A1 -> B1 -> Glixerol
A. C2H4O2 .
B. Rượu n-propylic và rượu iso propylic
C. Etyl metyl ete
D. Metyl fomiat

Câu hỏi 24:
Trong dãy đồng đẳng rượu đơn chức no, khi mạch cacbon tăng, nói chung:
A. Độ sôi tăng, khả năng tan trong nước tăng.
B. Độ sôi tăng, khả nặng tan trong nước giảm
C. Độ sôi giảm, khả năng tan trong nước tăng.
D. Độ sôi giảm, khả năng tan trong nước giảm.
Câu 25:
Khi cho etanol vào nước, thể tích hỗn hợp dung dịch thu được lại giảm so
với tổng thể tích 2 chất ban đầu vì:
a.Etanol tan tốt trong nước
b.Etanol có khối lượng phân tử nhỏ
c.Etanol tạo được liên kết hidro với nước
d.Etanol có phân tử nhỏ gọn
Câu 26 : Khi hiđro hóa X thu được ancol iso butylic . X có thể
A. CH3 – CH (CH3) – CHO
B. CH2=C (CH3) – CH2 – OH
C. CH2 = C ( CH3) – CHO
D. tất cả đều đúng.
Câu 27: Oxi hóa 6g ancol no, đơn chức (X) thu được 5,8g
andehit. CTCT của (X) là:
A. CH3-CH2-OH
B. CH3-CH2-CH2-OH
C. CH3-CH2-CH2-CH2-OH
D. CH3-CH(OH) -CH3
Câu 28: Cho 28,2g hỗn hợp 2 ancol no, đơn chức đồng đẳng kế
tiếp tác dụng với Na (dư) sinh ra 8,4 lit H2 (đktc). CTPT của 2
ancol là:
A. CH3-OH và CH3-CH2-OH
B. CH3-CH2-OH và C3H7OH
C. C3H7OH và C4H9OH
D. CH3-CH2-OH và C4H9OH
Câu 29:
Cho 0,1 mol rượu X phản ứng hết với Na dư thu được 2,24 lít khí H2 (đktc).
Số nhóm chức -OH của rượu X là
A. 3. B. 1. C. 4. D. 2.
Câu 30:
Để phân biệt 3 chất lỏng: Rượu etylic, glixerin và dd phenol, ta dùng thí
nghiệm nào:
I/ Thí nghiệm 1 dùng NaOH và thí nghiệm 2 dùng .
II/ Thí nghiệm 1 dùng dd và thí nghiệm 2 dùng .
III/Thí nghiệm 1 dùng Na và thí nghiệm 2 dùng dd .

A. I, II
B. I, III
C. II, III
D. Chỉ dùng II.
Câu31: Hai hợp chất hữu cơ A và B có cùng CTPT. A phản ứng
với Na cho H2 bay ra, B không phản ứng với Na. Đốt cháy hoàn
toàn 13,8g (A) thu được 26,4g CO2 và 16,2 g H2O. Tỉ khối hơi của
A so với H2 bằng 23. Tên của A và B lần lượt là:
A. ancol etylic và dimetylete
B. ancol etylic và dietylete
C. ancol propylic và etyl metyl ete
D. ancol butylic và dietylete
Câu 32:
Khi đun nóng dẫn xuất halogen X với dung dịch NaOH
tạo thành hợp chất anđehit axetic . Tên của hợp chất X là :
A. 1,2- đibroetan
B. 1,1- đibroetan .
C. etyl clorua
D. A và B đúng .
Câu 33:
Một hợp chất hữu cơ Z có % khối lượng của C , H , Cl lần
lượt là : 14,28% ; 1,19% ; 84,53% .CTPT của Z là :
A.CHCl2
B.C2H2Cl4
C.C2H4Cl2
D. một kết quả khác.
Câu 34:
Sự tách hidro halogenua của dẫn xuất halogen X có
CTPT C4H9Cl cho 2 olefin đồng phân , X là chất nào trong những
chất sau :
A. n- butyl clorua
B.sec-butyl clorua .
C. iso- butyl clorua
D.tert – butyl clorua .
Câu 35:
Cho các chất sau: CH3OH, C2H5OH, CH3OCH3 , H2O
Trong cùng điều kiện, nhiệt độ sôi của các chất theo chiều tăng
dần là:
A. CH3OH < C2H5OH < CH3OCH3 < H2O
B. H2O < CH3OH < C2H5OH < CH3OCH3
C. CH3OCH3 < H2O < CH3OH < C2H5OH
D. CH3OCH3 < CH3OH < C2H5OH < H2O
Câu36: Khi cho 1,1-điclopropan tác dụng với dd NaOH đun nóng
thì sản phẩm hữu cơ thu được là :
A. propan-2,2-điol
B. anđehit propionic
C. axeton D. propan-1,2-điol
Câu 37:
Chỉ dùng thuốc thử duy nhất nào sau đây nhận biết ancol
etylic, phenol và anđehit axetic:
A. Quỳ tím
B. dd Br2
C. dd AgNO3/ dd NH3
D. dd HCl
Câu38 : Cho sơ đồ sau đây :
X , Y , Z lần lượt là :
A. axetilen ; etan ; 1,1- đibrometan.
B. anđehit axetic ; ancol etylic ; 1,2- đibrometan.
Câu 39:
Chất nào là dẫn xuất halogen của hiđrocacbon ?
Chọn câu trả lời đúng
A. CH
3
-CH
2
-Mg-Br
B. Cl-CH
2
-COOH
C. CH
3
-CO-Cl

D. C
6
H
5
-CH
2
-Cl
Câu 40:
Công thức cấu tạo của ancol đơn chức A có tỉ khối so với hiđro bằng 16 là
Chọn câu trả lời đúng
D. CH
2
=CHCH
2
OH
E. B. CH
3
CH(CH
3
)OH
F. CH
3
OH
G. . CH
3
CH
2
OH
H.
Câu 41: Ancol nào dưới đây khi oxi hóa không hoàn toàn tạo ra xeton?
Chọn câu trả lời đúng
A. Ancol iso-butylic.
B. Ancol butylic.
C. Ancol tert-butylic
D. Ancol sec-butylic
Câu 42:
Ancol nào dưới đây thuộc dãy đồng đẳng có công thức chung C
n
H
2n
O ?
Chọn câu trả lời đúng
A. CH
2
=CH-CH
2
OH
B. . CH
3
CH
2
OH
C. . CH
2
OH-CH
2
OH
D. C
6
H
5
CH
2
OH
Câu 43:
Phản ứng nào dưới đây là đúng:
Chọn câu trả lời đúng
. A. 2C
6
H
5
ONa + CO
2
+ H
2
O C
6
H
5
OH + Na
2
CO
3
B. C
6
H
5
OH + NaOH C
6
H
5
ONa + H
2
O
C. C
6
H
5
OH + HCl C
6
H
5
Cl + H
2
O
Câu 44:
Ancol etylic có thể điều chế trực tiếp từ
A. etylen glycol
B. metan.
C. etanal
D. dung dịch saccarozơ.
Câu 45:
Để điều chế etilen người ta đun nóng ancol etylic với
H2SO4đặc ở 170oC, thu được 2 lit etilen (đkc), biết H = 60% (Dancol
nguyên chất = 0,8g/ml) thì thể tích ancol cần dùng
A. 9,35 ml B. 10,5ml
C. 8,56ml D. 9ml.
V, đáp án

Thứ Ba, 22 tháng 4, 2014

nghệ thuật


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "nghệ thuật": http://123doc.vn/document/569682-nghe-thuat.htm


Hình thức bao gồm các khía cạnh cấu trúc, kết cấu, xây dựng thể loại của nghệ thuật, nó gắn với nội dung và đôi
khi trở thành nội dung một cách trực tiếp. Hình thức cũng có thể là phương tiện vật chất được tổ chức theo một
cách thức nhất định để thể hiện nội dung.
Bố cục là phương thức xây dựng tác phẩm nghệ thuật, là nguyên tắc liên hệ giữa các thành tố và bộ phận cùng
kiểu và khác loại cho nhất trí với nhau và với chỉnh thể.
Cốt truyện là tổng hoà các sự kiện có liên hệ liền nhau theo thời gian và không gian, được miêu tả trong tác
phẩm.
Trong các loại hình nghệ thuật không gian (kiến trúc, điêu khắc) thì yếu tố không gian chuyển hóa thành nội dung
trực tiếp. Trong các loại hình nghệ thuật thời gian (văn chương, âm nhạc), yếu tố không gian chuyển hóa thành
nội dung gián tiếp. Ngược lại, thời gian nghệ thuật trở thành nội dung trực tiếp trong các nghệ thuật thiên về thời
gian và thành nội dung gián tiếp trong các loại hình thiên về không gian.
Chất liệu nghệ thuật là cơ sở vật chất của tác phẩm nghệ thuật, nhờ nó mà ý đồ nghệ thuật đươc khách quan
hóa, ta thường gặp các chất liệu như ngôn từ, vật liệu, đạo cụ nhà hát, sàn sân khấu, trường quay… Việc sử dụng
chất liệu nghệ thuật phụ thuộc vào ý đồ, thiên hướng, phong cách của nghệ sĩ.
Ngôn ngữ nghệ thuật là hệ thống các phương tiện vật chất biểu hiện ở một loại hình nghệ thuật nhất định. Thí
dụ, ngôn ngữ nghệ thuật của hội họa là màu sắc, bút pháp, bố cục, chiều sâu trên mặt phẳng…; ngôn ngữ nghệ
thuật của thơ ca là ngữ điệu, âm điệu, vần luật, âm hưởng, ngữ âm…
Giữa nội dung và hình thức nghệ thuật có sự thông nhất biện chứng, biểu hiện ở chỗ: Nội dung là nội dung của
hình thức, hình thức là hình thức của nội dung nhất định.
Nội dung nghệ thuật đóng vai trò chủ đạo, quyết định đối với hình thức nghệ thuật. Khi nội dung thay đổi thì hình
thức cũng thay đổi theo.
Nội dung có xu hướng đổi mới thường xuyên, bởi nó gắn bó trực tiếp hơn đối với thực tại đang phát triển và trạng
thái tinh thần của nghệ sĩ. Trong khi đó, hình thức kém năng động hơn, có xu hướng tụt lại sau nội dung, kìm
hãm sự phát triển của nội dungg. Chính vì vậy hình thức có ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến nội dung.
Các loại hình nghệ thuật và cách thưởng thức nghệ thuật
Thưởng thức nghệ thuật là thưởng thức các tác phẩm cụ thể, với một loại hình cụ thể.
Nghệ thuật có một số loại hình sau:
- Kiến trúc, điêu khắc, hội họa (thuộc nhóm nghệ thuật không gian)
- Văn học, kịch, âm nhạc (thuộc nghệ thuật thời gian)
- Múa, điện ảnh, phim truyền hình, sân khấu truyền hình…(thuộc các nghệ thuật không - thời gian).
Kiến trúc:
Lúc đầu con người sống trong các hang động, nhưng sau con người phát triển lên, nhiều lên hang động không
còn phù hợp nữa. Con người đã xuống đồng bằng và miền biển, nên họ tìm cách làm nhà để ở. Lúc đầu là sự mô
phỏng tự nhiên hang động và không gian sinh tồn của loài vật. Sau đó là sự sáng tạo kết hợp giữa cái tự nhiên và
tưởng tượng của con người. Nghệ thuật kiến trúc ra đời từ đó.
Như vậy, Kiến trúc là một nghệ thuật nhằm kết hợp cái đẹp với cái thực dụng để sáng tạo không gian sinh tồn
của con người.
Tất nhiên, cần hiểu hai cấp độ “không gian sinh tồn của con người”. Ở cấp độ thực dụng, đó là kiến trúc thỏa
mãn nhu cầu vật chất: nhà ở, cửa hàng, bến xe, bến cảng, nhà máy, xí nghiệp… Ở cấp độ sáng tạo “không gian
sinh tồn tinh thần”, kiến trúc thỏa mãn nhu cầu văn hóa như: rạp hát, quảng trường, công viên, đền, chùa, tháp,
nhà thờ…
Ngay từ thời cổ Hy Lạp, cách ta khoản 2.600 năm, con người đã xây dựng được một quần thể kiến trúc trên đồi
Acrôpôn. Trong quần thể này, có điện Páctênông (thờ thần Mặt trời), Điện Êrectêiông, Miếu thờ Nữ thần chiến
thắng (Nikê), và Cổng Prôpilây (một bản Sônát bằng đá). Ở Pháp có nhà thờ Đức Bà ở Pari. Ấn Độ có Taj Mahan,
Khajurahô, Xăng chi…Ở Việt Nam có chùa Tây Phương, chùa Bút Tháp, Nhà thờ lớn, Nhà thờ Kẻ Sặt…
Kiến trúc bao gồm các loại công trình nhà cửa, pháo đài, lăng mộ, nhà thờ, đền đài với các vật liệu khác nhau
như: gỗ, đã, kim loại… Kiến trúc phản ánh tư tưởng về cái đẹp thông qua việc tạo ra cảm xúc hoành tráng, cao
cả, nhỏ bé, âm u, tươi sáng, ấm áp hay lạnh lẽo. Nên không thể hiện phẩm chất thẩm mỹ và tư tưởng thì đó chỉ
là xây dựng đơn giản mà thôi.
Vì vậy, khi thưởng thức công trình kiến trúc, rất cần chú ý tới giá trị thẩm mỹ và giá trị sử dụng. Thưởng thức một
công trình kiến trúc là thưởng thức tổng thể các khía cạnh của nó như: sự chiếm lĩnh hợp lý của công trình trong
không gian; quy mô và tỷ lệ, hình tượng và phong cách, ý nghĩa tinh thần xã hội…
Điêu khắc:
Điêu khắc là nghệ thuật tạo hình bằng cách phối mảng, khối, nét trong không gian đa chiều để biểu hiện các giá
trị tinh thần của con người cũng như các phương tiện của đời sống.
Điêu khắc còn chia ra thành: Tượng đài kỷ niệm mang tính hoành tráng, thường đặt ngoài trời. Tượng trang trí
(gắn vào công trình kiến trúc, hoặc đặt ở trong phòng)…
Điêu khắc còn phân chia theo chất liệu: tượng đá, tượng gỗ, tượng đồng, tượng xi măng, tượng đất nung…
Thông thường, điêu khắc không dùng màu để tô điểm mà để màu của chất liệu phô ra. Tượng đá cẩm thạch
trắng tạo nên cảm xúc trang trọng, tinh khiết nhưng bền vững. Tượng đá đen tạo nên cảm xúc thâm trầm, lắng
đọng. Tượng gỗ tạo nên sự ấm cúng, gần gũi. Tượng đồng đen tạo nên cảm giác uy nghiêm, khâm phục… cũng
có những tượng tô màu như: tượng Phật, tượng Chúa. Tượng phật của Việt Nam thường làm bằng gỗ mít. Tượng
làm xong đem phủ sơn ta. Màu sơn phủ màu cánh dán đỏ sẫm, như các tượng chùa Tây Phương, các tượng chùa
Phúc Khánh trước cửa bưu điện quận Đống Đa (Hà Nội), hoặc phủ màu đen hoàn toàn như tượng Tuyết sơn tại
chùa Bút Tháp (Hà Bắc)…
Như vậy, màu sắc trong điêu khắc không đóng vai trò là một phương tiện cơ bản, nó chỉ có tính chất bổ trợ. Ngôn
ngữ cơ bản của điêu khắc là khối, mảng, nét, để tạo nên hình thể - thực thể trong không gian trực tiếp. Điêu khắc
tạo nên hình tượng cảm quan của thị giác mang tính biểu cảm cả về hình thái lẫn tỉ lệ của cơ thể, cùng điệu bộ và
tư thế trong trạng thái sống của tinh thần thời đại.
Điêu khắc mang tính “đối thoại ngầm”, nhưng trực tiếp giữa hình tượng và người xem. Chính vì thế, tượng vua
Quang Trung đặt ở sau gò Đống Đa bị khuất quá nên giảm tính đối thoại với con cháu đương thời.
Hội họa:
Là nghệ thuật của màu sắc, đường nét, sáng tối, được bố cục trong mặt phẳng, hội hoạ còn được tôn vinh là “bà
chúa” của cái đẹp màu sắc, quả thật chưa có nghệ thuật nào đòi quyền so sánh với hội họa trong lĩnh vực biểu
hiện sự phong phú của cuộc sống qua màu sắc.
Hội họa dùng các biện pháp phối màu, tạo hòa điệu hoặc đối chọi sáng, tối; tạo nhịp điệu của đường nét và hình
thái trong kết cấu tĩnh hoặc động để tạo nên sức mạnh biểu cảm.
Hội họa là nghệ thuật phát triển khả năng thưởng ngoạn tối đa của thị giác trực tiếp và cảm quan cụ thể đối với
nhân vật là hiện tượng tái hiện trong tranh.
Hội họa còn là một “lát cắt ngang” bắt cuộc sống dừng lại trong “khoảnh khắc” để vấn hỏi con người. Tác phẩm
Marát của danh họa Đavít (Pháp) cho ta thấy cái giây phút Marát vừa bị kẻ thù đâm chết. Máu đã loang đỏ trong
bồn tắm, đầu ông đã nghẹo sang một bên, nhưng tay phải vẫn chưa rời cây bút, tay trái vẫn chưa rời bức thư.
Song, qua khoảnh khắc này, Đavít đã thành công trong ý tưởng muốn thể hiện một mẫu người công dân anh
hùng - đến chết vẫn không rời nhiệm vụ.
Hội họa chia ra thành hội họa hoành tráng và hội họa giá vẽ. Loại hoành tráng kết hợp với kiến trúc nơi công
cộng. Loại này dùng các chất liệu bền vững để thể hiện như: ghép đá màu, ghép gốm, ghép đồng, có nơi dùng
vàng, bạc, đá quý để tạo nên các tranh thánh. Loại giá vẽ thể hiện một mặt nào đó của cuộc sống con người,
nhưng kích cỡ, cỡ vừa đủ treo được lên tường, trong phòng.
Người ta còn chia hội họa theo chất liệu như: tranh sơn dầu, tranh sơn mài, tranh lụa… Còn chia theo chủ đề
hoặc theo đối tượng thể hiện như: tranh phong cảnh, tranh lịch sử, tranh tĩnh vật, tranh chân dung, tranh thờ,
tranh cổ động, tranh minh họa sách báo…
Âm nhạc:
Âm nhạc là nghệ thuật thính giác, chuyên sử dụng âm thanh; cụ thể là nó sử dụng cơ cấu giai điệu, âm điệu, nhịp
điệu, âm sắc, cường độ…được phát ra từ giọng nói con ngươi, gắn liền với ngôn ngữ và lệ thuộc một mức độ
quan trọng vào ngôn ngữ; hoặc phát ra từ những công cụ nhân tạo đặc thù (gọi là nhạc cụ) – các nhạc cụ này
thực chất phù hợp rất nhiều với những quy luật âm thanh thuộc giọng người.
Sức biểu hiện của âm nhạc là sức chở nội dung cảm xúc, tình cảm, hình tượng mang tính thẩm mỹ cao của các
âm thanh, có ý nghĩa nhân văn.
Con người chỉ có hai cửa ngõ tâm hồn quan trọng nhất để giao tiếp thẩm mỹ là thị giác (mắt) và thính giác (tai).
Qua cửa ngõ thị giác, có tới hầu hết các loại hình nghệ thuật cùng đi chung như: kiến trúc, điêu khắc, hội họa,
múa… còn cửa ngõ thứ hai – thính giác, là cửa ngõ ưu tiên gần như hoàn toàn giành cho âm nhạc.
Hình tượng âm nhạc mang tính trừu tượng hơn và cũng trực tiếp hơn so với các loại hình nghệ thuật khác. Nghệ
thuật nào cũng hướng tới tâm hồn con người, nhưng âm nhạc là “ngôn ngữ trực tiếp của tâm hồn”, nó gõ vào tận
ngóc ngách của tâm linh. Chính vì thế, ngay từ thời cổ đại, nhà triết học kiêm toán học Pitago đã dùng âm nhạc
để chữa bệnh. Âm nhạc có thể biểu hiện những tâm trạng tế nhị, xa xăm cho đến những tư tưởng xã hội có ý
nghĩa lớn.
Âm nhạc đòi hỏi sự phát triển của đề tài, chủ đề và hình tượng liên tục trong thời gian.
Âm nhạc chia ra thành các loại thể: ca khúc, ca kịch, nhạc kịch, thanh nhạc, khí nhạc…
Hình thức “tinh khiết” điển hình của âm nhạc là khí nhạc. Hình thức “đồ sộ” của âm nhạc là giao hưởng. Nổi bật
có thể kể tới bản giao hưởng “Định mệnh” của Bettôven; bản giao hưởng số 6 của Traikốpxki; bản giao hưởng số
7 của Sôxtacôvích.
Bản giao hưởng “định mệnh” của Bettôven mở đầu băng tiếng gõ cửa và kết thúc cũng bằng tiếng gõ cửa ấy. Chủ
đề âm nhạc được triển khai từ tiếng gõ cửa này: cảm giác như con người đang sống trong căn phòng ấm áp của
mình, bỗng “định mệnh” đến gõ cửa; nó xo vào, dồn con người tới sát góc tường. Sau con người tổ chức lại, hợp
sức lại, đuổi được “định mệnh ra khỏi cửa; nó bật ra rồi, nhưng còn cố ngoái lại bảo rằng: “Nếu con người không
cảnh giác, một ngày kia nó sẽ qua trở lại”. Toàn bộ giao hưởng thể hiện một tinh thần anh hùng cao cả, nhưng
cũng đầy kịch tính. Hình tượng mà tác phẩm Bettôven muốn phản ánh là những biến cố cách mạng 1789 – 1794,
thời đại xuất hiện vai trò của quần chúng nhân dân, thời đại của những xung đột quân sự, kinh tế, chính trị, mà
kết quả rất quan trọng là dẫn tới sự hình thành ý thức dân tộc của các nước Châu Âu.
Âm nhạc có vai trò rất lớn đối với đời sống tinh thần, đặc biệt ảnh hưởng tới nhịp điệu sống sôi nổi, mạnh mẽ,
năng động không ngừng của thế hệ trẻ hôm nay. Với những phương tiện hiện đại, như các loại máy thu phát âm
nhạc, âm thanh đủ kiểu, nhất là âm thanh nổi đã nâng âm nhạc lên một vị trí cực kỳ quan trọng trong đời sống
hiện đại của con người.
Múa:
Là nghệ thuật tạo hình được xây dựng bằng những động tác chuyển động liên tục, giàu nhịp điệu, âm điệu, giàu
biểu cảm của chính cơ thể con người. nói một cách khác, múa là điêu khắc chuyển động trong nhịp điệu bằng
chất liệu của cơ thể diễn viên.
Múa không lời hoặc đi kèm với lời ca và nhạc đệm.
Múa chia làm nhiều loại: múa dân gian, múa cung đình. Múa giải trí (vũ hội), kịch múa… Cao nhất là vũ balê. Vũ
balê nảy sinh vào thế kỷ thứ XVIII. Balê là sự kết hợp nhảy múa với kịch câm. Balê cũng có thể coi là thành quả
kỹ thuật nhảy múa điêu luyện, tinh vi, phức tạp, kết hợp với âm nhạc tuyệt vời, nhằm diễn đạt những nội dung
đầy kịch tính, sâu xa, mãnh liệt của thế giới cảm xúc, của tình cảm muôn vẻ, và của cả tinh thần cao quý, đồ sộ
trong tâm hồn con người.
Với thành tựu âm nhạc của Traicốpxki, vũ balê đã mang theo tầm rộng lớn của nhạc giao hưởng, đó là sự hợp tấu
cực kỳ phong phú và tuyệt diệu về giai điệu.
Ở Việt Nam, nghệ thuật múa chưa thật sự phát triển. Trong kho tàng múa truyền thống, các dân tộc ít người của
ta lại có những điệu múa độc đáo. Người Thái, người Hơmông, các dân tộc vung Tây Nguyên, đều có những điệu
múa mang phong cách riêng. Song các động tác múa của các dân tộc anh em còn đơn giản, mang nặng tính trần
thuật, tính biểu cảm chưa cao.
Kịch:
Kịch là nghệ thuật tái hiện các cảnh huống của cuộc đời, các tính cách, các số phận con người đang hành động
trong hành lang của một cốt truyện đầy xung đột, với một bối cảnh thẩm mỹ nghiêm ngặt của không gian sân
khấu qua diễn xuất của diễn viên.
Thời cổ đại Hy Lạp, nhà mỹ học Aristốt (384 – 322 trước công nguyên) cho rằng, kịch có sáu phần cơ bản: cốt
truyện, tính cách, văn từ, ca khúc, trang trí, tư tưởng.
Như vậy kịch là một loại hình nghệ thuật mà ngoài âm nhạc, hội họa ra còn là những phương tiện để biểu đạt.
Muốn xây dựng một vở kịch, trước hết phải có kịch bản. Kịch bản phải dựa vào văn học, nên người ta thường gọi
là kịch bản văn học. Trong kịch bản văn học có cốt truyện, có văn từ. Kịch bản phải biểu hiện các tính chất của
nhân vật đang hành động. Các tính chất của các nhân vật đang hành động khác nhau nên làm thành các số phận
khác nhau. Các tính chất của các nhân vật bộc lộ thành các tính cách có cá tính khác nhau và va chạm với nhau.
Va chạm mạnh sẽ dẫn đến mâu thuẫn, mâu thuẫn gay gắt dẫn tới xung đột. Chính vì thế, kịch diễn ra ba bước: 1)
Thắt nút (các nhân vật có tính cách mạnh khi hành động đã va chạm với nhau), 2) Cao trào (va chạm mạnh mẽ
dẫn tới mâu thuẫn gay gắt và kéo thành xung đột), 3) Mở nút: xung đột được giải quyết (khi thì hòa bình, khi thì
dẫn tới cái chết của một trong hai phía xung đột với nhau, khi thì cả hai bên xung đột đều bị hủy hoại).
Vở Quan Âm Thị Kính là một vở chèo tuyệt tác Việt Nam có từ lâu đời. Thị kính lấy chồng là Thiện sĩ. Thị Kính nết
na, thùy mị, một lòng yêu thương chồng. Một tối, nàng ngồi vá áo; Thiện Sĩ ngả đầu đọc sách rồi ngủ thiếp đi.
Thị Kính thấy trên cằm chồng có chiếc râu mọc ngược; tiện có con dao nhỏ bổ trầu, Kính muốn lấy cái râu đó đi.
Nào ngờ Thiện Sĩ mở mắt, không biết trước sau, không thấu lòng vợ vu cho Thị Kính định giết chồng. Oan ức quá,
Thị Kính cắt tóc lên chùa giả trai nương cửa Phật. Trong làng có Thị Mầu (con gái phú ông) rất lẳng lơ, thấy chùa
có chú tiểu đẹp, ngày nào Thị cũng lên chùa tìm cách ghẹo Tiểu nhưng bị cự tuyệt. Khi Thị Mầu hoang thai, thị đổ
cho chú Tiểu. Tiểu Kính bị đẩy khỏi chùa, ôm bé ra ngoài cửa chùa lần hồi nuôi bé.
Cuối cùng một đêm mưa gió, rét buốt, Thị kính qua đời. Chỉ khi dân làng thay áo liệm cho “chú Tiểu”, người ta
mới biết tòan bộ nỗi oan cay nghiệt mà Thị Kính âm thầm chịu đựng bấy lâu từ nhà chồng đến ở chùa. Nỗi oan
của Thị Kính đến cửa Phật từ bi, bác ái đã đưa bà đến cõi Niết bàn.
Hiện nay ở nhiều chùa, trên bà thờ Phật, có tượng Thị Kính hiển Phật. Tượng này khác với các tượng Phật khác ở
chỗ, dưới chân bà có đứa bé, và phía trên bà có con vẹt (đó chính là anh chàng Thiện Sĩ) – một con vẹt hồ đồ
đến nỗi mất cả người vợ hiền.
Lối giải quyết xung đột của vở Quan Âm Thị Kính là lối kết thúc có hậu: “Ở hiền gặp lành, ác giả, ác báo”, đó là lối
kết thúc có đền đáp. Song cuộc đời rất đa dạng, lại cực kỳ phức tạp, không phải xung đột nào cũng được giải
quyết êm thấm, không phải số phận nào cũng được đền đáp. Khi con người bắt đầu bước vào chế độ tư bản,
những mâu thuẫn giữa người với người càng trở nên gay gắt, vì thế, ngay từ thế kỷ XVII, nhà viết kịch người Anh
là Xếchpia đã sáng tạo ra loại “sân khấu trắng”, nghĩa là khi màn nhung sắp sửa khép lại thì các nhân vật chính
đều chết hết. Vở Ôtenlô, khi sắp kết thúc, người ta khênh ra tới bốn xác chết. Vở Hămlét cũng vậy. Hămlét chết,
Ôphelia chết, anh và cha Ôphêlia chết, hoàng hậu và tên đầu độc vua cũng chết hết.
Kịch được chia thành nhiều loại thể: kịch nói, kịch hát, nhạc kịch (Ôpêra), vũ kịch…Trong kho tàng nghệ thuật dân
tộc, chúng ta có chèo, tuồng, cải lương – đều thuộc loại thể kịch hát. Chèo là sản phẩm sáng tạo điển hình của
đồng bằng Bắc Bộ. Tuồng tuy có “Tuồng Bắc”, “tuồng Nam”, nhưng nói đến tuồng là nói đến sản phẩm sáng tạo
điển hình của miền Trung. Còn cải lương là điển hình của sáng tạo Nam Bộ. Như vậy, rất công bình, mỗi miền
đóng góp vào kho tàng kịch hát dân tộc một loại thể độc đáo của mình làm nên sự phong phú của nền kịch hát
dân tộc.
Riêng kịch nói, khi chúng ta tiếp cận văn hóa Châu Âu – với cuộc sống có nhịp độ cao, với những xung đột gay
gắt, quyết liệt, bộc lộ trần trụi, kịch nói mới được hình thành ở nước ta. Các vở kịch nói đầu tiên ở nước ta là:
Chén thuốc độc của Vũ Đình Long (diễn buổi đầu tiên vào tối 22/10/1922 tại Nhà hát lớn Hà Nội đã được công
chúng nhiệt liệt tán thưởng). Sau đó, Vũ Đình Long lại cho ra đời tiếp vở: Tòa án lương tâm, Tây sương tân kịch.
Nguyễn Hữu Kim có các vở: Bạn và vợ, Thủ phạm là tôi, Giời đất mới. Vi Huyền Đắc sáng tác các vở: Uyên ương,
Hoáng Mộng Điệp, Hai tối tân hôn. Nhà viết kịch Nam Xương có các vở: Ông Tây An nam, Chàng ngốc. Trương Ái
Chủng có vở: Nghi ngốc. Đoàn Châu có: Dây oan…
Điện ảnh:
Có nhiều cách biểu hiện về điện ảnh:
- “Điện ảnh là nhiếp ảnh di động”.
- Điện ảnh là “nghệ thuật biến hình tượng tạo hình (hội họa, điêu khắc) đang từ bất động thành hình tượng
chuyển động phát triển trong thời gian”.
- Điện ảnh là “nghệ thuật sân khấu được trải rộng theo tòan bộ không gian và thời gian cuộc đời. Với điện ảnh,
toàn bộ cuộc đời là một sân khấu”.
- “Điện ảnh là nghệ thuật tái hiện hệ thống hình ảnh về cảm giác nổi đang chuyển động trong không gian ba
chiều”…
Các cách hiểu này có phần đúng, nhưng chưa tòan diện. Thực chất, điện ảnh là một nghệ thuật tổng hợp – nó
thu hút tất cả các nghệ thuật khác, biến chúng thành phương tiện biểu hiện, rồi kết hợp chặt chẽ với kỹ thuật
(phương tiện mang tính công nghệ), nhằm tái hiện cảm giác về các hình nổi trong không gian ba chiều đang diễn
ra một cách đầy cảm xúc, đầy biểu tượng, một cách liên tục, tòan diện về hoàn cảnh tạo ra biến cố, tạo ra tính
cách và số phận con người.
Nói một cách ngắn gọn, ta có thể thâu tóm bản chất của điện ảnh vào một hệ thống ba thành tố: 1) Tất cả các
nghệ thuật, 2) Kỹ thuật, 3) Hình tượng thị giác nổi và chuyển động (= điện ảnh). Như vậy, tất cả các nghệ thuật
khác đều bị hút vào điện ảnh như: văn hcọ (kịch bản điện ảnh), hội họa (trong phim màu, ta có cảm giác được
xem các bức tranh mầu chuyển động), điêu khắc (qua diễn viên), kiến trúc, kịch, âm nhạc, múa…
Biện pháp quan trọng nhất của điện ảnh là biện pháp dựng phim – thống hợp các cảnh, các đoạn đã quay từng
phần thành một chỉnh thể tác phẩm. Như vậy, dựng phim là một tất yếu thẩm mỹ của điện ảnh. Với dựng phim lại
càng chứng tỏ cách định nghĩa Điện ảnh bằng hệ thống ba thành tố là đúng.
Vì điện ảnh là một nghệ thuật tổng hợp, nên thành công của một bộ phim cũng là thành công của hàng loạt nghệ
sĩ, đạo diễn (đóng vai trò chủ chốt), biên kịch (viết kịch bản), diễn viên (trong điện ảnh ta chỉ thấy hình tượng
diễn viên chứ không phải bản thân diễn viên như trong kịch), quay phim, dựng phim, họa sĩ, nhạc sĩ, âm thanh,
ánh sáng…
Điện ảnh được chia ra: phim truyện, phim thời sự (theo tính thẩm mỹ và tính thông tin). Điện ảnh có thể chia
theo phương diện kỹ thuật như: phim trắng đen, phim màu, phim màn ảnh hẹp, phim màn ảnh rộng, điện ảnh
toàn cảnh, v.v…Riêng các thể loại còn chia theo đề tài, chủ đề như: Phim truyện có: phim lịch sử, phim “đời
thường” (về cuộc đời đang diễn ra), phim bi kịch, phim trinh thám, phim kinh dị, v.v…
Điện ảnh còn có những thể loại độc đáo như phim hoạt hình, phim búp bê. Hai thể loại này đều dựa trên nghệ
thuât tạo hình (tạo hình hội hoạ, và tạo hình con rối) được kết hợp với kỹ thuật quay và kỹ thuật diễn.
Điện ảnh là một nghệ thuật hấp dẫn và phổ biến nhất, sức tiệu thụ của xã hội cũng cao nhất. Đặc biệt khi kỹ
thuật Tivi và Video ra đời, nó tạo điều kiện cho khán giả thưởng thức rất tiện lợi các thành tựu của điện ảnh.
Văn học:
Trong số các loại hình nghệ thuật, văn học là một nghệ thuật khó định nghĩa nhất. Cũng vì văn học có vai trò rất
lớn trong xã hội nên các nhà nghệ thuật học đã tách văn học thành một lĩnh vực riêng, người ta thường nói “văn
học” và “nghệ thuật”. Như vậy, bảy nghệ thuật gộp chung lại còn văn học được “sánh vai” với cả bảy nghệ thuật
đó.
Sự phân chia như trên quả là có lý. Bời vì rất nhiều người không làm nhạc,diễn kịch, vẽ tranh, nhảy múa, v.v…
nhưng ai cũng có lúc làm văn học: cụ già kể chuyện cổ tích cho cháu nghe. Cháu bé mô tả lại câu chuyện của bà
mới kể tối qua cho bạn mình nghe. Vào trường các em phải học hai môn đầu tiên là văn và toán, v.v…
Như vậy, văn học thấm vào tất cả cuộc đời. Hơn thế các loại hình nghệ thuật đều phải có “chất văn”. Muốn dựng
phim hay, trước hết phải có kịch bản phim hấp dẫn. Muốn diễn kịch phải có kịch bản văn học hay. Muốn có chủ
đề sâu sắc, có tính triết luận cao như tác phẩm “thần tự do trên chiến luỹ”, hoạ sỹ Đờlacroa đã dựa vào văn học
của Vichtô Huygô. Để có họa phẩm như bức thần vệ nữ và thần sao hoả, danh hoạ Giooc Giôn đã dựa vào thần
thoại Hy Lạp cổ đại, v.v… Ngay nhạc không lời của bản giao hưởng số 3 của Bêttoven, bản giao hưởng số 6 của
Traicôpxki, v.v… đều có chất “văn ngầm” ở bên trong. Không có “chất văn” làm nền, không một nghệ thuật nào
có thể tồn tại được.
Thời cổ Phường Đông, các nhà nho cho rằng, Văn là để tải đạo “Văn dĩ tải đạo”; thơ để nói đến cái chí “thi dĩ
ngôn chí”.
Đến Nguyễn Đình Chiểu đã có một quan niệm mới về văn học. Cụ cho rằng, Văn để tải đạo, nhưng văn còn để
vạch mặt bọn gian ác, tay sai cho giặc:
“Chở bao nhiêu đạo thuyền không khảm
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”
Các nhà thơ lãng mạn chạy theo quan điểm “nghệ thuật vị nghệ thuật” nên đã xa rời thực tại:
“Là thi sĩ nghĩa là ru với gió
Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây”
Hoặc ví mình như một thứ chim lạ:
“Tôi là con chim
Đến từ núi lạ
Ngứa cổ hót chơi
Yêu tự nhiên nào biết sao ca
Tiếng to nhỏ chẳng xui chùm trái chín
Khúc huy hoàng không giúp nở hoa
Tôi réo rắt chẳng qua trời bắt vậy…”
(Xuân Diệu – Gửi hương cho gió)
Như thế, theo các nhà lãng mạn, họ là “đặc sản” của trời; nếu con tằm phải nhả tơ, con ong phải làm mật, thì thi
sĩ phải “réo rắt” thế thôi.
- Đến thời cách mạng, Bác Hồ đưa ra một quan niệm văn học mới, văn học chiến đấu cho Độc Lập - Tự Do- hạnh
Phúc - của Tổ Quốc và của nhân dân:
“Thơ xưa yêu cảnh thiên nhiên đẹp
Mây gió trăng hoa tuyết núi sông
Nay ở trong thơ nên có thép
Nhà thơ cũng phải biết xung phong
Sau này, qua hai câu nói về thơ của Bác, Hoàng Trung Thông đã khái quát được cả bản chất nền văn học cách
mạng và kháng chiến của Việt Nam:
“Vần thơ của Bác vần thơ thép
Mà vẫn mênh mông bát ngát tình”.
Như thế, văn học cách mạng và văn học kháng chiến của ta có hai phẩm chất: chất chiến đấu và thấm đẫm một
tình cảm bao la về dân tộc, về con người.
Song, qua tất cả các quan niệm về văn học, về thơ vừa nói, các bậc tiền bối mới chủ yếu nói về chức năng của
văn học, đặc biệt nhấn mạnh tác dụng xã hội, tình cảm của văn học, chưa đi sâu vào cấu trúc bản thể của văn
học.
Thực ra, văn học là nghệ thuật dùng ngôn từ (viết và nói) của chính con người làm phương tiện, đồng thời làm
thành chất mỹ cảm để tạo ra sự liên tưởng thẩm mỹ, tái hiện lại các tri giác, các biểu tượng về các sự kiện, các
biến cố, các xung đột ảnh hưởng đến số phận của con người, của lịch sử để con người cảm nhận chúng, đánh giá
chúng và tự định hướng cho mình theo lý tưởng cái đẹp và cái cao cả.
Tất cả các nghệ thuật khác đều ít nhiều có tính trực tiếp tác động hình ảnh lên thị giác, hoặc thính giác của con
người. Riêng văn học lại là một nghệ thuật gián tiếp, nó phải thông qua một phương tiện biểu đạt mà Mác gọi là
cái vỏ vật chất của tư duy đó là ngôn ngữ, để người đọc, (hoặc người kể) hình dung lại, rồi tái hiện ra trong đầu
óc, trong tâm hồn mình, cái điều mà ngôn ngữ đã “trần thuật”. Nào ai đã được xem Kiều tắm, nhưng qua bốn câu
thơ của Nguyễn Du:
“Buồng the phải buổi thong dong
Thang lan rủ bức trướng hồng tẩm hoa,
Rõ màu trong ngọc trắng ngà,
Dày dày sẵn đúc một toà thiên nhiên.
Bốn câu thơ này, nếu đứng ở góc độ ngôn ngữ thông thường, ta có cái “thông tin” cơ bản sau: Buồng the (buồng
của phụ nữ), Thong dong (rỗi rãi), Thang lan (nước tắm thơm mùi sả), Trướng hồng (màn che màu hồng), Đúc
(làm nên, tạo nên), v.v…
Đứng về phương diện văn học, các “thông tin” trên được biểu hiện theo lụât liên kết các biểu tượng về thanh âm
thẩm mỹ, tạo thành hình tượng một bức tranh tuyệt đẹp: Kiều đang tắm trong buồng riêng. Nàng tắm nước là
thơm, nước bốc hơi quanh màn như một “bức trướng hồng tẩm hoa”. Vẻ đẹp của nàng ẩn hiện, “trong như ngọc,
trắng như ngà”, đoa là một kiệt tác có một không hai của tạo hoá.
Thời đổi mới có một số nhà phê bình mỹ thuật chê các hoạ sĩ trẻ của ta học đòi phương Tây vẽ tranh khỏa thân.
Cái lỗi không phải là vẽ tranh khoả thân hay không khoả thân, mà ở chỗ vẽ có thanh nhã, có nghệ thuật bậc cao
hay không? Qua truyện Kiều, ta mới biết được “vẽ tranh” khoả thân đâu phải là mới. Cuối thế kỷ XVIII, Nguyễn
Du đã vẽ bằng nghệ thuật ngôn từ. Và qua cái vỏ ngôn ngữ, người đọc được nhà thơ Nguyễn Du giúp tái hiện lại
trong hình ảnh, màu sắc, mùi vị thơm tho quyện quanh người đẹp đang tắm. Đây chính là một trong những bản
chất của văn học.
Về thể loại, văn học chia thành: văn xuôi, thơ, kịch. Văn xuôi chia thành: ký sự, truyện ngắn, truyện vừa, tiểu
thuyết (riêng phóng sự ngày nay người ta có xu hướng xếp vào loại văn thông tấn, báo chí). Thơ chia thành: Thơ
sử thi, Thơ trữ tình, v.v…Kịch chia thành: Kịch tự sự (kịch văn xuôi) , kịch thơ (ở đây chỉ nói những tác phẩm kịch
mang giá trị văn học cao, chưa cần diễn, chỉ dọc thôi, người ta đã thoả mãn hoàn toàn về phương diện nó là một
tác phẩm văn học độc lập).
GIÁO DỤC THẨM MỸ
Bản chất của giáo dục thẩm mỹ
Khái niệm giáo dục thẩm mỹ trong mỹ học Mác – Lênin được xác định ở hai nghĩa:
Ở nghĩa hẹp, đó là giáo dục quy về cái đẹp: giáo dục cho con người biết thụ cảm, đánh giá và sáng tạo cái đẹp.
Ở nghĩa rộng, đó là sự giáo dục và tự giáo dục, phát huy mọi năng lực bản chất người theo quy luật của cái đẹp.
Như vậy, giáo dục thẩm mỹ tồn tại mọi lúc, mọi nơi trong cuộc sống, nó đồng nghĩa với sự hình thành thẩm mỹ.
Giáo dục thẩm mỹ bao giờ cũng nhằm làm hình thành một chủ thể thẩm mỹ biết hưởng thụ, đánh giá và sáng tạo
trên mọi mặt của cuộc sống theo quy luật của cái đẹp.
Như vậy, giáo dục thẩm mỹ theo nghĩa hẹp hay nghĩa rộng đều hướng tới làm cho con người phát triển phong
phú và hài hòa và làm cho văn hóa thẩm mỹ được xác lập trong các quan hệ xã hội.
Hay nói cách khác, bản chất của giáo dục thẩm mỹ theo quan điểm của mỹ học Mác – Lênin gắn liền với các hoạt
động sáng tạo, nghĩa là con người luôn hướng tới những giá trị mới. Giáo dục thẩm mỹ làm hình thái năng động
của chủ thể thẩm mỹ phát triển mạnh mẽ và tự do trên cơ sở nhân sinh quan và thế giới quan đúng đắn. Mỹ học
Mác – Lênin khẳng định giáo dục thẩm mỹ là một bộ phận hợp thành sự nghiệp giáo dục toàn xã hội. Nó gắn bó
chặt chẽ với giáo dục lao động, giáo dục chủ nghĩa yêu nước, tinh thần quốc tế và sự hài hoà giữa truyền thống
với hiện đại, cá nhân với xã hội, thể xác với tinh thần. Nhưng giáo dục thẩm mỹ có tính đặc thù khác với mọi
phương tiện giáo dục khác là ở bản chất của cái thẩm mỹ của nó. Tuy nhiên giáo dục thẩm mỹ và các hình thức
giáo dục khác có mối liên hệ biện chứng với nhau và đều có một mục đích chung đó là sự hoàn thiện nhân cách
con người.
Nội dung xã hội của giáo dục thẩm mỹ
Giáo dục thẩm mỹ mang nội dung xã hội sâu sắc trước hết phải nói đến tính dân tộc. Các chủ thể thẩm mỹ hưởng
thụ, đánh giá và sáng tạo cái đẹp bao giờ cũng ở một dân tộc nhất định. Xa rời nội dung tính dân tộc, giáo dục
thẩm mỹ sẽ đánh mất bản chất xã hội của nó.
Mỗi dân tộc trong xã hội có giai cấp đều có những quan hệ giai cấp khác nhau. Các tình cảm thẩm mỹ, thị hiếu
thẩm mỹ và lý tưởng thẩm mỹ của giai cấp đều phụ thuộc vào điều kiện sinh sống và mục tiêu giáo dục của giai
cấp đó. Trong xã hội có giai nhiều cấp khác nhau cùng tồn tại thì thước đo giá trị thẩm mỹ bao giờ cũng thuộc về
giai cấp thống trị.
Tĩnh xã hội của giáo dục thẩm mỹ còn gắn liền với tính thời đại, mỗi thời đại có mục tiêu, hình thức, biện pháp
giáo dục và xây dựng các chủ thể thẩm mỹ khác nhau. Thời nô lệ, phong kiến, tư bản và ngày nay, các chủ thể
đều mang dấu ấn của thời đại mình.
Các hình thức giáo dục thẩm mỹ
Giáo dục thẩm mỹ với chức năng mục đích:
Thứ nhất, tạo lập sự định hướng giá trị thẩm mỹ cho nhân cách; Thứ hai, phát triển năng lực sáng tạo thẩm mỹ
cho nhân cách ấy. Với chức năng và mục đích như vậy, đòi hỏi phải có hình thức giáo dục thẩm mỹ cho phù hợp.
Mỹ học Mác – Lênin khẳng định giáo dục thẩm mỹ gắn bó chặt chẽ với giáo dục lao động. Lao động trong xã hội,
trong cộng đồng là hình thức giáo dục thẩm mỹ đầu tiên. Ngoài việc lao động làm hoàn thiện con người ở cả mặt
vật chất lẫn tinh thần mà còn bởi lẽ lao động làm nảy sinh tình cảm con người, tình cảm cộng đồng, nó làm cho
con người quý trọng sản phẩm của bản thân mình cũng như của người khác trong xã hội. Từ đó, con người biết
quý trọng những giá trị kết tinh trong lao động, trong đó có giá trị thẩm mỹ. Hơn nữa, trong thực tiễn lao động xã
hội còn là cội nguồn của cảm hứng vô tận cho thưởng thức và mọi sự sáng tạo nghệ thuật với tư cách là đỉnh cao
của sáng tạo thẩm mỹ.
Hình thức giáo dục thẩm mỹ thứ hai là thông qua cải thiện môi trường thẩm mỹ, trong đó có văn hoá giao tiếp, ăn
mặc, quan hệ đối với vật dụng và với môi trường sống. Trong xã hội hiện đại, con người giữa biển rừng của tiện
nghi do mình tạo ra, môi trường tự nhiên dường như thu hẹp lại và nhỏ bé hơn. Vì vậy vấn đề mỹ thuật của công
nghệ, mỹ thuật của môi trường ngày càng trở nên quan trọng để tránh tình trạng kỹ trị, cơ giới một cách đơn
điệu, chật hẹp…những phẩm chất tinh thần của con người.
Hình thái giáo dục bằng nghệ thuật giữ vị trí trung tâm trong số các hình thức giáo dục thẩm mỹ. Có thể nói xuất
phát từ chức năng giáo dục của nghệ thuật nó còn là phương tiện của giáo dục thẩm mỹ. Nghệ thuật nhận ra, rút
ngắn, tập hợp các lối sống khác. Nghệ thuật hướng về cái đẹp, cái tốt mà giáo dục con người. Khác với các hình
thức giáo dục khác, nghệ thuật thông qua hình tượng của mình để cảm hoá con người. Các tác phẩm có nội dung
nhân đạo cao cả là những sáng tạo nghệ thuật có tư cách giáo dục tốt (và ngược lại). Giáo dục nghệ thuật còn có
thể tạo nên nhu cầu thưởng thức nghệ thuật ở mỗi con người, nó làm tăng khả năng cảm xúc, khơi gợi khả năng
sáng tạo của con người được tiếp xúc thường xuyên với nghệ thuật sẽ làm cho con người có tâm hồn thanh cao
hơn và tính người hơn.
Giáo dục thẩm mỹ bằng các tư tưởng mỹ học là hình thức giáo dục cao nhất, nó cung cấp cho chủ thể thẩm mỹ
những quan niệm cơ bản và đúng đắn để phân tích các giá trị thẩm mỹ. Giáo dục thẩm mỹ bằng các tư tưởng mỹ
học dặc biệt quan trọng đối với các chủ thể đánh giá và sáng tạo thẩm mỹ, nó sẽ tạo cơ sở để hình thành một thị
hiếu thẩm mỹ phát triển và lành mạnh, một lý tưởng thẩm mỹ cao đẹp để góp phần định hướng thẩm mỹ cho
chúng với tư cách là chủ thể thẩm mỹ.
Giáo dục thẩm mỹ là một bộ phận hợp thành sự nghiệp giáo dục trí, đức, thể mỹ của Đảng ta trong quá trình hình
thành nhân cách con người trong quá trình đổi mới. Các nguyên lý mỹ học Mác – Lênin soi sáng mục tiêu giáo dục
thẩm mỹ, hình thành sự phát triển hài hoà và toàn diện của con người ở đất nước ta trong giai đoạn hiện nay.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Phần III
NGHỆ THUẬT TỪ GÓC NHÌN THẨM MỸ
Chương I: ĐẶC TRƯNG CỦA NGHỆ
THUẬT
I.1. Nghệ thuật là gì?

 !"#  $%&'()&*+
 ,-$./01234567+(Theo nghĩa rộng
nhất, nghệ thuật đồng nghĩa với tài nghệ.8'%'.6+ 6
.6.'% 6 .6.96  (:$+*
$.;<=&;..>&(Hẹp
hơn và phổ biến hơn?$.+ ,-để chỉ mọi hoạt động, mọi
sản phẩm được sáng tạo theo qui luật của cái đẹp.6" @
!A@!BC=DEC=)F()
;@2F6=)F@?@'.6+
$.@./?(GH'$IJ'K.'
L2M 6B2.NL?@?techne.:;0.O
?;/! '.?  6M;$.6';23
;>+(PF@0?%?$Q2 6" +
6*@(:? $)(R'
+LS T=6F 'U ?VS .N TU
W+A%OXYY'+(
,:-theo nghĩa hẹp nhất, chặt chẽ nhất là chỉ hoạt động và thành phẩm
sáng tạo của người nghệ sỹ. Z.F.6 >.[MR '
# .6\(.\5@%O.@
"]5?()+A!./" 
,*??^-(_T?J()Nghệ thuật là gì?A.O`Y.\