Thứ Ba, 27 tháng 5, 2014

Tình hình Dịch vụ Du lịch Vịnh Hạ Long


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Tình hình Dịch vụ Du lịch Vịnh Hạ Long": http://123doc.vn/document/567522-tinh-hinh-dich-vu-du-lich-vinh-ha-long.htm


Giáo viên hướng dẫn: TS.Vũ Thị Hòa
c. Tính bền vững
Tính bền vững nói lên khả năng bền vững của các thành phần và bộ phận tự
nhiên trước áp lực của hoạt động du lịch và các hiện tượng tự nhiên tiêu cực
như thiên tai.
- Rất bền vững: Không có thành phần, bộ phận nào bị phá hoại. Khả năng tự
phục hồi cân bằng sinh thái môi trường nhanh, tài nguyên du lịch tự nhiên tồn
tại vững chắc, > 100 năm hoạt động du lịch diễn ra liên tục.
- Khá bền vững: Các thành phần hoặc bộ phận tự nhiên bị phá hoại không đáng
kể, có khả năng phục hồi nhanh, tài nguyên du lịch tự nhiên tồn tại vững chắc từ
20 - 100 năm, hoạt động du lịch diễn ra liên tục.
- Trung bình bền vững: Nếu có 1 - 2 bộ phận bị phá hoại đáng kể phải có sự trợ
giúp tích cực của con người mới hồi phục được. Thời hạn hoạt động từ 10 - 20
năm, hoạt động du lịch diễn ra bị hạn chế.
- Kém bền vững: Có 2 - 3 thành phần, bộ phận bị phá hoại nặng. Tồn tại vững
chắc dưới 10 năm, hoạt động du lịch bị gián đoạn.
d. Tính thời vụ
Thời vụ hoạt động du lịch được xác định bởi số thời gian thích hợp nhất trong
năm của các điều kiện khí hậu và thời tiết đối với sức khỏe của du khách và số
thời gian trong năm thuận lợi nhất cho việc triển khai các hoạt động du lịch.
Tính thời vụ của tài nguyên du lịch ảnh hưởng trực tiếp đến hướng khai thác
đầu tư quy hoạch kinh doanh du lịch được đánh giá cho tài nguyên tự nhiên và
nhân văn.
- Rất dài: triển khai du lịch suốt năm.
- Khá: 200 - 250 ngày.
- Trung bình: 100 - 200 ngày.
- Kém: < 100 ngày.
e. Tính liên kết
- Rất tốt: nếu có trên 5 điểm du lịch xung quanh để thực hiện liên kết.
- Khá: 3 - 5 điểm du lịch.
- Trung bình: 2 - 3 điểm du lịch.
- Kém: chỉ có một hoặc không có điểm du lịch nào xung quanh để liên kết được.
5
Phạm Thị Thanh Hoa - 1054010014
Giáo viên hướng dẫn: TS.Vũ Thị Hòa
1.1.5. Một số chỉ tiêu đánh giá cơ sở du lịch
a. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật
Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch có ý nghĩa rất quan trọng, ảnh
hưởng trực tiếp đến việc khai thác các tài nguyên và phục vụ khách du lịch. Cơ
sở hạ tầng và vật chất kỹ thuật du lịch được đánh giá bằng số lượng, chất lượng,
tính đồng bộ, các tiện nghi của cơ sở với các tiêu chuẩn của quốc gia.
- Rất tốt: Cơ sở hạ tầng và kỹ thuật đồng bộ, đủ tiện nghi đạt tiêu chuẩn quốc tế
> 3 sao.
- Khá: Đồng bộ, đủ tiện nghi đạt tiêu chuẩn quốc tế 1 - 2 sao.
- Trung bình: Có được một số cơ sở hạ tầng và vật chất kỹ thuật nhưng chưa
đồng bộ và chưa đủ tiện nghi.
- Kém: Còn thiếu nhiều cơ sở hạ tầng và vật chất kỹ thuật, nếu có thì chất lượng
thấp hoặc tạm thời thiếu hẳn thông tin liên lạc.
b. Sức chứa khách du lịch
Là tổng sức chứa lượng khách tại một điểm du lịch cho một đoàn khách du lịch
đến trong một ngày hợp đồng. Sức chứa khách du lịch phản ánh khả năng về
quy mô triển khai hoạt động du lịch tại mỗi điểm du lịch. Sức chứa khách du
lịch có liên quan chặt chẽ đến đặc điểm hoạt động của khách (số lượng, thời
gian), đến khả năng chịu đựng của môi trường tự nhiên, xã hội. Vì thế sức chứa
khách du lịch không phải theo xu thế càng nhiều càng tốt mà phải là càng phù
hợp càng tốt.
- Rất lớn: sức chứa trên 1000 người/ ngày .
- Khá lớn: sức chứa 500 - 1000 người/ ngày
- Trung bình: sức chứa 100 - 500 người/ ngày
- Kém: sức chứa dưới 100 người/ ngày
1.1.6. Chất lượng dịch vụ
Chất lượng dịch vụ được định nghĩa là nhận thức của khách hàng về chất lượng
dịch vụ của một hãng cụ thể nào đó dựa trên sự so sánh thành tích của hãng đó
trong việc cung cấp dịch vụ với sự mong đợi chung của khách hàng đối với tất
cả các hãng khác trong cùng ngành cung cấp dịch vụ.
6
Phạm Thị Thanh Hoa - 1054010014
Giáo viên hướng dẫn: TS.Vũ Thị Hòa
Chất lượng dịch vụ được đo lường bởi sự mong đợi và nhận định của khách
hàng với 5 nhóm yếu tố:
1. Sự tin cậy (Reliability): khả năng cung ứng dịch vụ đúng như đã hứa với
khách hàng.
2. Sự đáp ứng (Responsiveness): sự mong muốn và sẵn sàng của nhân viên
trong việc cung ứng dịch vụ nhanh chóng
3. Năng lực phục vụ (Assurance): thể hiện qua trình độ chuyên môn và thái
độ lịch sự, niềm nở với khách hàng
4. Sự đồng cảm (Empathy): sự phục vụ chu đáo, sự quan tâm đặc biệt đối
với khách hàng và khả năng am hiểu những nhu cầu riêng biệt của khách hàng
5. Yếu tố hữu hình (Tangibles): các phương tiện vật chất, trang thiết bị, tài
liệu quảng cáo… và bề ngoài của nhân viên của tổ chức du lịch.
1.1.7. Sự thỏa mãn
Sự thỏa mãn là mức độ trạng thái cảm giác của một người bắt đầu từ việc so
sánh kết quả thu được từ sản phẩm dịch vụ với những kì vọng của người đó
(Philip Kotler, 2001). Kỳ vọng được xem như là ước mong hay mong đợi của
con người. Nó bắt nguồn từ nhu cầu cá nhân, kinh nghiệm trước đó và thông tin
bên ngoài như quảng cáo, thông tin, truyền miệng từ bạn bè, gia đình Trong đó
nhu cầu cá nhân là yếu tố được hình thành từ nhận thức của con người mong
muốn thỏa mãn cái gì đó như nhu cầu thông tin liên lạc, ăn uống, nghỉ ngơi…
Như vậy dựa vào nhận thức về chất lượng dịch vụ, có thể chia sự thỏa mãn
thành ba mức độ cơ bản khác nhau:
+ Mức không hài lòng: Khi mức độ cảm nhận được của khách hàng nhỏ hơn kì
vọng
+ Mức hài lòng: Khi mức độ nhận được của khách hàng bằng kì vọng
+ Mức rất hài lòng và thích thú: Khi mức độ nhận được của khách hàng lớn hơn
kì vọng.
1.2 Giới thiệu chung về Vịnh Hạ Long
Quảng Ninh - một trong 3 đỉnh của tam giác phát triển kinh tế phía Bắc: Hà Nội
- Quảng Ninh - Hải Phòng, là một địa danh giàu tiềm năng du lịch.Quảng Ninh
sở hữu danh thắng nổi tiếng là Vịnh Hạ Long đã được UNESCO công nhận là
di sản thiên nhiên thế giới và di sản thế giới bởi giá trị địa chất địa mạo.Vịnh Hạ
7
Phạm Thị Thanh Hoa - 1054010014
Giáo viên hướng dẫn: TS.Vũ Thị Hòa
Long là địa điểm du lịch lý tưởng của Quảng Ninh cũng như miền bắc Việt
Nam.
1.2.1 Lịch sử hình thành
Có thể khẳng định rằng, trang sử đá Hạ Long là hình ảnh sinh động nhất về lịch
sử địa chất của khu vực, nó ghi lại quá trình hình thành, vận động kiến tạo của
vỏ trái đất cách ngày nay 250- 270 triệu năm. Cuộc chuyển động uốn nếp
Caledonie và thuộc điệp Carbon thường và Permi tạo khu vực Đông Nam Á
thành đảo núi xen kẽ các trũng biển.Cách ngày nay 175 triệu năm cuộc vận
động tạo sơn Indossinias mạnh, nâng các trũng biển thành lục địa.Mặc dù vậy,
địa hình Vịnh Hạ Long về cơ bản vẫn không thay đổi cho tới ngày nay.Vì vậy,
Hạ Long không chỉ đẹp mà còn là bảo tàng địa chất quý giá, được gìn giữ ngoài
trời đã quá 250 triệu năm.
Bờ và trong lòng Vịnh Hạ Long chứa đựng nhiều hệ tầng trầm tích thành phần
cacbonat và lục nguyên với nhiều di tích cổ sinh vật dưới dạng hoá thạch, trong
đó có các ngành động thực vật đã bị biến mất trên trái đất. Đó là những trang sử
đá ghi lại những biến cố vĩ đại của quá trình địa chất và tiến hoá của sự sống.
Lịch sử địa chất lâu dài của Vịnh Hạ Long được biết ít nhất trên 500 triệu năm
với những hoàn cảnh cổ địa lý rất khác nhau, với nhiều lần tạo sơn – biến thoái,
sụt chìm - biển tiến. Khu vực Vịnh Hạ Long đã từng là biển sâu vỏo các kỷ
Odovic – Silua ( khoảng 500 – 410 triệu năm trước), là biển nông vào các kỷ
Carbon – Pecmi (khoảng 340 – 250 triệu năm trước), biển ven bờ vào cuối kỷ
Paleogen - đầu kỷ Neogen (khoảng 26- 20 triệu năm trước) và trải qua một số
lần biển tiến trong kỷ Nhân Sinh (khoảng 2 triệu năm qua).
Xen kẽ với các thời kỳ biển tồn tại là các thời kỳ lục địa.Vịnh Hạ Long đã trải
qua những thời kỳ cổ địa lý rất đặc biệt. Kỷ Carbon (khoảng 340 – 285 triệu
năm trước) là thời gian nóng ẩm của trái đất, phát triển môi trường đầm lầy thực
vật thuận lợi cho hình thành các bể than khổng lồ ở Châu Âu thì ở Vịnh Hạ
Long lại là vùng biển nông, khí hậu khô nóng để hình thành nên tầng đá vôi
dày. Trái lại, vào kỷ Trias (khoảng 240- 195 triệu năm trước) khi trái đất nói
chung, Châu Âu nói riêng có khí hậu khô nóng thì khu vực Vịnh Hạ Long là
những đầm lầy ẩm ướt với những cánh rừng tuế, dương xỉ khổng lồ tích tụ
nhiều thế hệ.
Vịnh Hạ Long còn là mẫu hình tuyệt vời về cấu trúc địa chất Karst trưởng thành
trong điều kiện nhiệt đới ẩm, trải qua trên 20 triệu năm nhờ sự kết hợp đồng
thời giữa các yếu tố như tầng đá vôi rất dày, khí hậu nóng ẩm và quá trình nâng
8
Phạm Thị Thanh Hoa - 1054010014
Giáo viên hướng dẫn: TS.Vũ Thị Hòa
kiến tạo chậm chạp trên tổng thể. Vịnh Hạ Long là một trong số 29 vịnh được
Câu lạc bộ những vịnh đẹp nhất thế giới xếp hạng và chính thức công nhận vào
tháng 7 năm 2003.
1.2.2 Tài nguyên du lịch tự nhiên trên Vịnh Hạ Long
• Vị trí địa lý
Vịnh Hạ Long là vùng biển đảo nằm ở phía đông bắc Việt Nam, thuộc địa phận
Quảng Ninh có toạ độ từ 106°56’ đến 107°37’ kinh độ đông và 20°43’ đến
21°09’ vĩ độ bắc. Phía Tây và Tây Bắc Vịnh Hạ Long kéo dài từ huyện Yên
Hưng qua thành phố Hạ Long, thị xã Cẩm Phả đến hết phần biển đảo huyện Vân
Đồn; phía Đông Nam và phía Nam giáp Vịnh Bắc Bộ, phía Tây Nam và Tây
giáp đảo Cát Bà ( TP Hải Phòng), phía Bắc giáp Trung Quốc, phía Đông tiếp
giáp với Biển Đông.
Vịnh Hạ Long là một phần của đại lục Châu Á bị chìm xuống biển nơi sâu nhất
không quá 200m, với diện tích 1500 km², có 1600 đảo lớn nhỏ, trong đó có gần
1000 đảo có tên.
• Địa hình
Địa hình Hạ Long với hệ thống hang động là một kiểu đặc sắc của địa hình
Karst với những đảo núi xen kẽ giữa các trũng biển, là vùng bằng cát mặn có sú
vẹt mọc và những đảo đá vôi vách đứng. Chúng ta có thể hoàn toàn tìm thấy ở
Hạ Long những dạng địa hình rất độc đáo và có vai trò lớn đó là:
Dạng địa hình đá vôi: được hình thành cách đây 250 đến 280 triệu năm, qua quá
trình vận động tạo sơn của vỏ trái đất là phần rỡa của đại lục Châu Á chìm
xuống mặt Vịnh rộng khoảng 1500km², có hàng ngàn đảo đá và hang động kỳ
diệu. Một phần diện tích đáng kể của đảo là núi, các đảo nhỏ ngoài khơi có
ngọn cao tới 150m đến 200m, chủ yếu các đảo cấu tạo bằng đá phiến tựa những
chiếc mộc bản chạy song song với các rặng núi trong đất liền.
Địa hình bờ bãi biển: Đặc trưng địa hình là sườn thoải, cát trắng, nước biển
trong xanh. Trong đó có những biển đẹp đã được đưa vào khai thác phục vụ cho
hoạt động du lịch như: Bãi Cháy. Ti Tốp, Quan Lạn, Ba Trái Đào… với nhiệt
độ trung bình 25°c rất lý tưởng.
9
Phạm Thị Thanh Hoa - 1054010014
Giáo viên hướng dẫn: TS.Vũ Thị Hòa
• Khí hậu
Khí hậu của Hạ Long nói riêng và Quảng Ninh nói chung có khí hậu tiêu biểu
của các tỉnh miền Bắc Việt Nam, mang tính chất nhiệt đới ẩm. Một năm có bốn
mùa: xuân, hạ, thu, đông. Đây là vùng biển nhiệt đới gió mùa.Mùa hạ nóng ẩm
mưa nhiều gió thình hành là gió nam.Mùa đông lạnh, khô hanh và ít mưa, gió
thịnh hành là gió đông bắc. Nhiệt độ trung bình từ 15 - 25oc, độ ẩm trung bình
hàng năm là 84%, lượng mưa hàng năm lên tới 2000-2200mm/năm, số ngày
mưa trung bình là 90 – 170 ngày. Vịnh Hạ Long có chế độ nhật triều thuần nhất
điển hình (biên độ triều từ 3, 5 – 4,0m. Độ mặn của nước biển từ 31-34, 5MT,
mùa mưa thấp hơn.
Bảng 1: Những thay đổi nhiệt độ trung bình của Vịnh Hạ Long
Tháng 3 - 4 5 - 8 9 - 10 11 - 12
Nhiệt độ TB 14 – 22
o
25 – 30
o
20 – 25
o
12 – 19
o
Vịnh Hạ Long được che chắn bởi ba phía cùng với địa hình đáy biển tương đối
bằng phẳng nên đây là vùng vịnh khá tĩnh, tần xuất lặn sóng chiếm khoảng 80 –
84%. Nhìn chung khí hậu Hạ Long khá thuận lợi cho hoạt động du lịch đặc biệt
từ tháng 4 đến tháng 11, đây là thời kỳ gió mùa nồm nam rất thuận lợi cho loại
hình du lịch biển.
• Thủy văn
Trong khu vực của Vịnh Hạ Long, lượng nước song với phù sa đổ vào biển hầu
như không có nên nước biển thường trong, có độ mặn cao, đáy cát mịn. Có thể
nói hiếm có nơi nào mặt nước lại trong xanh và đẹp tĩnh lặng như Hạ Long.
Thuỷ triều Hạ Long có chế độ nhật triều đối với biên độ lớn từ 4 – 4,5m là hiện
tượng hiếm thấy trên thế giới, tạo ra những thay đổi lớn trong ngày về diện mạo
và cảnh quan bờ, đảo. Việc lợi dụng con nước triều có thể đưa khách đi thăm
những nơi đẹp, huyền bí của Vịnh. Việc nắm vững quy luật thủy triều có thể tạo
ra những cơ hội cho hoạt động du lịch biển như: du thuyền, lướt ván, lặn biển,
tham quan đánh bắt cá của làng chài và vãn cảnh biển.
• Tài nguyên động – thực vật
Các kết quả nghiên cứu cho thấy Vịnh Hạ Long có đầy đủ các hệ sinh thái của
vùng biển nhiệt đới như: hệ sinh thái rừng ngập mặn, hệ sinh thái rạn san hô, hệ
10
Phạm Thị Thanh Hoa - 1054010014
Giáo viên hướng dẫn: TS.Vũ Thị Hòa
sinh thái cỏ biển, hệ sinh thái rừng nhiệt đới và đặc biệt là hệ sinh thái tùng áng
đặc thù. Vịnh Hạ Long có khoảng 163 rặng san hô, thuộc 44 chi và 12 họ,
thường tập trung ở độ sâu 5-10m. Độ che phủ rạn san hô trung bình 30% nhưng
cũng có nơi lên đến 70-80% như khu vực Cống Đỏ, Bọ Hung… Rừng san hô
Vịnh Hạ Long thực sự là một cảnh sắc tuyệt đẹp, san hô dạng cảnh như san hô
cây, san hô đĩa, san hô cục… với nhiều sắc trắng lam, hồng, đỏ… Rừng san hô
đồng thời là nơi cư trú của nhiều loài sinh vật như cá 107 loài, rong, tảo, động
vật phù du, thực vật phù du… trong đó có nhiều loài cá cảnh rất đẹp. Hệ sinh
thái rừng ngập mặn tập trung chủ yếu ở khu vực Tuần Châu, Cửa Lục, Ba Chẽ
và rải rác ven bờ. Hệ sinh thái vùng nhiệt đới với số lượng loài rất phong phú
như đinh, hương, sến, táu, vàn hương phần lớn trên các đảo. Đây cũng chính là
nơi sinh sống của rất nhiều loài động vật hoang dã quý hiếm như: hươu, chồn,
sóc,… đặc biệt là khỉ khoang trắng và khỉ long đỏ cùng nhiều loài khác. Ngoài
ra, Vịnh Hạ Long còn có hệ sinh thái tùng áng nhỏ ăn thông với biển Đông, là
nơi cư trú sinh sống và phát triển của vô số loài sinh vật và thực vật như: cò
biển, rong, tảo, cá tôm,… Ngoài xa khơi là nơi cư ngụ của các loài tôm, cá,
mực, bào ngư, hải sản với số lượng đánh bắt hàng năm lên tới hàng nghìn tấn.
1.2.3 Các cảnh quan nổi tiếng của Vịnh Hạ Long
Vùng di sản trên vịnh Hạ Long được thế giới công nhận (vùng lõi) có diện tích
434 km², như một hình tam giác với ba đỉnh là đảo Đầu Gỗ (phía Tây), hồ Ba
Hầm (phía Nam) và đảo Cống Tây (phía Đông), bao gồm 775 đảo với nhiều
hang động, bãi tắm. Vùng kế bên (vùng đệm), là di tích danh thắng quốc gia đã
được bộ Văn hóa Thông tin Việt Nam xếp hạng từ năm 1962.
Khu vực biển, đảo
Các đảo ở vịnh Hạ Long có hai dạng là đảo đá vôi và đảo phiến thạch, tập trung
ở hai vùng chính là vùng phía Đông Nam Vịnh Bái Tử Long và vùng phía Tây
Nam vịnh Hạ Long. Theo thống kê của ban quản lý vịnh Hạ Long, trong tổng số
1.969 đảo của vịnh Hạ Long có đến 1.921 đảo đá với nhiều đảo có độ cao
khoảng 200m.
Các đảo trên vịnh Hạ Long có những hình thù riêng, không giống bất kỳ hòn
đảo nào ven biển Việt Nam và không đảo nào giống đảo nào. Đảo thì giống
khuôn mặt ai đó đang hướng về đất liền (hòn Đầu Người); đảo thì lại giống như
một ông lão đang ngồi câu cá (hòn Lã Vọng); phía xa là hai cánh buồm nâu
đang rẽ sóng nước ra khơi (hòn Cánh Buồm); rồi hai con gà đang âu yếm vờn
nhau trên sóng nước (hòn Trống Mái); đảo lại có hình tròn cao khoảng 40m
11
Phạm Thị Thanh Hoa - 1054010014
Giáo viên hướng dẫn: TS.Vũ Thị Hòa
trông như chiếc đũa phơi mình trước thiên nhiên (hòn Đũa), mà nhìn từ hướng
khác lại giống như vị quan triều đình áo xanh, mũ cánh chuồn, nên dân chài còn
gọi là hòn Ông v.v.
Bên cạnh các đảo được đặt tên căn cứ vào hình dáng, là các đảo đặt tên theo sự
tích dân gian (núi Bài Thơ, hang Trinh Nữ, đảo Tuần Châu), hoặc căn cứ vào
các đặc sản có trên đảo hay vùng biển quanh đảo (hòn Ngọc Vừng, hòn Kiến
Vàng, đảo Khỉ v.v.). Dưới đây là một vài hòn đảo nổi tiếng:
- Hòn Con Cóc: nằm cách cảng tàu du lịch Bãi Cháy khoảng 12 km về phía
Đông Nam, trên vùng vịnh Hạ Long. Đây là hòn núi đá rất đẹp có góc nghiêng
và hình dáng như một con cóc ngồi xổm giữa biển nước, cao khoảng 9m.
- Hòn Gà Chọi: là một trong những hòn đảo nổi tiếng trên vịnh Hạ Long, hòn
Gà Chọi (hay đôi khi gọi là Hòn Trống Mái) nằm gần hòn Đỉnh Hương ở phía
Tây Nam của Vịnh, cách cảng tàu du lịch Bãi Cháy khoảng 5 km. Đây là cụm
gồm 2 đảo có hình thù giống như một đôi gà, một trống một mái, có chiều cao
khoảng hơn 10m với chân thót lại ở tư thế rất chênh vênh.
- Đảo Ngọc Vừng: nằm cách cảng tàu du lịch khoảng 34 km, thuộc huyện Vân
Đồn, tỉnh Quảng Ninh, có đặc điểm là một trong số ít đảo đất trên vùng vịnh Hạ
Long. Xung quanh đảo có nhiều bãi biển đẹp, có núi Vạn Xuân cao 182m và có
di chỉ khảo cổ thuộc văn hoá Hạ Long rộng 45.000m².Đảo Ngọc Vừng rộng 12
km², có người ở, có bến cảng cổ Cống Yên thuộc hệ thống thương cảng cổ Vân
Ðồn từ thế kỷ 11, và có di tích thành cổ nhà Mạc, thành nhà Nguyễn. Phía đông
của đảo có bãi cát dài tới hàng kilômét với cát trắng trải ra tới tận bến tàu.
- Đảo Ti Tốp: nằm trên khu vực vịnh Hạ Long cách Bãi Cháy chừng 14 km về
phía Đông. Đảo Ti Tốp có bờ dốc đứng và bãi cát trắng phẳng hình vầng trăng
nằm dưới chân.
- Đảo Tuần Châu: là một đảo đất rộng khoảng 3 km². Từ năm 2001, một con
đường lớn đã được xây dựng nối đảo với đất liền. Một tổ hợp dịch vụ vui chơi,
giải trí, quần thể khách sạn, nhà hàng và bãi tắm sang trọng được xây dựng, đưa
vào phục vụ góp phần làm thay đổi bộ mặt của Hạ Long từ năm du lịch 2003 tới
nay.
• Hang động
Những hang động tại Hạ Long, theo các nhà thám hiểm địa chất người Pháp,
khi nghiên cứu về vịnh Hạ Long đầu thế kỷ 20, khẳng định rằng hầu hết trong
12
Phạm Thị Thanh Hoa - 1054010014
Giáo viên hướng dẫn: TS.Vũ Thị Hòa
số chúng đều được kiến tạo trong thế Pleistocen kéo dài từ 2 triệu đến 11 ngàn
năm trước, nằm trong 3 nhóm hang ngầm cổ, hang nền carxtơ và các hàm ếch
biển.
- Hang Sửng Sốt: hay động Sửng Sốt nằm trên đảo Bồ Hòn ở trung tâm vịnh
Hạ Long. Ðây là một hang động rộng và đẹp vào bậc nhất của vịnh Hạ Long. Vị
trí và diện tích: Hang Sửng Sốt là một hang dạng ống, nằm ở độ cao 25m so với
mực nước biển hiện tại. Diện tích khoảng 10.000m2, chiều dài hơn 200m, chỗ
rộng nhất 80m, khoảng cách lớn nhất từ nền tới trần hang xấp xỉ 20m. Hang
được chia thành 2 ngăn chính. Năm 1999, Ban Quản lý Vịnh Hạ Long đã đầu tư
tôn tạo Hang Sửng Sốt. Hệ thống đường đi, ánh sáng để du khách có thể quan
sát và cảm nhận được vẻ đẹp của những khối nhũ, măng đá trong lòng
hang.Ánh sáng được thiết kế phù hợp với kiến trúc hang đồng thời hài hoà với
ánh sáng tự nhiên từ phía cửa hang.
- Động Thiên Cung: Hang Đầu Gỗ và động Thiên Cung cách nhau chừng
100m, được thông nhau bằng những lối đi quanh co, uốn lượn dưới tán lá
rừng.Động Thiên Cung nằm ở lưng chừng đảo Canh Độc, ở độ cao 25m so với
mực nước biển. Lòng động mở ra không gian có tiết diện hình tứ giác với chiều
dài hơn 130 mét, với những măng đá như một đền đài mỹ lệ. Vách động cao và
thẳng đứng được bao bọc bởi những nhũ đá và trên mỗi vách động ấy thiên
nhiên đã khảm nhiều hình thù kỳ lạ, hấp dẫn người xem. Cửa động nhỏ hẹp
được giấu kín trong lòng núi nhưng càng đi vào bên trong, lòng động càng mở
lớn và rộng, dẫn dắt người xem đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác.
- Hang Đầu Gỗ: hiện các nhà khảo cổ tìm thấy rất nhiều khúc gỗ và mẩu gỗ vụn
còn sót lại trong động. Nếu động Thiên Cung hoành tráng khoẻ khoắn, hiện đại
thì hang Ðầu Gỗ trầm mặc uy nghi nhưng cũng rất đồ sộ. Cửa hang Đầu Gỗ ở
lưng chừng vách núi và trong lòng hang được chia thành 3 ngăn chính. Ngăn
phía ngoài hình vòm cuốn tràn ánh sáng tự nhiên, với trần hang như một bức
tranh khổng lồ. Phía dưới là rừng măng đá, nhũ đá nhiều màu với nhiều hình thù
tùy theo trí tưởng tượng của từng người. Chính giữa lòng hang là một cột trụ đá
khổng lồ hàng chục người ôm, từ phía dưới chân cột lên trên là những hình mây
bay, long phi phượng vũ, hoa lá, dây leo.
- Một số hang động khác: Ngoài các hang động trên, du khách còn tham quan
hàng chục hang động đẹp và quyến rũ khác như hang Bồ Nâu có cửa uốn vòng
cung với nhũ đá buông xuống mềm mại như cành liễu; hang Hanh cách thành
phố Cẩm Phả 9 km về phía tây, là một hang động đẹp và dài nhất so với các
13
Phạm Thị Thanh Hoa - 1054010014
Giáo viên hướng dẫn: TS.Vũ Thị Hòa
hang động hiện có trên vịnh Hạ Long, với chiều dài 1.300m chạy xuyên suốt
dãy núi đá Quang Hanh ra tới biển; hang Trinh Nữ với tảng đá hình cô gái đứng
xõa mái tóc dài hướng ra biển, và đối diện với nó là hang Trống (hay hang Con
Trai) với bức tượng chàng trai hóa đá quay mặt hướng về phía hang Trinh Nữ;
rồi hang Tiên Long, Ba Hang, hang Luồn, động Tiên Ông, động Tam Cung,
động Lâu Đài, Ba Hầm v.v. Báo cáo của ban quản lý vịnh Hạ Long cho biết
hiện nay vẫn chưa thể thống kê hết được tất cả hang động trên 1.969 đảo.
1.2.4 Một số thành tựu của Vịnh Hạ Long
- Di sản quốc gia Việt Nam
Năm 1962, vịnh Hạ Long được Bộ Văn hóa-Thông tin Việt Nam xếp hạng di
tích danh thắng cấp quốc gia với diện tích 1553 km² bao gồm 1969 hòn đảo.
Các đảo trong vùng vịnh Hạ Long được quy hoạch là khu bảo tồn các di tích
văn hoá-lịch sử và cảnh quan quốc gia, theo Quyết định Số 313/VH-VP của Bộ
Văn hoá-Thông tin Việt Nam ngày 28 tháng 4 năm 1962 (ADB 1999). Các đảo
này cũng có trong danh sách các khu rừng đặc dụng theo Quyết định Số
194/CT, ngày 9 tháng 8 năm 1986 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ
tướng Chính Phủ).
Năm 1995, vịnh Hạ Long, cùng với đảo Cát Bà, được Phân viện Hải dương học
Hải Phòng đề nghị đưa vào danh sách hệ thống các khu bảo tồn biển.
Năm 1999, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB 1999) đề xuất thành lập một khu
bảo vệ có tên là Khu cảnh quan thiên nhiên vịnh Hạ Long rộng 155.300 ha, tuy
nhiên hiện nay vẫn chưa thực hiện được.
- Di sản thế giới lần 1: giá trị thẩm mỹ
Ngày 21 tháng 12 năm 1991 Chính phủ Việt Nam cho phép xây dựng hồ sơ về
cảnh quan vịnh Hạ Long để trình Hội đồng Di sản Thế giới xét duyệt di sản
thiên nhiên thế giới.Năm 1993, hồ sơ khoa học về vịnh Hạ Long được hoàn tất
và chuyển đến UNESCO để xem xét. Ngày 17 tháng 12 năm 1994, trong kỳ họp
thứ 18 tại Phuket, Thái Lan, Ủy ban Di sản Thế giới đã công nhận vịnh Hạ
Long vào danh mục di sản thiên nhiên thế giới với giá trị ngoại hạng toàn cầu
về mặt thẩm mĩ (tiêu chí vii), theo tiêu chuẩn của Công ước Quốc tế về bảo vệ
Di sản tự nhiên và văn hóa của thế giới.
- Di sản thế giới lần 2: giá trị địa chất địa mạo
14
Phạm Thị Thanh Hoa - 1054010014

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét